Bản án số 932/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 932/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 932/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 932/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Ngọc Y - Phạm Văn H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 932/2026/DS-PT Bản án số 932/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 932/2026/DS-PT Bản án số 932/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 932/2026/DS-PT
Ngày: 21-7-2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu trả
bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, trả vàng nhận chuyển
nhượng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Các Thẩm phán: bà Trịnh Thị Phúc
ông Nguyễn Quốc Tuấn
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Mỹ Linh Thẩm tra viên Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông
Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 423/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu
trả bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất, trả vàng nhận chuyển nhượng
đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 77/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7-Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 462/2026/QĐ-PT ngày 17 tháng 6
năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Huỳnh Ngọc Y, sinh năm 1967; địa chỉ: E Ấp E, 6 đường
T, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn: ông Huỳnh Bửu S, sinh năm
1988; địa chỉ: số H Hồ N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: ông Phạm Văn H, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp A, P, tỉnh Tây
Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn: Phạm Thị Thanh T, sinh năm
2000; địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Tây Ninh.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1974; địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Tây Ninh.
2. Ông Phạm Hồng D, sinh năm 1968;
3. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã P, tỉnh Tây Ninh.
- Người kháng cáo: bị đơn, ông Phạm Văn H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các đơn khởi kiện ghi ngày 04/4/2023, ngày 26/12/2025 trong quá
trình giải quyết vụ án tại cấp thẩm, nguyên đơn Huỳnh Ngọc Y người đại
diện theo ủy quyền là ông Huỳnh Bửu S thống nhất trình bày:
Huỳnh Ngọc H1 ông Phạm Văn H trước đây vợ chồng. Huỳnh
Ngọc Y là chị ruột của bà H1.
Vào năm 2008, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ chồng ông H, bà H1
thỏa thuận chuyển nhượng cho Y một công nhỏ đất (tương ứng 625m
2
) đ
tiền sửa nhà. Bà Y đồng ý nhận chuyển nhượng phần đất nêu trên với giá là 4,5 cây
vàng 9999, Y trực tiếp đưa vàng cho vợ chồng ông H lập giấy tay mua
bán đất, nhưng do Y chuyển nhà nhiều lần nên bị mất giấy. Là chị em ruột nên
Y không thỏa thuận thời điểm thực hiện thủ tục chuyển nhượng, chỉ nói khi nào
cần xây nhà sẽ làm thủ tục chuyển quyền.
Khoảng năm 2020, Y nghe tin con ông H nhận tiền đặt cọc để chuyển
nhượng phần đất của bà Y đã mua, bà có về nói chuyện với ông H. Để làm tin, ông
H đưa cho bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1022, tờ bản
đồ số 7, đất BHK, do ông H đứng tên. Sau đó, ông H trực tiếp đến nhà tại
Thành phố Hồ Chí Minh xin lỗi gia đình lại giấy tay bán đất mới đề ngày
27/06/2020, ông H hứa khi nào H1 trở về, ông H slàm thủ tục tách đất sang
tên cho bà Y. Tuy nhiên, sau đó hai bên không thống nhất được vị trí đất nên tranh
chấp.
Huỳnh Ngọc Y khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa Y vchồng ông Phạm Văn H, Huỳnh
Ngọc H1, buộc ông H H1 phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng phần đất
diện tích 625m
2
, thuộc 1 phần thửa đất số 1022, tờ bản đồ số 7, loại đất BHK,
đất tọa lạc tại P, huyện C, tỉnh Long An, tương ứng với vị trí A theo Mảnh trích
đo địa chính số 90, 91-2024 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện C
duyệt ngày 14/5/2024.
Qúa trình Tòa án giải quyết vụ án, ông H cho rằng chỉ mượn tiền, không
chuyển nhượng đất nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Y.
Vụ án đã được xét xử nhiều lần. Nay, bà Y thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
Y yêu cầu hiệu việc chuyển nhượng đất giữa Y với ông H theo giấy tay
3
ngày 27/6/2020 yêu cầu ông H, H1 trả lại 4,5 cây vàng 9999. Khi ông H,
H1 trả đủ vàng thì Y sẽ trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính cho
ông H. Chi phí tố tụng yêu cầu bên ông H, bà H1 chịu một phần.
Bị đơn, ông Phạm Văn H do Phạm Thị Thanh T đại diện theo ủy quyền
trình bày:
T, ông H thống nhất nội dung trình y của Y về mối quan hệ giữa
Y, H1 và ông H. T xác định chữ ký của bên A trong giấy viết tay “Giấy bán
đất” ghi ngày 27/06/2000 chữ của ông Phạm Văn H. Tuy nhiên, ông H hoàn
toàn không bán đất cho bà Y. Thực tế, năm 2008 vợ chồng ông H, bà H1 chỉ mượn
của Y số tiền 45.000.000 đồng để sửa nhà. H1 là người lên nhà bà Y để trực
tiếp nhận số tiền 45.000.000 đồng đem về đưa lại cho ông H. Khi mượn tiền không
làm giấy tờ gì.
Năm 2010, Y về mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H để
đi vay tiền do Y làm kinh tế thất bại. Do nhớ ơn Y cho mượn tiền sửa nhà
nên ông H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1022 cho bà Y đi vay
tiền, sau đó bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính của ông H.
Năm 2020, ông H đi làm lại giấy chứng nhận quyền sdụng đất thửa 1022
theo yêu cầu của bà Y. Sau khi ông H làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất xong, thì Y kêu ông H giấy tay ngày 27/06/2020 và Y lấy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông H lần thứ 2.
Ông Phạm Văn H chỉ đồng ý trả cho Y 45.000.000 đồng yêu cầu Y
trả bản chính của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 1022 cho ông H. Ông
H, H1 không bán đất cho Y nên không chịu phần chi phí tố tụng mà bà Y đã
yêu cầu cơ quan chuyên môn đo, thẩm định giá đất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Huỳnh Ngọc H1 trình bày: tại phiên tòa thẩm ngày 05/8/2024, H1
xác định có nhận số tiền 45.000.000 đồng từ bà Y, nhưng bà không chuyển nhượng
đất cho bà Y nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà Y.
- Ông Phạm Hồng D Nguyễn Thị M thống nhất trình bày: ông Phạm
Hồng D Nguyễn Thị M vợ chồng. Ông, xác định vợ chồng ông H
chuyển nhượng một phần thửa 1022 cho Y, nhưng bà Y chưa từng quản lý, sử
dụng. Căn chòi chứa củi trên đất tại vị trí A đang tranh chấp do ông D, M xây
dựng cách đây 10 năm. Khi cất chòi, ông hỏi ý kiến ông H được ông H
đồng ý. Trường hợp Tòa án xác định đất tại vị trí A thuộc quyền sử dụng của bên
nào đang tranh chấp thì ông, bà sẽ thỏa thuận, không tranh chấp trong vụ án này.
Quá trình giải quyết vụ án
Tại Bản án dân sự thẩm số 119/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024
của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã xử (tóm tắt):
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Ngọc Y đối với ông Phạm Văn
H về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
4
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng giấy
tay giữa bà Huỳnh Ngọc Y với vợ chồng ông Phạm Văn H, bà Huỳnh Ngọc H1 đối
với phần diện tích đo đạc thực tế là 625m
2
tại vị trí C thuộc một phần thửa đất
1022, tờ bản đồ số 7, loại đất BHK, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long An, theo
Mảnh trích đo địa chính 91-2024 được Công ty TNHH Đ đo vẽ và Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 14/5/2024.
Vị trí, tứ cận phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo địa chính 91-2024 được
Công ty TNHH Đ đo vẽ và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt
ngày 14/5/2024.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn H đối với bà Huỳnh Ngọc Y
về việc trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc bà Huỳnh Ngọc Y trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CV 078088 do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh L cấp cho ông Phạm Văn H vào
ngày 03/02/2020, sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 03471 đối
với thửa đất 1022, tờ bản đồ số 7, loại đất BHK, đất tại xã P, huyện C, tỉnh Long
An
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 66/2025/DS-ST ngày 17 tháng 01 năm 2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử (tóm tắt): hủy Bản án dân sự thẩm số
119/2024/DS-ST giao hồ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An xét xử sơ thẩm lại.
Tại Bản án dân sự thẩm số 59/2025/DS-ST ngày 19 tháng 6 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã xử (tóm tắt):
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Huỳnh Ngọc Y về việc yêu cầu
công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Huỳnh Ngọc Y với
vợ chồng ông Phạm Văn H, Huỳnh Ngọc H1 đối với phần đất có diện tích
625m
2
, thuộc một phần thửa 1022, tờ bản đồ số 7, đất BHK, đất tại P, huyện C,
tỉnh Long An, tương ứng với vị trí A theo Mảnh trích đo địa chính số 90, 91-2024
do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 14-5-2024.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn H đối với bà Huỳnh Ngọc Y
về việc yêu cầu trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc bà Huỳnh Ngọc Y trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CV 078088 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Phạm Văn H
vào ngày 03-02-2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 03471
đối với thửa đất 1022, tờ bản đồ số 7, loại đất BHK, đất tại P, huyện C, tỉnh
Long An.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 591/2025/DS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã xử (tóm tắt): hủy Bản án dân sự thẩm số
59/2025/DS-ST giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An xét xử sơ thẩm lại.
5
Tại Bản án dân sự thẩm số 77/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 7-Tây Ninh đã xử (tóm tắt):
Căn cứ khoản 2, 3 Điều 26, Điều 35, Điều 36, điểm a, c khoản 1 Điều 39,
Điều 227, Điều 228 Bluật Tố tụng dân sự; các Điều 116, 117, 123, 131, 164,
166, 500, 501, 502, 503 Bộ luật Dân sự; Điều 26 Ngh quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của y ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Ngọc Y về việc yêu cầu vô hiệu
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Huỳnh Ngọc Y với vợ chồng
ông Phạm Văn H, Huỳnh Ngọc H1 đối với phần đất diện tích 625m
2
, thuộc
một phần thửa 1022, tờ bản đồ số 7, đất trồng cây hàng năm khác, đất tại P,
huyện C, tỉnh Long An theo giấy tay “Giấy bán đất” ngày 27/6/2020.
Buộc ông Phạm Văn H, Huỳnh Ngọc H1 nghĩa vụ liên đới trả cho
Huỳnh Ngọc Y 4,5 cây (lượng) vàng 9999.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phạm Văn H đối với bà Huỳnh Ngọc Y
về việc yêu cầu trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc bà Huỳnh Ngọc Y trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CV 078088 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Phạm Văn H
vào ngày 03/02/2020, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS 03471
đối với thửa đất 1022, tờ bản đồ số 7, loại đất trồng cây hàng năm khác, đất tại
P, huyện C, tỉnh Long An.
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, không phối hợp với quan Nhà nước thẩm quyền đlàm
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án quyền
yêu cầu quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ Bản án, Quyết
định của Tòa án đthu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với nội dung của Bản án, Quyết
định của Tòa án.
3. Về chi phí tố tụng:
Buộc ông Phạm Văn H, Huỳnh Ngọc H1 nghĩa vụ liên đới trả cho
Huỳnh Ngọc Y số tiền 10.250.000 đồng.
Kể tngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Về án phí:
Huỳnh Ngọc Y phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được
khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số
0012453 ngày 19/9/2023. Trả cho bà Huỳnh Ngọc Y số tiền tạm ứng án phí
6
14.800.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí 0016716 ngày 26/12/2025 của
Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Phạm Văn H, Huỳnh Ngọc H1 liên đới chịu 31.624.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm.
Ông Phạm Văn H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai thu số
0013153 ngày 09-7-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc,
chuyển sang án phí, ông H, bà H1 còn phải nộp số tiền án phí là 31.324.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về quyền thời hạn kháng cáo, việc thi
hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 20/4/2026, ông Phạm Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Phạm Thị Thanh T trình bày: ông H luôn say rượu, tinh thần không tỉnh
táo nên khi tên vào “Giấy bán đất” ngày 27/06/2020 thì ông H không nội
dung; việc ông H tên trên các giấy tờ thường phải vợ các con của ông H
chứng kiến. Ông H không đồng ý trả số vàng 4,5 lượng vàng 9999 cho bà Y mà chỉ
đồng ý trả số tiền 45.000.000 đồng hoặc cắt diện tích 625m
2
đất trồng cây hằng
năm thuộc khu C tại 1 phần thửa 1022 giao cho Y để trừ tiền.
Ông Huỳnh Bửu S trình bày: tại biên bản làm việc ở Ủy ban nhân dân xã, ông
H thừa nhận nhận của bà Y 4,5 lượng vàng 9999. Bà Y không chấp nhận kháng
cáo của ông H.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn ông Phạm Văn H đủ điu kin
để xem xét theo trình t phúc thm.
Về nội dung kháng cáo: ông H đã thừa nhận tên trên “Giấy bán đất”,
trong giấy y ông H bà Y không thỏa thuận v vị trí của phần đất chuyển
nhượng, các bên cũng chưa giao nhận đất trên thực tế, chưa làm thủ tục chuyển
quyền. Ông H không chứng cứ chứng minh không nhận 4,5 lượng vàng 9999
chỉ nhận số tiền 45.000.000 đồng. Tòa án cấp thẩm đã xét xử căn cứ,
đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn, ông Phạm Văn H thực hiện đúng theo quy định
tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Huỳnh Ngọc Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông Phạm Văn H giữ nguyên
yêu cầu phản tố và kháng cáo. Các đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải
quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: Huỳnh Ngọc Y và ông Phạm Văn
H vắng mặt, nhưng có người đại diện theo ủy quyền có mặt. Tòa án không triệu tập
các đương sự gồm ông Phạm Hồng D bà Nguyễn Thị M tham gia phiên tòa
7
phúc thẩm. Bà Huỳnh Ngọc H1 vắng mặt, đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai.
Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử phúc thẩm vụ án.
[3] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
căn cứ các yêu cầu khởi kiện và phản tố của các bên đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định vụ án “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu
trả bản chính giấy chứng nhận quyền sdụng đất, trả vàng nhận chuyển nhượng
đất” thụ giải quyết, là đúng quy định tại khoản 3, khoản 9 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: ông Phạm Văn H kháng cáo không đồng ý
trả vàng cho Y. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét lại phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông H không đồng ý trả vàng chỉ chấp nhận giao đất
trừ nợ
[5] Hồ sơ vụ án thể hiện, người đại diện theo ủy quyền của ông H đã xác định
chữ bên A (bên bán đất) trên “Giấy bán đất” ngày 27/06/2020 của ông Phạm
Văn H (bút lục số 271). Tuy nhiên, giữa Y ông H không thỏa thuận về vị
trí, tứ cận của phần đất giao dịch tại “Giấy bán đất”. Vụ án đã qua nhiều lần, nhiều
cấp xét xnhưng các bên cũng không thỏa thuận được nội dung này. Đến thời
điểm hiện tại, khi vụ án được Tòa án cấp thẩm thụ lại đến lần thứ 3, thì Y
đã thay đổi yêu cầu khởi kiện, không còn yêu cầu ông H thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo “Giấy bán đất” ngày 27/06/2020, chỉ
còn tranh chấp yêu cầu ông H trả lại số vàng đã nhận. Tại đoạn [2.2] đoạn [2.3]
phần nhận định của bản án thẩm, Hội đồng xét xử thẩm đã nhận định rằng
“Giấy bán đất” ngày 27/06/2020 “không công chứng, chứng thực, nội dung không
thể hiện vị trí tứ cận của phần đất diện tích 625m
2
thời điểm giao đất. Thực
tế từ khi lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay 02 bên vẫn chưa
thực hiện việc giao nhận phần đất chưa làm thủ tục sang tên quyền sử dụng
đất…” từ đó, “chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Ngọc Y yêu
cầu hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Y với ông Phạm
Văn H theo giấy bán đất ngày 27/06/2020, đúng quy định tại Điều 106, Điều
107, Điều 500, Điều 501 và Điều 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của ông Phạm Văn H không đồng ý trả vàng mà chỉ chấp nhận
trả cho bà Y số tiền 45.000.000 đồng:
[6] Theo “Giấy bán đất” ngày 27/06/2020 đã thể hiện nội dung:
“Điều 2: Hình thức thanh toán:
- Hợp đồng này được thanh toán bằng vàng, bên B đã thanh toán toàn bộ số
vàng cho bên A là 4,5 cây vàng 9999
- Bằng chữ: Bốn cây rưỡi vàng bốn số chín”.
[7] Tòa án cấp thẩm đã buộc ông H phải trả lại cho bà Y số vàng đã nhận,
đúng quy định tại Điều 131 của Bộ luật Dân sự năm 2005 về hậu quả pháp
của giao dịch dân sự vô hiệu. T đại diện cho ông H trình bày ông H chỉ nhận số
8
tiền 45.000.000 đồng, không nhận vàng, nhưng T không chứng cứ chứng
minh.
[8] Ông H kháng o, nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới đ
chứng minh, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không căn cứ để chấp nhận kháng
cáo của ông H.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên căn cứ, phợp với quy định của pháp
luật và nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm nên được chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Phạm Văn H phải chịu án phí do bị bác
kháng cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, ông Phạm Văn H.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 77/2026/DS-ST ngày 09 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7-Tây Ninh.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: buộc ông Phạm Văn H phải chịu 300.000đ (ba
trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng
án phí ông H đã nộp theo biên lai thu số 0008321 ngày 20/4/2026 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh. Ông Phạm Văn H đã thi hành xong án phí phúc thẩm.
5. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm này hiệu lực pháp luật kể từ
ngày tuyên án.
6. Về hướng dẫn thi hành án: trường hợp bản án, quyết định được thi hành
theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2025 thì người được thi
hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi
hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7 và 36 Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi hành án dân sự năm 2025./.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 7-Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 7-Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án, án văn./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
9
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Quốc Tuấn Trịnh Thị Phúc
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Ngọc Hoàng Đình Thục
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 932/2026/DS-PT Bản án số 932/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 932/2026/DS-PT Bản án số 932/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất