Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 39/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 39/2025/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 39/2025/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 39/2025/DS-ST ngày 26/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 39/2025/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 26/09/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ngân hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N thanh toán khoản tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và xử lý tài sản thế chấp. Thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn cư trú tại phường Y, thành phố H2. Do vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

``0TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
Bản án số: 39/2025/DS-ST.
Ngày: 26-9-2025
“V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng và
Hợp đồng thế chấp tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Diệu Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Khỏe, ông Đinh Ngọc Phú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân
khu vực 8 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng tham gia
phiên tòa: Bà Tiêu Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải
Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 98/2025/TLST-DS
ngày 26 tháng 6 năm 2025 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-DS ngày 21
tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST-DS ngày 09
tháng 9 năm 2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V).
Địa chỉ trụ sở: Tầng 1 (tầng trệt) và Tầng 2, Tòa nhà S, Phường S1, TP. Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V1 - Tổng giám đốc.
Người được ông Hàn Ngọc V1 ủy quyền: Ông Nguyễn Đình T - Giám đốc
Khối Mạng lưới Kinh doanh Ngân hàng bán lẻ (theo Quyết định số 226382.24
ngày 23/10/2024).
Người được ông Nguyễn Đình T ủy quyền: Ông Đỗ Ngọc D - Giám đốc
Thu hồi nợ Trực tiếp và Xử lý nợ vùng. Đơn vị: Vùng Đông Bắc, Khối Mạng
lưới Kinh doanh Ngân hàng Bán lẻ (theo Giấy ủy quyền số 263258.24 ngày
01/12/2024).
Người được ông Đỗ Ngọc D ủy quyền lại: Ông Dương Lê H, ông Nguyễn
Đức H1, ông Vũ Văn T1, ông Đặng Anh T2 - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q. Địa
2
chỉ: Tầng 3, số 51 T3, phường L, thành phố Hải Phòng (theo Giấy ủy quyền v/v
nộp đơn khởi kiện và tham gia tố tụng số 104485.25 ngày 21/04/2025).
Ông Dương Lê H có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quách H, sinh năm 1978 và bà Ngô Thị Thanh
N, sinh năm 1980.
Đều đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại khu X, phường Y, thành phố
H2, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố X, phường Y, thành phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Ngô Thị Thanh N: ông Nguyễn
Quách H, sinh năm 1978. Trú tại tổ dân phố X, phường Y, thành phố Hải Phòng
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo
ủy quyền cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Q (viết tắt: V) trình
bày:
V (bên cho vay) và vợ chồng ông Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N
(bên vay) đã ký kết 03 Hợp đồng tín dụng, cụ thể:
Hợp đồng tín dụng số 8094499.21, V và ông Nguyễn Quách H, bà Ngô
Thị Thanh N ký ngày 29/10/2021 với nội dung thỏa thuận:
Số tiền vay 480.000.000đ (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi triệu đồng); Mục
đích giải ngân: Đáp ứng nhu cầu Vay mua ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander;
Biển số: 34A-501.85; Mục đích tiêu dùng; Thời hạn vay 96 tháng từ ngày
30/10/2021 đến ngày 29/10/2029. Các kỳ trả nợ, lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất
quy định cụ thể trong hợp đồng và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ
số 2233958.21 ngày 29/10/2021.
Hợp đồng tín dụng số 4963880.21, V và ông Nguyễn Quách H, bà Ngô
Thị Thanh N ký ngày 23/12/2021 với nội dung thỏa thuận:
Số tiền vay 1.000.000.000đ (Bằng chữ: Một tỷ đồng); Mục đích giải ngân:
Đáp ứng nhu cầu sửa chữa nhà không làm thay đổi kết cấu và cấu trúc ngôi nhà
và mua sắm trang thiết bị gia đình tại địa chỉ: Khu X, phường Y, thành phố H2,
tỉnh Hải Dương; Thời hạn vay 180 tháng từ ngày 28/12/2021 đến ngày
27/12/2036. Các kỳ trả nợ, lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất quy định cụ thể trong
hợp đồng và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4963880(1).21
ngày 27/12/2021.
Hợp đồng tín dụng số 4737183.22, V và ông Nguyễn Quách H, bà Ngô
Thị Thanh N ký ngày 21/07/2022 với nội dung thỏa thuận:
Số tiền vay 450.000.000đ (Bằng chữ: Bốn trăm năm mươi triệu đồng);
Mục đích giải ngân: Đáp ứng nhu cầu sửa chữa nhà ở (không làm thay đổi kết
cấu) và mua sắm vật dụng gia đình tại địa chỉ: X, phường Y, thành phố H2, tỉnh

3
Hải Dương. Thời hạn vay 180 tháng từ ngày 02/08/2022 đến ngày 01/08/2037.
Các kỳ trả nợ, lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất quy định cụ thể trong hợp đồng và
theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4737183(1).22 ngày
01/08/2022.
Vào ngày ký các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ, V đã giải
ngân số tiền vay theo thỏa thuận cho ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh
N.
Tài sản thế chấp cho các khoản vay nêu trên gồm:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 74, tờ bản đồ
số 56, diện tích sử dụng theo hiện trạng hiện nay là 408,4m
2
; địa chỉ: Khu X,
Phường Y, thành phố H2, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố X, phường Y, thành
phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất số DD 189461, Số vào sổ cấp GCN: CH-00149 do:
UBND thành phố H2, tỉnh Hải Dương cấp ngày 05/11/2021 mang tên Nguyễn
Quách H và bà Ngô Thị Thanh N theo Hợp đồng thế chấp số 7034579.21, số
công chứng: 6522/2021/HĐTC, Quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD ngày
23/12/2021.
Và xe ô tô nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: XPANDER, biển kiểm soát:
34A - 501.85, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 34 012113 do Phòng Cảnh sát
giao thông - Công an tỉnh Hải Dương cấp ngày 27/10/2021 cho ông Nguyễn
Quách H, theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1248087.21 ngày
29/10/2021.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh
N đã trả V cụ thể:
Nợ gốc: 190.000.000đ, lãi trong hạn: 159.220.043đ của khoản vay theo
Hợp đồng tín dụng số 8094499.21 ngày 29/10/2021.
Nợ gốc: 204.929.290đ, lãi trong hạn: 359.076.035đ của khoản vay theo
Hợp đồng tín dụng số 4963880.21 ngày 23/12/2021.
Nợ gốc: 70.000.000đ, lãi trong hạn: 138.017.954đ của khoản vay theo Hợp
đồng tín dụng số 4737183.22 ngày 21/07/2022.
Đến ngày 10/01/2025, ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N đã để
phát sinh nợ quá hạn. V đã nhiều lần nhắc nợ đến hạn thanh toán nhưng đến nay
ông H, bà N vẫn không thanh toán nợ vay cho V. Vì vậy, ông H, bà N đã vi phạm
cam kết, nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận trong các Hợp đồng tín dụng/Đơn đề
nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ và các cam kết đã ký kết với V.
Đến nay, V giữ nguyên quan điểm khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như
sau:
4
Buộc ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N có nghĩa vụ thanh
toán cho Ngân hàng V tổng số nợ tạm tính đến ngày 26/9/2025 là:
1.663.105.677đ bao gồm: Nợ gốc: 1.465.070.710đ; Lãi trong hạn: 88.023.803đ;
Lãi quá hạn: 110.011.164đ.
Trong đó:
Nợ gốc 290.000.000đ; Lãi trong hạn: 18.034.932đ; Lãi quá hạn:
23.986.427đ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 8094499.21 ngày 29/10/2021.
Nợ gốc: 795.070.710đ; Lãi trong hạn: 47.382.515đ; Lãi quá hạn:
59.160.961đ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4963880.21 ngày 27/12/2021.
Nợ gốc: 380.000.000đ; Lãi trong hạn: 22.606.356đ; Lãi quá hạn:
26.863.776đ theo Hợp đồng tín dụng số 4737183.22 ngày 21/07/2022.
Kể từ ngày 27/9/2025, ông H, bà N phải tiếp tục chịu tiền lãi, phí phát sinh
đối với khoản vay theo các Hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế
ước nhận nợ đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ cho V.
Trong trường hợp ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V, đề nghị Tòa án
tuyên V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại
các tài sản thế chấp. Đồng thời, V được quyền yêu cầu phát mại đối với diện tích
đất theo hiện trạng sử dụng.
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án bị đơn trình bày:
Ông Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N thống nhất nội dung ký kết
các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, số tiền vay được giải ngân, quá trình
thực hiện hợp đồng và quá hạn nợ như người đại diện của V trình bày. Việc thế
chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Tài sản
thế chấp vẫn còn nguyên hiện trạng, không tranh chấp với ai.
Ông Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N nhất trí với yêu cầu khởi
kiện của V. Tuy nhiên, ông H, bà N đề nghị V tạo điều kiện về thời gian để thu
xếp trả nợ vì kinh tế gia đình hết sức khó khăn.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và ý kiến của chính quyền địa phương
thể hiện: Diện tích thửa đất theo hiện trạng sử dụng là 408,4m
2
tăng lên so với
diện tích được công nhận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do UBND thành phố H2, tỉnh Hải Dương
cấp ngày 05/11/2021 mang tên Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N, theo
đại diện chính quyền địa phương cung cấp hiện trạng thửa đất đo vẽ chênh lệch là
do sai số đo đạc, ranh giới mốc giới thửa đất ổn định, không có tranh chấp giữa
các hộ liền kề.
Các đương sự đều nhất trí với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng phát biểu ý kiến:

5
Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết
tắt: HĐXX) đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS). Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại các
Điều 70, 72 của BLTTDS.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều
463, 466 Bộ luật Dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228
BLTTDS; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
Buộc ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N phải thực hiện nghĩa
vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q theo các Hợp đồng cho vay số:
8094499.21 ngày 29/10/2021; số 4963880.21 ngày 23/12/2021; số 4737183.22
ngày 21/7/2022 và các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
2233958.21 ngày 29/10/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
4963880(1).21 ngày 27/12/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số
4737183.22 ngày 21/07/2022.
Tổng dư nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2025 là 1.663.105.677đ, bao
gồm: Nợ gốc: 1.465.070.710đ; Lãi trong hạn: 88.023.803đ; Lãi quá hạn:
110.011.164đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quách H, bà
Ngô Thị Thanh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước
nhận nợ nêu trên cho đến ngày ông H, bà N thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân
hàng TMCP Q.
Về xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Nguyễn
Quách H, bà Ngô Thị Thanh N không thực hiện thanh toán toàn bộ số tiền gốc,
lãi đối với khoản vay trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ quan Thi
hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại các tài sản thế chấp sau theo
quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 74, tờ bản đồ số 56, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 408,4m
2
địa
chỉ: Khu X, Phường Y, thành phố H2, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố X,
phường Y, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 189461, Số vào sổ cấp GCN:
CH-00149 do: UBND thành phố H2, tỉnh Hải Dương cấp ngày 05/11/2021 mang
tên Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N (có sơ đồ đo vẽ kèm theo).

6
Và xe ô tô nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: XPANDER, biển kiểm soát:
34A - 501.85, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 34 012113 do Phòng cảnh sát
giao thông - Công an tỉnh Hải Dương cấp ngày 27/10/2021 cho ông Nguyễn
Quách H.
Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ phải trả cho
Ngân hàng TMCP Quốc tế thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho ông H, bà N. Nếu số
tiền bán tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Quốc tế thì
ông H, bà N phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu.
Về chi phí tố tụng, án phí: Ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N
phải chịu chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân
hàng TMCP Q khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N
thanh toán khoản tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết và xử lý tài sản
thế chấp. Thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn cư trú tại phường Y, thành phố H2. Do
vậy xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp
đồng thế chấp tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành
phố H2 theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39 BLTTDS. Kể từ ngày 01/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 8 -
Hải Phòng tiếp nhận nhiệm vụ của Tòa án nhân dân thành phố H2 tiếp tục giải
quyết vụ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-
HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS,
HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q:
[2.1]. Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài
sản: Lời khai của nguyên đơn, bị đơn phù hợp với các tài liệu được thu thập, xác
minh có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để xác định khi giao kết hợp
đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện. Nội dung,
hình thức của hợp đồng phù hợp với pháp luật, mục đích giao dịch không trái
pháp luật, đạo đức xã hội phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117, 280, 298,
299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 401 Bộ luật Dân sự; Điều 91, Điều
95 Luật các tổ chức tín dụng.
7
Xét thỏa thuận tại Điều 2 của 02 Hợp đồng thế chấp nêu trên thì tài sản thế
chấp được bảo đảm cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông H và bà N ở hiện tại
cũng như tương lai, đã phát sinh hoặc có thể phát sinh, các hợp đồng/thỏa thuận
cấp tín dụng ký kết giữa hai bên kể từ trước, trong, sau khi ký hợp đồng thế chấp.
Do đó các Hợp đồng tín dụng số: 8094499.21 ngày 29/10/2021, Hợp đồng
tín dụng số 4963880.21 ngày 23/12/2021, Hợp đồng tín dụng số 4737183.22
ngày 21/7/2022; Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1248087.21 ngày
29/10/2021; Hợp đồng thế chấp số 7034579.21 ngày 23/12/2021, số công chứng:
6522/2021/HĐTC, Quyển số: 01/TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công
chứng Bùi Văn Hản chứng nhận ngày 23/12/2021 đều phát sinh hiệu lực đối với
tất cả các bên tham gia vào hợp đồng.
Về số tiền nợ và nghĩa vụ trả nợ: Tại các Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế
ước nhận nợ số 2233958.21 ngày 29/10/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế
ước nhận nợ số 4963880(1).21 ngày 27/12/2021, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế
ước nhận nợ số 4737183.22 ngày 21/07/2022 thể hiện V giải ngân cho ông H, bà
N lần lượt số tiền 480.000.000đ, 1.000.000.000 đồng, 450.000.000đ. Ông
Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N đã trả V:
Nợ gốc: 190.000.000đ, lãi trong hạn: 159.220.043đ của khoản vay theo
Hợp đồng tín dụng số 8094499.21 ngày 29/10/2021.
Nợ gốc: 204.929.290đ, lãi trong hạn: 359.076.035đ của khoản vay theo
Hợp đồng tín dụng số 4963880.21 ngày 23/12/2021.
Nợ gốc: 70.000.000đ, lãi trong hạn: 138.017.954đ của khoản vay theo Hợp
đồng tín dụng số 4737183.22 ngày 21/07/2022.
Tính đến thời điểm xét xử ngày 26/9/2025, ông H và bà N còn phải thanh
toán cho V: tổng số nợ tạm tính là: 1.663.105.677đ bao gồm: Nợ
gốc: 1.465.070.710đ; Lãi trong hạn: 88.023.803đ; Lãi quá hạn: 110.011.164đ.
Trong đó:
Nợ gốc 290.000.000đ; Lãi trong hạn: 18.034.932đ; Lãi quá hạn:
23.986.427đ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 8094499.21 và Đơn đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2233958.21 cùng ngày 29/10/2021.
Nợ gốc: 795.070.710đ; Lãi trong hạn: 47.382.515đ; Lãi quá hạn:
59.160.961đ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 4963880.21 và Đơn đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4963880(1).21 cùng ngày 27/12/2021.
Nợ gốc: 380.000.000đ; Lãi trong hạn: 22.606.356đ; Lãi quá hạn:
26.863.776đ theo Hợp đồng tín dụng số 4737183.22 ngày 21/07/2022 và Đơn đề
nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4737183(1).22 ngày 01/08/2022.
Xét thấy, ông H và bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đối với V kể
từ ngày 10/01/2025 nên toàn bộ khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn và phải

8
chịu mức lãi suất quá hạn. Do đó, V khởi kiện yêu cầu ông H, bà N phải thực
hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ gốc và lãi nêu trên là có căn cứ, cần được
chấp nhận.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông H, bà N còn phải tiếp tục
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất mà các bên
thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận
nợ cho đến ngày ông H, bà N thực tế thanh toán hết nợ cho V.
[2.2]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Căn cứ kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đại diện chính quyền địa
phương cung cấp thể hiện: Diện tích thửa đất số 74, tờ bản đồ số 56, địa chỉ: Khu
X, Phường Y, thành phố H2, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố X, phường Y,
thành phố Hải Phòng theo hiện trạng sử dụng là 408,4m
2
; tăng 5,3 m
2
lên so với
diện tích được công nhận theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD 189461, Số vào sổ cấp GCN: CH-
00149 do: UBND thành phố H2, tỉnh Hải Dương cấp ngày 05/11/2021 mang tên
Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N, là do sai số đo đạc, ranh giới mốc giới
thửa đất ổn định, không có tranh chấp giữa các hộ liền kề. Các đương sự nhất trí
với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và đề nghị Tòa án trong trường hợp phải
phát mại tài sản thế chấp thì V được quyền yêu cầu phát mại đối với diện tích đất
theo hiện trạng sử dụng. Do đó, để đảm bảo thi hành án, HĐXX chấp nhận yêu
cầu của V trong trường hợp ông H, bà N không tất toán được khoản vay thì V có
quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 74 nêu trên được giới hạn bởi các
điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12, A13, A14, A15,
A16, A17, A18, A19 đến A1 (Toàn bộ hiện trạng nhà đất có sơ đồ đo vẽ kèm
theo) và xe ô tô nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: XPANDER, biển kiểm soát:
34A - 501.85, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 34 012113 do Phòng cảnh sát
giao thông - Công an tỉnh Hải Dương cấp ngày 27/10/2021 cho ông Nguyễn
Quách H.
Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ phải trả cho V
thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho bên thế chấp. Nếu số tiền bán tài sản thế chấp
không đủ để trả nợ cho V thì ông H, bà N phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu.
[3] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu của V được chấp nhận nên H, bà N phải
chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 5.600.000 đồng. Chi phí xem xét,
thẩm định tại chỗ đã được V nộp tạm ứng nên buộc ông H, bà N phải hoàn trả
cho V số tiền 5.600.000 đồng nêu trên.

9
[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của V được chấp nhận nên không phải
chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông
H, bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 116, 117, 280, 298, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321,
322, 323, 401 Bộ luật Dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 3
Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều
227, khoản 3 Điều 228, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 271, Điều 273 Bộ
luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày
27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Luật phí và lệ phí;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
Buộc ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N phải thực hiện nghĩa vụ
thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q theo Hợp đồng tín dụng số: 8094499.21 và
Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 2233958.21 cùng ngày
29/10/2021; Hợp đồng tín dụng số 4963880.21 ngày 23/12/2021 và Đơn đề nghị
giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 4963880(1).21 ngày 27/12/2021; Hợp đồng
tín dụng số 4737183.22 ngày 21/7/2022 Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước
nhận nợ số 4737183(1).22 ngày 01/8/2022.
Tổng dư nợ gốc và lãi tính đến ngày 26/9/2025 là: 1.663.105.677đ (Một tỷ
sáu trăm sáu mươi ba triệu một trăm linh năm nghìn sáu trăm bảy mươi bảy
đồng) bao gồm: Nợ gốc: 1.465.070.710đ (Một tỷ bốn trăm sáu mươi lăm triệu
không trăm bảy mươi nghìn bảy trăm mười đồng); Lãi trong hạn: 88.023.803đ
(Tám mươi tám triệu không trăm hai mươi nghìn tám trăm linh ba đồng); Lãi quá
hạn: 110.011.164đ (Một trăm mười triệu không trăm mười một nghìn một trăm
sáu mươi tư đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Nguyễn Quách H, bà
Ngô Thị Thanh N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước
nhận nợ nêu trên cho đến ngày ông H, bà N thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân
hàng TMCP Q.
2. Về xử lý tài sản thế chấp: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông
Nguyễn Quách H, bà Ngô Thị Thanh N không thực hiện thanh toán toàn bộ số
tiền gốc, lãi đối với khoản vay trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Cơ

10
quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành phát mại các tài sản thế chấp
sau theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ.
Tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại
thửa đất số 74, tờ bản đồ số 56, diện tích theo hiện trạng sử dụng là 408,4m
2
được
giới hạn bởi các điểm A1, A2, A3, A4, A5, A6, A7, A8, A9, A10, A11, A12,
A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19 đến A1, địa chỉ: Khu X, phường Y, thành
phố H2, tỉnh Hải Dương nay là tổ dân phố X, phường Y, thành phố Hải Phòng
theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn
liền với đất số DD 189461, Số vào sổ cấp GCN: CH-00149 do: UBND thành phố
H2, tỉnh Hải Dương cấp ngày 05/11/2021 mang tên Nguyễn Quách H và bà Ngô
Thị Thanh N (Có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
Và xe ô tô nhãn hiệu: MITSUBISHI, số loại: XPANDER, biển kiểm soát:
34A - 501.85, Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 34 012113 do Phòng cảnh sát
giao thông - Công an tỉnh Hải Dương cấp ngày 27/10/2021 cho ông Nguyễn
Quách H.
Trường hợp số tiền bán tài sản thế chấp lớn hơn khoản nợ phải trả cho
Ngân hàng TMCP Quốc tế thì phần chênh lệch sẽ trả lại cho ông H, bà N. Nếu số
tiền bán tài sản thế chấp không đủ để trả nợ cho Ngân hàng TMCP Quốc tế thì
ông H, bà N phải tiếp tục thanh toán phần còn thiếu.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N có
trách nhiệm hoàn trả Ngân hàng TMCP Q số tiền 5.600.000 đồng chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ.
4. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Quách H và bà Ngô Thị Thanh N phải
chịu 61.893.170 đồng (làm tròn) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng
TMCP Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp (do ông Dương Lê Hoàng nộp thay) là
29.077.000 đồng theo Biên lai thu số 0003434 ngày 23/6/2025 tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố H2, tỉnh Hải Dương nay là Phòng Thi hành án dân sự
khu vực 8 - Hải Phòng.
5. Về quyền kháng cáo: Người đại diện của nguyên đơn có mặt tại phiên
tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm. Bị đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án
hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án
11
dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND khu vực 8 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 8 - Hải Phòng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Diệu Linh
12
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 27/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 26/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 19/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 15/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 13/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 08/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm