Bản án số 34/2025/DSPT ngày 13/05/2025 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 34/2025/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 34/2025/DSPT ngày 13/05/2025 của TAND tỉnh Cao Bằng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cao Bằng
Số hiệu: 34/2025/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/05/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phan Sầm Ph - Nguyễn Văn C tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
Bản án số: 34/2025/DS-PT
Ngày: 13-5-2025
V/v Tranh chấp quyền
sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH CAO BẰNG
- Thnh phn Hi đng xt x phúc thẩm gm c:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thuỳ Ngân
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vân Khánh và ông Hoàng Văn Thụ
- Thư phiên toà: Ông Vi Hoàng Tùng - Thư Toà án nhân dân tỉnh Cao
Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên to:Cao
Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 33/2025/TLPT-DS ngày 03 tháng 02
năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của
Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2025/QĐ-PT ngày
12/3/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 66/2025/QĐ-PT ngày
10/4/2025 Quyết định hoãn phiên toà số 99/2025/QĐ-PT ngày 26/4/2025
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1. Ông Phan Sầm P, sinh năm 1963 (Có mặt)
2. Bà Hoàng Thị P1, sinh năm 1965 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Trịnh
Xuân T - Công ty L7, Đoàn Luật sư thành phố H. (Có mặt)
Địa chỉ: Số B, ngõ G phố Đ, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C - sinh năm: 1965 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Sở giao thông vận tải tỉnh C (Nay sáp nhập thành Sở Xây dựng) (Có
đơn xét xử vắng mặt)
2
Đại diện theo pháp luật: Ông Lương Tuấn H - Chức vụ: Giám đốc; Địa
chỉ: Số B B, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
2. Nguyễn Thị T1; Địa chỉ: SN B, tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh
Cao Bằng (Có mặt)
3. Nguyễn Thị T2; Địa chỉ: Khu H (nay Tổ dân phố E), thị trấn B,
huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có mặt)
4. Nguyễn Thị T3; Địa chỉ: Khu H (nay Tổ dân phố E), thị trấn B,
huyện B, tỉnh Cao Bằng (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
5. Ông Nguyễn Văn T4; Địa chỉ: Tổ E, Phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn
La (Vắng mặt)
6. Nguyễn Thị H1; Địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao
Bằng (Có mặt)
7. Ông Nguyễn Văn Đ (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan ông Nguyễn Văn Đ (đã chết):
7.1. Bà Hoàng Thị T5 (Vắng mặt)
7.2. Ông Nguyễn Minh D (Vắng mặt)
7.3. Ông Nguyễn Minh Đ1 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ F, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
8. Bà Nguyễn Thị H2 (Có mặt)
9. Ông Nguyễn Xuân D1 (đã chết)
10. Ông Phạm Ngọc C1 (Vắng mặt)
Đại diện theo ủy quyền: Phạm Bích N (Vắng mặt, đơn xin xét xử
vắng mặt)
11. Bà Lương Thị L (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
12. Bà Phan Sầm Á (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
13. Bà Phan Sầm H3 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, phường X, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
- Người làm chứng:
1. Ông Phan Y; Địa chỉ: Tổ E, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
2. Ông Mạc Văn N1
3. Ông Nguyễn Văn T6
4. Bà Bế Thị D2
3
5. Ông Phan Văn Đ2
Cùng địa chỉ: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
6. Bà Hoàng Thị Đ3
7. Ông Vi Văn T7
Cùng địa chỉ: Tổ H, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
(Những người làm chứng đều vắng mặt)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp
thẩm, nguyên đơn ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp do ông Phan Sầm M Hoàng
Thị C2 (bố mẹ ông P - đều đã chết) để lại cho ông bà. Năm 1990, sau khi hợp
tác (HTX) Đại Thắng do ông Phan Y làm chủ nhiệm giải thể ông M, C2
nhận lại đất đưa vào HTX trước đây và chia cho các con. Vợ chồng ông bà được
chia 03 thửa đất ruộng Càng Ma với tổng diện tích 775m
2
gồm thửa đất số 13,
diện tích 126m
2
; thửa đất s262, diện tích 344m
2
, thửa đất số 263, diện tích
307m
2
tại tổ D, T, H (nay tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng).
Việc chia đất biên bản họp gia đình ngày 03/02/1990 xác nhận của ông
Phan Sầm K (là anh họ). Các thửa đất được đo vẽ, thể hiện trên bản đồ giải thửa
từ năm 1995. Gia đình ông đã sử dụng các thửa đất ổn định từ năm 1990 đến
nay. Khi ông nhận ruộng được chia, thửa đất 263 thửa đất bờ chạy dọc
theo đường vào C - M.
Trước đây, ông Nguyễn Văn H4 (đã chết) - bố đẻ của ông Nguyễn Văn C
khi xây nhà tập kết vật liệu trên thửa đất 263 của gia đình ông bà (lúc này
thửa đất HTX Đại Thắng đang quản lý). Khi được chia đất, vợ chồng ông đã
yêu cầu ông H4 trả lại đất nhưng ông H4 không trả. Năm 1992, ông C tự ý dựng
một lán bằng gỗ mở hiệu may tại vị trí đất gia đình ông C đang chiếm dụng với
diện tích 36m
2
và từ đó xảy ra tranh chấp. Năm 1997, ông làm đơn yêu cầu
Ủy ban nhân dân (UBND) H giải quyết. Tại cuộc hòa giải ngày 20/3/1997,
ông C vắng mặt không do nên hòa giải không thực hiện được. Năm 1998,
gia đình ông bà làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 262 263. Thửa đất số 262 đã được UBND
tỉnh C GCNQSDĐ theo số vào sổ 00019/QSDĐ/110107 ngày 14/12/1998 mang
tên Phan Sầm P. n thửa đất số 263 chưa được cấp GCNQSDĐ do đang tranh
chấp với ông C.
Năm 2004, ông khai nguồn gốc đất đai đã được ông Phan Y, ông
Phan Văn Đ2, ông Đào Văn B, ông Hoàng Quang V, Hoàng Thị Đ3 - những
người sống lâu năm hiểu biết về đất đai gia đình ông Hoàng Thị C2
(mẹ ông P) xác nhận hai thửa đất liền kề 262, 263 do bố mẹ ông chia cho
4
vợ chồng ông canh tác. Trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp, UBND
H đã ra thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 khẳng định “khu ruộng
Càng Ma trong đó 36m
2
hiện đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263 của
ông Phan Sầm M đưa vào HTX đã chia cho con ông Phan Sầm P. Từ khi
còn HTX đến khi xảy ra tranh chấp thì HTX gia đình ông P vẫn canh tác
không bỏ hoang hóa. Việc ông C nhận mảnh đất trên của gia đình ông C
không sở”. Đồng thời, UBND H cũng đã yêu cầu ông C trả lại 36m
2
cho gia đình ông sử dụng nhưng ông C không đồng ý. Khi tổ chức giao phần
đất tranh chấp cho gia đình ông bà, ông C không hợp tác, không chấp hành dẫn
đến việc giao nhận đất không thực hiện được.
Năm 2009, nhà nước thu hồi đất để mở rộng đường tỉnh lộ 209 đã thu hồi
của thửa đất 263 212m
2
chạy dọc theo mép đường trong đó phần đất
tranh chấp 36m
2
gia đình đã được nhà nước đền bù. Khi thi công mở rộng
đường tỉnh l209 thửa đất 263 đã bị san gạt không còn nguyên vẹn. Sau này,
ông bà tiếp tục cải tạo tạo mặt bằng như hiện nay. Phần đất tranh chấp thuộc
thửa đất 263 trước đây chỉ là 36m
2
. Năm 2015, khi nhà nước đo lại đất ông C đã
cắm cọc, làm bờ rào chiếm dụng thêm lấn sang cả thửa đất 262. Hiện tại, diện
tích đất đang tranh chấp 114,5m
2.
Không nhất trí với việc chiếm dụng đất của
ông C năm 2015, 2016 ông tiếp tục làm đơn yêu cầu UBND phường H giải
quyết. Tại buổi hòa giải ngày 25/11/2016, UBND phường H xác nhận thửa đất
số 262 263, tờ bản đồ số 13 của gia đình ông bà. Ông yêu cầu ông
Nguyễn Văn C trả lại diện tích đất tranh chấp 114,5m
2
gồm 50m
2
thuộc thửa đất
số 262, tờ bản đồ số 13 và 64,5m
2
thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ
địa chính 1995), địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng cho gia
đình ông bà quản lý và sử dụng.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, bị đơn ông
Nguyễn Văn C trình bày:
Năm 1965, bố mẹ ông chuyển lên Cao Bằng theo chính sách khai hoang,
phát triển kinh tế mới của Nhà nước và được chính quyền địa phương giao cho
khoảng hơn 20.000m² đất để khai phá trồng hoa màu. Mảnh đất diện tích khoảng
100m² (địa chỉ: tG, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) hiện đang tranh
chấp nằm trong phần diện tích đất nêu trên được gia đình ông sử dụng để
trồng rau cây ăn quả. Năm 1992, do không chỗ bố mẹ ông cho
Nguyễn Thị H2 (em gái ông) làm 2 gian nhà tạm để ở tại diện tích đất trên. Năm
1994, Nhà nước nâng cấp mở rộng đường tỉnh lộ 2009 dẫn đến tình trạng mặt
đường cao hơn nên em ông đã dỡ bỏ căn nhà để dựng ở nơi khác. Năm 1997, bố
mẹ ông giao lại quyền sử dụng đất cho ông. Ông tiến hành thủ tục xin cấp
GCNQSDĐ nhưng ông P làm đơn cho rằng phần đất trên ông lấn chiếm của ông
P nên UBND tạm dừng việc cấp GCNQSDĐ để ông ông P giải quyết
tranh chấp.
Năm 1999, do đất nền không ổn định nên ông đã dỡ hai gian nhà tạm trên
đất đi trồng hoa màu từ đó đến nay. Theo ông được biết, ông P được chia 02
thửa đất ruộng gồm một thửa giáp đường phía Nam mảnh đất của ông (thửa
5
đất số 262); thửa thứ hai thửa số 263 nằm dưới đường và giáp phía Tây
mảnh đất của ông. Thửa đất số 262 khi tỉnh mở rộng đường năm 1994 đã bị thu
hồi hết ông P đã được bồi thường. Sau khi làm đường xong ông P chỉ còn lại
mảnh đất ruộng dưới đường. Năm 1999, ông P tự san lấp thửa đất số 263 cao
hơn mặt đường lấp sang mảnh đất của ông một phần nhưng không thông qua
ông để xác định mốc giới. Trước khi ông P san lấp ruộng, thửa đất của ông
thửa đất của ông P ranh giới ràng. Thửa đất của ông cao hơn thửa đất của
ông P khoảng 02m. Sau khi ông P san lấp thì giữa hai thửa đất không còn ranh
giới như lúc đầu.
Do ông một khoảng thời gian vắng mặt tại địa phương nên phần diện
tích đất của gia đình khoảng 100m² này được giao cho em gái ông Nguyễn Thị
H2 (người sinh sống gần đó) thay mặt ông quản và sử dụng. Trong thời gian
đó, ông P bà P1 hành vi lấn chiếm tranh chấp đất. Ông P P1 cho rằng
phần diện tích đất khoảng 100m² này ông lấn chiếm của vợ chồng ông
không có cơ sở. Thực tế, đất nhà ông P bà P1 là đất ruộng nằm trong thửa đất số
262, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995). Còn phần đất hiện đang tranh chấp
đất vườn nằm trong thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995)
được bố mẹ ông sử dụng từ năm 1965. Năm 1997, bố mẹ ông chuyển giao cho
ông; phần đất tranh chấp được ông quản lý, sử dụng trong nhiều năm những
người dân sống lâu năm quanh khu vực biết và chứng kiến.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp do bố mẹ khai phá năm 1964
được UBND L cấp giấy đgia đình tăng gia sản xuất, quản và sử dụng
(giấy tờ này đã thất lạc từ năm 1979). Năm 1997, bố mẹ chuyển về q
Nam sinh sống nên làm giấy chuyển giao quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Văn C. Phần đất này chưa được cấp GCNQSDĐ cũng như chưa được chia thừa
kế. Khi nhà nước chủ trương thu hồi đất làm đường tỉnh lộ 209, phần đất
thửa đất 263 của gia đình bà không bị thu hồi. Theo bà được biết, đất của nhà bà
Hoàng Thị P1 ông Phan Sầm P thuộc thửa đất 263 (sát đất nbà) đã bị thu hồi
ông P, P1 đã nhận tiền đền bù. Phần đất của gia đình chỉ nằm trên thửa
đất 263 không nằm trên thửa đất 262 và không lấn chiếm vào thửa đấy 262 đằng
sau như ông P, bà P1 trình bày. Diện tích đất của gia đình bà bao nhiêu bà không
rõ. Tuy nhiên, khi xảy ra việc tranh chấp giữa ông C P1 ông P ông C
tiến hành đo đạc nhưng bà không biết diện tích cụ thể. Bà không nhất trí với yêu
cầu khởi kiện của ông P, P1 gia đình bà chỉ quản sdụng phần đất của
gia đình thuộc thửa đất 263 và không có bất cứ lấn chiếm nào liên quan đến thửa
đất 262.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn
Thị T2 cùng thống nhất trình bày:
Nguồn gốc đất đang tranh chấp do bố mẹ các bà - ông Nguyễn Văn H4 và
Trần Thị V1 được UBND xã L, huyện H cấp diện tích đất 03ha địa chỉ khu
6
đồi C (nay tổ G, phường H, thành phố C) khai hoang tăng gia sản xuất từ
năm 1964. Khi ông H4, V1 chết không để lại di chúc phần đất này cũng
chưa được chia. Tuy nhiên, bố mẹ các đã giao phần đất đang tranh chấp cho
ông C quản lý sử dụng và được sự nhất trí của các anh chị em trong gia đình.
Gia đình đã quản sử dụng phần đất này từ năm 1964 đến khoảng
năm 2004 thì phát sinh tranh chấp do nhà nước chủ trương thu hồi đất để mở
rộng đường tỉnh lộ 209. Khi đó gia đình ông C bị thu hồi một phần của mảnh
vườn tuy nhiên gia đình ông Phan Sầm P lại được Chủ tịch UBND H thời
điểm đó lấy khoản tiền bồi thường đối với thửa đất vườn mang tên ông
Nguyễn Văn C đã bị thu hồi.
Phần đất hiện nay ông C đang quản lý sử dụng thuộc thửa đất 263, tờ bản
đồ số 15, diện tích khoảng hơn 100m
2
. Trước khi ông P bà P1 san lấp thửa ruộng
262, phần đất ông C đang quản đất của ông P P1 ranh giới ràng,
đất của ông P, P1 thấp hơn đất của gia đình các khoảng 02m. Tuy nhiên,
sau khi san lấp không còn thể hiện ranh giới này nữa. Năm 2015, khi nnước
chủ trương đo lại đất cho các hộ gia đình để cấp bìa đỏ ông Nguyễn Văn C
người trực tiếp xác định mốc giới, tuy nhiên đến thời điểm hiện tại vẫn chưa
được cấp GCNQSDĐ. Theo các do sự làm việc thiếu trách nhiệm của cán
bộ địa chính xã H thời điểm đó. Về yêu cầu khởi kiện của ông Phan Sầm P và bà
Hoàng Thị P1, các không nhất tphần đất này do bố mcác để lại
gia đình các bà đã quản lý sử dụng liên tục, ổn định từ năm 1964 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T4 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H4 (chết năm 2004) và bà Trần Thị V1 (chết năm 2017)
bố mẹ ông. Khi chết bố mẹ ông không để lại di chúc. Thửa đất số 262, diện
tích 344m
2
, tờ bản đồ số 13 thửa đất số 263, diện tích 307m
2
, tờ bản đồ số 13
cùng địa chỉ tổ A (nay là tổ G), phường H, thành phố C là đất khai hoang từ thời
bố mẹ ông dùng làm nhà trồng cây ăn quả. Các em ông từng làm nhà sinh
hoạt trên đất, tuy nhiên khi mở đường nhà sát hành lang giao thông nên em ông
đã chuyển nhà đi nơi khác. Trước khi đi chấp hành án, mảnh đất trên do ông
Nguyễn Văn C trông coi quản nhưng chưa chính thức cho ông C. Trước năm
1995 đã xảy ra tranh chấp với ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 được hòa
giải, giải quyết tại phường; chưa bản án, quyế định nào của Tòa án. Hiện
nay, phần đất này chưa được cấp GCNQSDĐ. Ông P, P1 yêu cầu ông C trả
lại diện tích 114,5m
2
thuộc thửa đất số 262, diện tích 344m
2
, tờ bản đồ số 13 và
thửa đất số 263, diện tích 307m
2
, tờ bản đồ số 13 ông không đồng ý vì đây là đất
của bố mẹ ông để lại, không liên quan đến ông P, bà P1.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T3 trình bày:
Ông Nguyễn Văn H4 (chết năm 2004) và bà Trần Thị V1 (chết năm 2017)
bố mẹ bà. Khi chết bố mẹ để lại di chúc. Năm 1964, nghe theo lời kêu
gọi của Đảng Nhà nước đi xây dựng phát triển kinh tế miền núi, bố mẹ bà đã
7
lên chỗ đất này để khai hoang lập nghiệp, tạo dựng cuộc sống mới. Phần đất này
bố mẹ đã được chính quyền UBND xã H cấp cho quản sử dụng để phát
triển trồng cây, hoa màu phục vụ đời sống từ đó cho đến nay. Phần đất làm vườn
này còn được Nguyễn Thị H2 ông Nguyễn Văn C dựng nhà đlàm
ăn sinh sống gần 10 năm. Tất cả mọi người cùng sống lâu năm trong xóm, khu
vực này biết công nhận. Phần đất này của gia đình dài khoảng 30 - 40m,
rộng khoảng hơn 10m, vị trí phía taly âm con đường. Phần đất này tiếp giáp
với đất của ông Phạm Ngọc M1 Thị Y1 (đã chết) nay của ông Phạm
Ngọc C1 (tổ G, phường H, thành phố C); giáp đám ruộng liền kề cạnh đường cái
của ông Phan Sầm P đất vườn của ông C3, H5 (đã chết) nay Lương
Thị L (tổ G, phường H, thành phố C). Gia đình bà chưa chia mảnh đất này. Hiện
tại, ông Nguyễn Văn C đang quản sử dụng thửa đất trên, trong thời gian
quản lý không xảy ra tranh chấp. Do đi làm ăn xa nên bà không biết thửa đất này
đã được cấp GCNQSDĐ chưa. Ông P, P1 yêu cầu ông C trả lại diện tích
114,5m
2
thuộc thửa đất số 262, diện tích 344m
2
, tờ bản đồ số 13 thửa đất số
263, diện tích 307m
2
, tờ bản đồ số 13 bà không đồng ý bởi:
Thứ nhất, căn cứ giấy khai nguồn gốc đất ngày 30/04/2004 của ông
Phan Sầm P, khu vực ruộng tại xóm T (trước gọi là Càng Ma) có nhiều người và
đặc biệt bà Hoàng Thị C2 - mẹ đẻ của ông P đã chứng nhận ông P chỉ có 02 đám
ruộng. Đám ruộng liền kề cạnh đường cái một phần tiếp giáp với phần đất
vườn của ông C đất vườn của bà L. Năm 1994 - 1995, đơn vị đoàn kinh tế 86
thuộc Bộ Q bồi thường tiền đám ruộng này cho ông P để mở rộng con đường lấy
tên tướng Đàm N2 đi vào quê ông C, M thuộc huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Vậy ông P chỉ còn đám ruộng phía dưới phần đất vườn của ông Nguyễn Văn
C Lương Thị L. Vị trí đám ruộng này được thể hiện trong tờ bản đồ số
15, đo vẽ năm 1995 được ông Phan Sầm P xin trích lục ngày 27/10/2004 tại
H, thị xã C, tỉnh Cao Bằng.
Thứ hai, căn cứ GCNQSDĐ số 0019 QSDĐ/110107 ngày 14/12/1998 cấp
cho ông Phan Sầm P không thửa đất 263, diện tích 307m
2
. Vậy ông P làm
đơn tranh chấp phần đất này gửi đến UBND H (nay phường H), thành phố
C để giải quyết là hoàn toàn không đúng và không có căn cứ.
Thứ ba, căn cứ vào tờ bản đồ 48-45 (13-c-I) tbản đồ số 13 + (13-c-III)
tờ bản đồ số 15, đo vẽ năm 1995 tại H, thị C, tỉnh Cao Bằng chỉ thửa
đất số 262, diện tích 344m
2
là đất trồng lúa của ông Phan Sầm P được kí hiệu M;
còn thửa đất 263, diện tích 307m
2
là đất vườn được kí hiệu V là của ông Nguyễn
Văn CLương Thị L. Hiện tại, thửa đất này của hai gia đình chưa được cấp
GCNQSDĐ do gia đình ông P làm đơn tranh chấp thửa đất 263.
Theo bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995, phần diện tích 212m
2
bị nhà nước
thu hồi để mở rộng đường tỉnh lộ 209 phần đất thuộc thửa đất 263, tờ bản đồ
số 15 của ông C L nhưng chính quyền địa phương lại cho gia đình ông P
nhận số tiền điền này trong khi đó số diện tích bị thu hồi không phải đất của
ông P. Gia đình đề nghị được truy lĩnh số tiền đền đất một số cây hoa
màu bị thu hồi.
8
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn ĐHoàng Thị T5 trình bày:
là vợ của ông Nguyễn Văn Đ (đã chết). hoàn toàn nhất trí với ý
kiến của Nguyễn Thị H2, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn
Thị H1, Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn T4, ông Nguyễn Văn C được thể
hiện trong hồ vụ án không bổ sung thêm. xác định không tham gia
tất cả các hoạt động tố tụng tại Tòa án. Do điều kiện sức khỏe nên đề nghị Tòa
án giải quyết vắng mặt đến khi xét xử xong vụ án.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Sầm H3, bà Phan Sầm Á trình bày:
Các con gái ruột của ông Phan Sầm P Hoàng Thị P1. Nguồn
gốc thửa đất đang tranh chấp do ông Phan Sầm M Hoàng Thị C2 (ông
nội bà - đều đã chết) để lại cho bố mẹ bà và được đưa vào HTX năm 1961. Năm
1990, sau khi HTX Đ4 giải thể ông M, C2 nhận lại đất. Qua bố mẹ và bà nội,
được biết bố mẹ được ông nội chia cho phần đất ruộng Càng Ma với
tổng diện tích 775m² gồm thửa đất số 13, diện tích 126m²; thửa đất s262, diện
tích 344m²; thửa đất số 263, diện tích 307m² tại tổ D, T, xã H (nay tổ G,
phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Việc chia đất tại biên bản họp gia đình
ngày 03/02/1990, xác nhận của ông Phan Sầm K. Các thửa đất trên gia đình
bà sử dụng lâu dài, liên tục từ năm 1990 đến nay. Khi nhận ruộng thì thửa đất
bờ chạy dọc theo đường vào C - M. Năm 2009, nhà nước thu hồi thửa đất 263 để
mở rộng đường tỉnh lộ 209 đã lấy diện tích đất 212m² chạy dọc theo mép đường
cũ. Gia đình đã được nhà nước đền nhưng gia đình bà không nhận quyết
định về việc bồi thường mà chỉ được nhận tiền bồi thường tại xã H. Ông H4 (bố
đẻ ông C) đã chiếm dụng phần đất thuộc thửa đất 262, 263 từ năm 1990. Gia
đình đã yêu cầu ông H4 trả lại đất tuy nhiên ông H4 không trả nên đã xảy ra
tranh chấp đến bây giờ.
Thửa đất số 262 được UBND tỉnh C GCNQSDĐ ngày 14/12/1998 theo số
vào sổ 00019/QSDĐ/110107 mang tên ông Phan Sầm P, còn thửa đất số 263
vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ do đang tranh chấp với ông Nguyễn Văn C. Khi
thi công mrộng đường tỉnh l209 thửa đất 263 bị san gạt không còn nguyên
trạng. Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất 263 trước đây chỉ 36m
2
(diện tích
này nằm trong diện tích đất 212m
2
bị thu hồi). Năm 2015, khi nhà nước đo lại
đất ông C đã cắm cọc, làm bờ rào chiếm dụng thêm lấn sang cả thửa đất 262.
Hiện tại, diện tích phần đất đang tranh chấp 114,5m
2
. Bmẹ các yêu cầu
ông Nguyễn Văn C trả lại phần đất tranh chấp diện tích 114,5m
2
tại thửa đất số
262 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995), địa chỉ: tổ G, phường H,
thành phố C các hoàn toàn nhất trí thửa đất 262, 263 đều đất của bố mẹ
bà được nhận thừa kế hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc C1 trình bày:
9
Ông chủ thửa đất số 233, tờ bản đồ số 13 (bản đồ năm 1995) - thửa đất
giáp ranh với phía Bắc phần diện tích đất tranh chấp khoảng 100m² địa chỉ tại tổ
G, phường H, thành phố C ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 đang tranh
chấp với ông Nguyễn Văn C. Đồng thời cũng là người sinh sống lâu năm tại khu
vực có đất tranh chấp (từ năm 1969 đến nay). Về nguồn gốc đất đang tranh chấp
ông không rõ. Trước năm 1990, ông từng thấy bố mẹ ông C sử dụng diện tích
đất này để trồng vài cây ăn quả và hoa màu. Khoảng năm 1997, ông C đến dựng
nhà tạm trên phần đất hiện đang tranh chấp. Sau này, ông C dỡ nhà đi (không
nhớ thời gian) sử dụng đất để trồng cây hoa màu. Những năm trở lại đây ông
C không mặt tại địa phương, phần đất này được em gái ông C vợ chồng
ông P, P1 dùng để trồng rau và hoa màu. Cụ thể phần đất tranh chấp này
của ai ông không khẳng định được.
Theo kết quả thẩm định tại chỗ, ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 và ông
Nguyễn Văn C đang tranh chấp diện tích 125m² - một phần diện tích thuộc thửa
đất số 233, 262, 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính năm 1995), địa chỉ: tổ G,
phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Thửa đất số 233, tờ bản đồ số 13 (bản
đồ địa chính năm 1995) nay thửa đất số 60, tờ bản đồ số 47 (bản đồ địa chính
năm 2015) địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng (trước kia tổ
C, khối T, H, thị C) được UBND tỉnh C GCNQSDĐ số K 310089, số vào
sổ: 00352 QSDĐ/110107 ngày 01/12/1998 mang tên Phạm Ngọc C1. Khi
khai xin cấp GCNQSDĐ, hai con gái của ông Nông Thị L1 còn nhỏ,
không đóng góp trong quá trình quản sử dụng thửa đất được cấp. Hiện
nay, gia đình ông nguyên đơn, bị đơn đều đã thống nhất đối với diện tích
tranh chấp được xác định theo kết quthẩm định tại chỗ thuộc thửa đất 233, tờ
bản đồ s13 (bản đồ địa chính năm 1995) các gia đình sẽ tự thương lượng, thỏa
thuận việc quản lý sử dụng sau khi vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông
P bà P1 với ông C được giải quyết bằng một bản án có hiệu lực pháp luật, không
yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng giải quyết tranh chấp đối với phần
diện tích thuộc thửa đất 233, tờ bản đồ s 13 trong vụ án này. Trường hợp
nguyên đơn bị đơn vẫn yêu cầu giải quyết tranh chấp với phần diện tích nêu
trên, đnghị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xem xét giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, căn cứ biên bản
xác minh ngày 22/10/2022 tại Phòng tài nguyên môi trường thành phố C xác
định được:
Qua khai thác hồ lưu trữ tại các đơn vị trực thuộc kho lưu trữ của
UBND thành phố thì không bản đồ giải thửa khi thực hiện bồi thường giải
phóng mặt bằng làm đường tỉnh lộ 209 và các tài liệu liên quan đến phần đất thu
hồi của thửa đất số 262, 263, tờ bản đồ số 13 tại tổ G, phường H, thành phố C.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tại công văn s
784/CCTCBA-NV ngày 19/12/2022, Chi cục thuế thành phố C ý kiến: Thửa
đất số 262, 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995) tại tổ G, phường H,
10
thành phố C tính từ thời điểm năm 1990 cho đến nay không có người kê khai và
thực hiện nộp thuế sử dụng đất phi nông nghiệp.
Tại biên bản xác minh ngày 28/6/2023, Văn phòng đăng đất đai tỉnh C
cho biết: Văn phòng đăng đất đai tỉnh Cao Bằng không tài liệu liên quan
đến bản đồ giải thửa khi thực hiện giải phóng mặt bằng làm đường tỉnh l209
đoạn tổ 14 (nay tổ G), phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng các tài
liệu liên quan đến phần diện tích bị thu hồi của các thửa 262, 263, tờ bản đồ 13
tại tổ A, phường H, thành phố C.
Tại công văn số: 1727/SGTVT/KHKT&QLGT ngày 16/7/2021; công văn
số: 2796/SGTVT/KHKT&QLGT ngày 10/10/2023, Sở Giao thông vận tải tỉnh C
có ý kiến:
Gia đình ông Phan Sầm P đã được đền nhận tiền đền tuy nhiên
không thông tin nào ghi nhận là tại thửa đất số 263 (việc đền sẽ được tính
toán trên bản đồ giải thửa gắn với tên chủ thửa đất, không ghi tên hoặc số
hiệu của thửa đất).
Đường tỉnh 209 đường cấp V miền núi, bề rộng nền Bnền = 7,5m,
bề rộng mặt đường Bmặt = 5,5m (đã được đầu sửa chữa năm 2019 do Sở
GTVT làm chủ đầu tư). Theo Quyết định số 1596/QĐ-UBND của UBND tỉnh C
thuộc quản lý, vận hành khai thác và bảo trì của Sở GTVT. Hiện tại, vị trí thửa
đất của 02 vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất Tòa án nhân dân thành phố
Cao Bằng đang thụ lý thuộc đoạn Km1+033 Km1+081 (phải tuyến), Đường T,
thuộc phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng đoạn tuyến thuộc đơn vị hành
chính nội thị của thành phố C.
Tại điểm đ khoản 1 Điều 39, Điều 3 Luật Giao thông đường bộ quy định:
Đường đô thị đường trong phạm vi địa giới hành chính nội thành, nội thị”.
Theo đó, đoạn tuyến Km1+033 – Km1+081 (phải tuyến), Đường T, thuộc
phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng được phân loại đường đô thị. Theo
quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số: 100/2013/NĐ-CP ngày 03/9/2013 của
Chính phủ sửa đổi Nghị định số: 11/2010/NĐ-CP ngày 24/2/2023 quy định về
quản bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, quy định về giới hạn
hành lang an toàn giao thông đường bộ, như sau: Đối với đường đô thị, giới
hạn hành lang an toàn đường bộ chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch được cấp
có thẩm quyền phê duyệt”.
Ngày 30/12/2011, UBND tỉnh C đã ban hành Quyết định số 2940/QĐ-
UBND về việc phê duyệt đồ án quy hoạch phân khu khu vực xã H, thị xã C, tỉnh
Cao Bằng, tỷ lệ 1/2000, theo đó H đã quy hoạch phân khu. Tuy nhiên, tại
thời điểm đó đoạn tuyến nêu trên nằm trong địa giới H, khu vực ngoại thị
của thị C, theo đó đoạn tuyến nêu trên đoạn đường ngoài đô thị. Mặt khác,
đến thời điểm hiện tại, đoạn tuyến nêu trên được phân loại đường đô thị. Tuy
nhiên, quy hoạch chung của thành phố C quy hoạch chi tiết của phường H
chưa được cấp thẩm quyền phê duyệt, theo đó chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch
chưa được xác định.
11
Do vậy, việc xác định phạm vi hành lang đường bộ đối với đoạn tuyến
nêu trên, căn cứ cấp kỹ thuật theo quy hoạch giao thông vận tải tại Quyết định
số 939/QĐ-UBND ngày 26/6/2017 của UBND tỉnh C là đường cấp IV miền núi,
đường ngoài đô thị. Theo đó, xác định giới hạn HLATĐB của đoạn tuyến nêu
trên được tính tđất của đường bộ trở ra mỗi bên 09 mét theo quy định tại
khoản 2 Điều 1 Nghị định 100/2013/NĐ-CP.
Qua kiểm tra hiện trường n cứ đồ trích đo địa chính thửa đất: (1)
Thửa số 262, tờ số 13 (57-12-d-III), bản đồ năm 1995; thửa số 73, tờ số 47
(508551-7(02)), bản đồ năm 2015; (2) Thửa s263, tờ số 13 (57-12-d-III), bản
đồ năm 1995; thửa số 73, tờ số 47 (508551-7(02)), bản đồ năm 2015 do Trung
tâm K1 lập. Sở GTVT xác định toàn bộ diện tích đất của cả 02 vụ tranh chấp
nêu trên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đang thụ lý, giải quyết nằm
hoàn toàn trong HLATĐB.
Việc quản sử dụng đất nằm trong HLATĐB tuân thủ theo Điều 43
Luật Giao thông đường bộ, cụ thể như sau:
1. Phạm vi đất dành cho đường bộ gồm đất của đường bộ đất hành
lang an toàn đường bộ.
2. Trong phạm vi đất dành cho đường bộ, không được xây dựng các công
trình khác, trừ một số công trình thiết yếu không thể bố trí ngoài phạm vi đó
nhưng phải được quan thẩm quyền cho phép, gồm công trình phục vụ
quốc phòng, an ninh, công trình phục vụ quản lý, khai thác đường bộ, công trình
viễn thông, điện lực, đường ống cấp, thoát nước, xăng, dầu, khí.
3. Trong phạm vi đất hành lang an toàn đường bộ, ngoài việc thực hiện
quy định tại khoản 2 Điều này, được tạm thời sử dụng vào mục đích nông
nghiệp, quảng cáo nhưng không được làm nh hưởng đến an toàn công trình,
an toàn giao thông đường bộ. Việc đặt biển quảng cáo trên đất hành lang an
toàn đường bộ phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng
văn bản.
4. Người đang sử dụng đất được pháp luật thừa nhận đất đó nằm
trong hành lang an toàn đường bộ thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục
đích đã được xác định không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công
trình đường bộ. Trường hợp việc sử dụng đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an
toàn công trình đường bộ thì chủ công trình người sử dụng đất phải biện
pháp khắc phục, nếu không khắc phục được thì Nhà nước thu hồi đất bồi
thường theo quy định của pháp luật.
5. Chính phủ quy định cụ thể phạm vi đất dành cho đường bộ, việc sử
dụng, khai thác đất hành lang an toàn đường bộ và việc xây dựng các công thiết
yếu trong phạm vi đất dành cho đường bộ”.
Tại công văn số: 3272/UBND-BTCD ngày 27/11/2023, Ủy ban nhân dân
tỉnh C có ý kiến:
12
UBND tỉnh C đã thực hiện đúng quy trình, trình tự, thủ tục theo quy định
của Luật Đất đai năm 1993 các văn bản hướng dẫn thi hành để cấp
GCNQSDĐ số 00019 QSDĐ/110107 ngày 14/12/1998 cho ông Phan Sầm P và
Hoàng Thị P1 thường trú tại xóm P, H, thị C (nay phường H, thành
phố C).
Tại biên bản xác minh ngày 16/12/2022, ngày 23/01/2024, ngày
14/8/2024 công chức địa chính phường H có ý kiến:
Thửa đất 262, tờ bản đồ số 13, diện tích 344m
2
(bản đồ địa chính 1995)
nay một phần của thửa đất số 72 và một phần thửa đất số 73, tờ bản đồ số 47
(bản đồ địa chính năm 2015). Theo sổ mục kê ruộng đất năm 1995, thửa đất 263
đất hoang, diện tích 307m
2
không tên người sử dụng. Theo bản đồ địa
chính năm 1995 cũng không tên người sử dụng. Theo bản đồ địa chính năm
2015, thửa đất số 72 vắng chủ, thửa đất số 73 ghi tên người sử dụng Phan
Sầm P.
Thửa đất 263 đến nay vẫn chưa được cấp GCNQSDĐ, khi làm đường tỉnh
lộ 209 không thông tin để xác định thửa đất 263 bị thu hồi hay không
được đền bù hay không do Sở giao thông vận tải tỉnh C là chủ đầu tư nên mới có
toàn bộ hồ liên quan đến việc đền bù. Thửa đất số 262, tờ bản đồ số 13, diện
tích 344m
2
đã được cấp GCNQSDĐ ngày 14/12/1998 mang tên ông Phan Sầm
P, hiện nay đã được chuyển nhượng cho ai hay chưa phường không biết. Về
thông tin đám ruộng Càng Ma diện tích 775m
2
phường không xác định được ở,
vị trí nào do thông tin trong sổ mục ruộng đất bản đồ địa chính năm 1995
không tên xứ đồng. UBND phường xác nhận không bản đồ giải thửa khi
thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng làm đường tỉnh lộ 209 các tài liệu
liên quan đến phần đất thu hồi của thửa đất 263 nên không có căn cứ để xác định
diện tích đất bị thu hồi của thửa 263, tờ bản đồ s13 (bản đđịa chính 1995)
nay là thửa 72, tờ bản đồ số 47 (bản đồ địa chính 2015).
Qua khai thác hồ lưu trữ tại UBND phường H không tài liệu nào về
việc xác định căn cứ ban hành thông báo kết quả giải quyết khiếu nại việc tranh
chấp đất của UBND xã H số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006.
Tại biên bản làm việc ngày 14/5/2024, Văn phòng Đ chi nhánh thành phố
C cho biết: Qua kiểm tra soát các tài liệu lưu trữ, Văn phòng Đ chi nhánh
thành phố C không lưu trữ trích lục bản đồ ruộng đất H, thị C giai đoạn
trước năm 1995 nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Tại biên bản làm việc ngày 11/6/2024, ông Nguyễn Văn L2 Công chức
địa chính đất đai phường H giai đoạn 2007 đến năm 2017 (nay là công chức địa
chính đất đai phường S) cho biết:
Ông công chức địa chính đất đai phường H giai đoạn từ năm 2007 đến
năm 2017. Trong thời điểm này diễn ra vụ việc tranh chấp giữa ông Phan Sầm
P, bà Hoàng Thị P1 với ông Nguyễn Văn C tại tổ G, phường H, thành phố C kéo
dài từ những năm 1996. Ông tham gia buổi hòa giải việc tranh chấp giữa ông
P, P1 với ông C tại UBND phường H ngày 25/11/2016 ý kiến “kết quả
13
giải quyết năm 2004 UBND xã H thì ông C phải trả cho P1 (ông P) với diện
tích 36m
2
, căn cứ vào Biên bản hòa giải ngày 06/3/2006. Sau khi Nhà nước đã
thu hồi giải phóng mặt bằng để mở rộng, cải tạo đường tỉnh lộ 209, phần đất đó
đã được gia đình nhà P1 nhận đền bù”. Ý kiến trên là do thời điểm đó ông
căn cứ vào Bản đồ trích đo giải phóng mặt bằng đường tỉnh lộ 209 danh sách
các hộ được nhận tiền đền giải phóng mặt bằng đường tỉnh lộ 209 đối chiếu
với bản đồ địa chính đo đạc năm 2015 của phường H để xác định được phần
diện tích đất bị thu hồi như trên.
Tại Biên bản hoà giải ngày 25/11/2016, ông ý kiến “thửa đất số 263 đã
bị thu 212m
2
căn cứ theo đồ giải phóng mặt bằng các tài liệu liên quan
đến việc thu hồi thực hiện giải phóng mặt bằng làm đường tỉnh l 209. Tuy
nhiên, do sự luân chuyển công tác giữa các công chức địa chính đất đai trên
địa bàn thành phố C nên ông đã chuyển công tác không còn công chức địa
chính đất đai phường H từ tháng 6/2017 đến nay. Trước khi chuyển công tác,
ông đã bàn giao các tài liệu liên quan đến chuyên môn cho cán bộ công chức địa
chính đất đai kế nhiệm của phường H nên về các tài liệu lưu trữ của phường H,
cụ thể các tài liệu liên quan đến việc giải phóng mặt bằng làm đường tỉnh lộ
209, ông không nắm được có còn lưu trữ tại UBND phường H hay không.
Tại biên bản xác định phần diện tích đất đai đang tranh chấp giữa gia đình
ông Phan Sầm P với ông Nguyễn Văn C ngày 08/3/2017 nội dung “diện tích
đương sự đang tranh chấp tại một phần thửa đất số 263, tờ bản đồ số 15 với diện
tích tranh chấp 125,4m
2
(19m x 6,6m). Trong tổng số diện tích đất trên Nhà
nước đã thu hồi giải phóng mặt bằng mở rộng đường tỉnh lộ 209 trước đây
gia đình ông Phan Sầm P đã nhận tiền đền bù”. Việc xác định diện tích tranh
chấp trên tại thời điểm lập biên bản do các bên đương sự mặt đã chỉ trực
tiếp tại thực địa (ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 và ông Nguyễn Văn C)
đo với phương pháp thủ công bằng thước dây. Khi thực hiện việc xác định diện
tích đất tranh chấp tại thực địa sự tham gia của cán bộ pháp, ông công
chức địa chính đất đai và tổ trưởng tổ dân phố.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng ông Phan Y trình bày: Ông làm chủ nhiệm HTX Đại Thắng. Ông biết
nguồn gốc đất, là đất của họ Phan năm 1961 ông Phan M - là bố đẻ ông P đã đưa
đất vào HTX. Năm 1990 - 1991, khi tan HTX đất của gia đình đã trả lại cho gia
đình đtiếp tục canh tác. Qua hai lần làm đường đã lấp một số ruộng của gia
đình ông P, diện tích bao nhiêu ông không rõ.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng ông Mạc Văn N1 trình bày: Ông nguyên tổ trưởng tổ G, phường H,
thành phố C giai đoạn 2006 - 2016. Nguồn gốc đất đang tranh chấp (thuộc thửa
đất 263, tờ bản đồ số 13) do bố mẹ đẻ ông Nguyễn Văn C khai phá (ông Nguyễn
Văn H4 và bà Trần Thị V1) từ khoảng những năm 1960 và gia đình ông Nguyễn
Văn H4 vẫn canh tác, trồng cây trên đất (trồng chuối). Từ đó đến khoảng năm
1992, ông C xây dựng 01 nhà gđể kinh doanh may mặc tuy nhiên sau đó do ít
sử dụng nên đã mục nát. Hiện nay, trên đất không có tài sản gì chỉ có một số cây
14
do nhà ông C trồng. Khoảng năm 2009, nhà nước chủ trương thu hồi đất làm
đường tỉnh lộ 209, phần đất của gia đình ông C khai phá đã bị thu hồi một phần
để làm đường. Phần bị thu hồi đã được nhà nước bồi thường (cả đất và hoa màu)
P1 người được nhận tiền đền bù. Đối với phần đất đang tranh chấp
trước năm 2006 ranh giới ràng, chỉ bờ ruộng còn đất ruộng nằm dưới
(phần đất tranh chấp cao hơn ruộng nhà Phái Phiên khoảng 02m). Đến khoảng
năm 2010, gia đình Phái P2 tiến hành đổ đất lấp ruộng nên ranh giới không còn
được ràng. Trước đó, gia đình ông C đã cắm cọc tre để xác định ranh giới đất
tuy nhiên sau khi nhà P Phiên đổ đất thì đã lấp cả cọc tre nên mới xảy ra tranh
chấp. Theo ông, phần đất đang tranh chấp là của ông H4, bà V1 khai phá.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng ông Nguyễn Văn T6 trình bày: Phần đất đang tranh chấp giữa ông P bà P2
ông C thực tế trước đây bờ ruộng tiếp giáp với phần ruộng của nhà ông P,
P2. Tuy nhiên, phần ruộng này năm 2010 đã bị nhà nước thu hồi để làm
đường tỉnh lộ 209. Khoảng những năm 1974 - 1975, ông H4 (bố ông C) thấy
phần bờ ruộng không ai sử dụng nên đã dùng phần đất đó để đổ sỉ sắt (do ông
H4 xưởng làm khí). Trên đất không gia đình nào canh tác, trồng trọt.
Đến khoảng năm 1994, ông C san gạt đất để dựng lán may mặc tuy nhiên hiện
nay lán này đã không còn do ông C phá đi để trồng cây. Khoảng năm 2010, nhà
nước có chủ trương thu hồi đất để làm đường tỉnh lộ 209 nhà ông P, bà P2 bị thu
hồi một phần đất đã được nhận tiền đền bù. Theo ông, phần đất đang tranh
chấp là bờ ruộng hoang giữa hai thửa ruộng của nhà Phái P2 (hai thửa ruộng của
nhà Phái Phiên gồm một thửa phía trên, một thửa phía dưới) không thuộc
quyền quản lý sử dụng của ai. Khi ông C san gạt để dựng lán, ông C xếp gạch
đất để đất không rơi xuống ruộng phía dưới của nhà Phái P2 tuy nhiên do
điều kiện thời tiết mưa gió nên đất phía brơi xuống đất ruộng của nhà Phái
P2.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng Hoàng Thị Đ3 trình bày: Theo được biết phần đất đang tranh chấp
giữa ông P, bà P2 ông C đất bờ ruộng của ông M, C2 (bố mẹ đẻ ông P)
thường xuyên thấy gia đình ông M canh tác trên phần đất đó. Sau đó
khoảng năm 1968, ông H4 (bố ông C) đến dựng lán tre để trên phần bờ ruộng
của ông P, P2. Sau khi nhà nước chủ trương làm đường tỉnh lộ 209,
không biết việc phần đất đang tranh chấp có bị thu hồi hay bồi thường gì không.
Theo bà phần đất đang tranh chấp là bờ ruộng của nhà ông P, ông P2.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng ông Phan Văn Đ2 trình bày: Theo ông được biết nguồn gốc đất đang
tranh chấp giữa Hoàng Thị P1, ông Phan Sầm P và ông Nguyễn Văn C đất
do tổ tiên ông Phan Sầm P khai phá. Về quá trình tranh chấp hay việc thu hồi đất
liên quan đến việc tranh chấp ông không nắm được vì ông đã thoát ly đi bộ đội
từ năm 1966.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng ông Vi Văn T7 trình bày: Năm 1985 đến năm 1988 ông là đội phó đội sản
15
xuất 3A Hợp tác Đại Thắng. Lúc đó, khu ruộng Càng Ma giao cho tổ N canh
tác. Trong đó có đám ruộng sát đường đi và đường đi xuống lấy nước ở M muối.
Sau đó là chỗ đổ vật liệu để xây nhà trên của ông C. Đám ruộng trên diện tích
bao nhiêu ông không rõ.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm, người làm
chứng Bế Thị D2 trình bày: Tkhi sinh sống tại tổ G, phường H, thành
phố C (năm 1985) đã thấy ông H4 V1 làm đất vườn tại phần đất đang tranh
chấp. Khoảng năm 1992, H2 dựng nhà 03 gian chuồng lợn trên đất đang
tranh chấp. Khi làm đường Đàm Ngụy nhà 03 gian chuồng lợn bị phá dỡ để
làm đường. Sau khi làm đường xong, Lăng Thị L3 (vợ của ông C) dựng
quán bán hàng gạo và đồ may mặc. Đến khi nhà nước làm đường tỉnh lộ 209, lán
này của L3 lại bị phá dỡ để làm đường. Trước đây, ông P bà P1 một mảnh
ruộng phía ngoài (giáp thửa 262 của P, ông P1). Tuy nhiên, mảnh ruộng này
đã bị thu hồi hết để làm đường Đàm Ngụy.P1, ông P chỉ có mảnh ruộng phía
trong (thấp hơn đất nhà ông C) giáp đất ông Đông H6.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Hoàng Thị P1 trình bày: Năm 1990, gia đình chồng
chia đất ông P được chia 04 thửa đất ruộng gồm thửa đất 262, 263, thửa đất
58 (diện tích 26m
2
- đã bán cho ông Hoàng L4, sau đó ông L4 lại bán cho ông
Nguyễn Đông H6) thửa đất 13a, diện tích 126m
2
(thửa đất hiện nay đang
ở). Thửa đất 262 263 được ông Phan Sầm M Hoàng Thị C2 (bố mẹ
chồng bà) đưa vào HTX năm 1961. Khi tan HTX năm 1989, gia đình lấy lại
những phần đất này. Thời điểm năm 1990, đường ô đi cắt đôi phần đất
đang phần đất đang tranh chấp. Trước đây, gia đình không cho ai thuê
ruộng. Thửa đất 262 thấp hơn thửa đất 263, thửa đất 263 thấp hơn mặt đường
20cm. Thửa đất 263 hơn thửa đất 262, thửa đất 263 dài theo đường hẹp 02
đầu (hình vòng cung). Khi nhà nước làm đường thì làm cống qua dưới thửa đất
263 nên thửa đất 263 mới bằng mặt đường; do không nước làm ruộng nên
trồng chuối, rau lang. Khi chuyển đổi mục đích từ đất ruộng thành đất vườn
không làm thủ tục tự ý chuyển mục đích. Thửa đất 263 khi vợ chồng
được chia đất ruộng chuyển đổi thành đất vườn do trong biên bản nhận tiền
đền bù ghi đất vườn.
Tại khu vực đang tranh chấp nhà nước làm đường 02 lần cụ thể: lần 01
năm 1995 nhà nước mở đường cấp phối, gia đình bà được đền 200.000 đồng
(hai trăm nghìn đồng) (thực tế nhà nước đã trả tiền đền nhưng không
giấy tờ bồi thường); lần 02 năm 2006 gia đình được trả tiền bồi thường mở
rộng đường tỉnh lộ 209 là 18.672.000 đồng (đất và hoa màu) do bị thu hồi 212m
2
(năm 2009 nhà nước mới thi công). khẳng định việc thửa đất 263 bị thu hồi
212m
2
đất bởi thửa đất 263 giáp đường. Năm 2004, ông C đổ đất vào thửa đất
262 với mục đích san gạt lấn chiếm đất nên gia đình bà làm đơn lên UBND xã H
UBND xác định diện tích đất tranh chấp giữa hai gia đình 36m
2
đất
(36m
2
đất tranh chấp với ông C nằm trong 212m
2
đất đã bị thu hồi nên không
còn diện tích đất tranh chấp với ông C). Theo thông báo kết quả giải quyết khiếu
16
nại về việc tranh chấp đất đai số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 của UBND xã
H cũng xác định 36m
2
hiện đang tranh chấp thuộc thửa số 263 của gia đình
ông Phan Sầm M đưa vào HTX đã chia cho con Phan Sầm P. Diện tích
36m
2
này UBND xã yêu cầu ông Nguyễn Văn C giao lại đất cho gia đình bà
nhưng ông C không thực hiện. Sau khi bị thu hồi, thửa đất 263 còn 95m
2
dọc
theo bờ đường (cột điện). Thời điểm ông C đổ đất gia đình chưa lấp đất, nhà
nước cũng chưa mở rộng đường tỉnh lộ 209 đất vẫn còn nguyên hiện trạng.
Gia đình bà lấp thửa đất 262 năm 2006 để ngang bằng thửa 263 nhà ông
Nguyễn Đông H6 làm ao không có chỗ thoát nước (không nhớ thời điểm ông H6
làm ao). Phần đất này, ông H6 mua với ông T8 (con ông M2) giáp với thửa đất
262 và thửa đất 58.
Thửa đất 263 không có bờ trên do sát đường, có bờ dưới với thửa đất 262;
thửa đất 263 262 bờ thoai thoải với chiều rộng 1,5m. Trên thửa đất 263
không đất của ông H4 (bố ông C) hay đất của H5. Bố mẹ chồng chia
cho các phần đất năm 1990 tuy nhiên gia đình vẫn quản sử dụng mặc
sống tại Pác Cáy đến năm 1997 mới về sinh sống tại tổ G, phường H, thành phố
C. Phần đất đang tranh chấp đất ruộng không phải đất bđường. Năm 2017,
gia đình bà dựng lán xây xát trên thửa đất 262. Phần đất từ bụi tre (gần cây chẩu
nhà ông C1) kéo đến ngã ba đất nhà bà. Thửa đất 263 cách bảng thông báo
của tổ dân phố 01m kéo dài vòng theo mặt đường 09m, rộng vào 04m. Thửa đất
263 chỉ bị thu hồi một phần từ giáp ranh ông Phạm Ngọc C1 đến nhà ông
Nguyễn Đông H6 với diện tích 212m
2
. Phần đất của ông C, L không cắt qua
đất của bà. Năm 2009, nhà nước thu hồi đất làm đường ngoài thì L được
bồi thường cây xoan. Khi L được bồi thường không biết. Cây xoan nằm
góc trước cửa nhà L (về hướng nhà ông H6). Cây xoan bà L được bồi thường
tự mọc nhưng L tự nhận cây xoan đó do L trồng. Trên thửa đất 262, bà đã
trồng che và chuối. Bà yêu cầu được lấy lại những tài sản này.
Diện tích đất tranh chấp đều nằm trong thửa đất 262, 263 của gia đình bà
nên diện tích tranh chấp 125m
2
được xác định khi ông C yêu cầu đo đạc lại
đúng. Đối với diện tích 0,2m
2
(cạnh tiếp giáp chung của phần đất tranh chấp
giữa bà, ông Phan Sầm P với ông Nguyễn Văn C phần đất tranh chấp giữa bà
Lương Thị L bà, ông Phan Sầm P) theo đồ xác định thuộc phần đất tranh
chấp giữa bà, ông Phan Sầm P ông Nguyễn Văn C nhất trí. Diện tích đất
02m
2
được xác định qua đo đạc lấn vào thửa đất của ông Phạm Ngọc C1, các
bên đã tự thống nhất, thỏa thuận không yêu cầu giải quyết trong vụ án này và trừ
đi trong tổng số diện tích đất tranh chấp. yêu cầu ông C phải trả lại cho gia
đình bà diện tích đất tranh chấp 125m
2
thuộc thửa đất 262 và 263.
Nguyên đơn ông Phan Sầm P trình bày: Năm 1990, ông được bố mẹ chia
cho 04 thửa đất trong đó thửa đất đang tranh chấp. Khi gia đình khai xin
cấp GCNQSDĐ thửa đất 263 ghi nội dung được thừa kế. Gia đình ông đã bị
thu hồi 212m
2
đất của thửa đất 263 và được bồi thường số tiền 18.672.000 đồng
(mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) nên yêu cầu của vợ chồng
ông buộc ông C trả lại đất là có căn cứ.
17
Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày: Diện tích đất của gia đình ông
khoảng 100m
2
được bố mẹ ông khai phá từ năm 1965. Năm 1997, bố mẹ ông
giao lại phần đất này cho ông tại Giấy chuyển giao quyền sử dụng ngày
05/8/1997. Tại giấy này bố ông giao lại nhà, cây trên đất; còn đất thì gồm đất
đang tranh chấp đất hiện nay ông đang ở. Ngoài giấy tờ này ra, ông không
còn giấy tờ nào khác. Trước đó 01 con đường đi qua phần đất đang tranh
chấp phần đất hiện nay ông đang ở. Thửa đất 263 bờ thửa giáp đường.
Đường cách thửa đất 263 20cm, thửa đất 263 cách thửa đất 262 02m. Đất
của gia đình ông với thửa đất 262 và 263 có ranh giới được kè bằng tre. Khi nhà
nước làm đường Đàm Ngụy năm 1995, ông P đã bị thu hồi hết phần đất sát
đường. Gia đình ông không tranh chấp đất đai với gia đình ông P. Đất nhà
ông là đất vườn (taluy thoai thoải) còn đất của ông P được chia là đất ruộng.
Lán xay xát hiện nay của ông P được dựng trên thửa đất 262, sân trước
của lán xay xát phần đất L mua với H5. Phần đất L mua với H5
(H1) liền với đất bố ông khai phá. Đất của gia đình ông P thấp hơn đất gia đình
ông khoảng 02m. Vườn của H5 (bán đất cho bà L) thấp hơn ruộng của ông P
nhưng lại cao hơn thửa đất 262 của ông P. Thửa đất 263 gia đình ông chỉ có một
phần đất, một phần của nhà ông P, một phần của H5. Ông P lấp thửa đất 262
năm 2005 - 2006. Khi nhà nước thu hồi đất mở rộng đường tỉnh lộ 209, ông
được xác định đất thu hồi nhưng do không nhất trí về giá nên ông không nhận
tiền đền tuy nhiên ông không nhớ thời điểm. Ông không tài liệu về việc
thỏa thuận giá cả đền bù tiền thu hồi đất. Ông người đã trồng tre, chuối, nhãn,
cây vạn thọ trên phần đất đang tranh chấp. Những tài sản này người nào được
tòa án tuyên quyền sử dụng thì được toàn quyền sở hữu.
Ông nhất trí với đồ trích đo địa chính khu đất sau khi tiến hành xem
xét, thẩm định lại ngày 05/7/2024 với diện tích tranh chấp là 125m
2
. Đối với
diện tích 0,2m
2
(cạnh tiếp giáp chung của phần đất tranh chấp giữa ông Phan
Sầm P, bà Hoàng Thị P1 với ông và phần đất tranh chấp giữa bà Lương Thị L
ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1) theo đồ xác định thuộc phần đất tranh
chấp giữa ông ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 ông nhất trí. Diện tích đất
02m
2
được xác định qua đo đạc lấn vào thửa đất của ông Phạm Ngọc C1, các
bên đã tự thống nhất, thỏa thuận không yêu cầu giải quyết trong vụ án này và trừ
đi trong tổng số diện tích đất tranh chấp. Ông không nhất trí với yêu cầu khởi
kiện của ông P P1 buộc ông trả lại diện tích đất 125m
2
thuộc thửa đất 262 và
263. Ông không yêu cầu ông P bà P1 trả lại số tiền đã nhận đền bù đất
18.672.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị L trình bày: Đối với
diện tích 0,2m
2
(cạnh tiếp giáp chung của phần đất tranh chấp giữa ông Phan
Sầm P, Hoàng Thị P1 với ông Nguyễn Văn C và phần đất tranh chấp giữa
ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1) theo đồ xác định thuộc phần đất tranh
chấp giữa ông Nguyễn Văn C ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 nhất trí,
không có ý kiến gì.
18
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 trình bày: Phần
đất tranh chấp do bố mẹ khai phá năm 1964 khoảng 03ha bao gồm khu đất
ông C hiện nay đang ở, khu đất bà đang ở và phần đất đang tranh chấp. Phần đất
khai phá này gia đình sử dụng ổn định. Năm 1992, dựng nhà ba gian gỗ
nhỏ chuồng lợn tại vị trí đất đang tranh chấp. Ngôi nhà của sau đó dỡ bỏ
vào năm 1994 do khi làm đường Đàm Ngụy đường cao hơn nhà (nhà sát mặt
đường) chuyển lên trên đường (nhà hiện tại đang ở). được bồi thường
số tiền 154.000 đồng (một trăm năm mươi tư nghìn đồng). Khi ngôi nba
gian, phần đất này không có tranh chấp gì. Sau khi làm đường xong ông C dựng
lán bán hàng năm 1996. Đến năm 1998 - 1999, ông C dỡ quán để trồng cây.
Ruộng của gia đình ông P phía dưới đất nhà bà. Thửa đất 262, 263 sát nhau
(liền kề). Thửa đất ruộng bố mẹ ông P để lại đã được bồi thường khi đơn vị bộ
đội 86 làm đường. Phần đất đang tranh chấp liền kề với đất ruộng ông P đã được
bồi thường. Khi mở rộng đường tỉnh l209 ban giải phóng mặt bằng gọi ông C
nhưng ông C không nhất trí với giá bồi thường. Sau đó, thắc mắc tại sao về
sau gia đình ông P lại người nhận tiền bồi thường. không nhất trí với yêu
cầu khởi kiện của ông P, bà P1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1 trình bày: Diện
tích đất đang tranh chấp đất của gia đình đất đó chân đồi thoai thoải,
gia đình đã san gạt xuống để làm đường. Đất L mua với ông T9 (bà H1)
liền với đất nhà bà. Khi bà L mua đất với bà H1, ông P3 con bà H1 được chỉ đất.
Ruộng nhà ông P sát mặt đường khi nhà nước làm đường đám đất này đã bthu
hồi hết. Gia đình bà không có tranh chấp 36m
2
với ông P. Khi Sở giao thông vận
tải làm việc với ông C để bồi thường phần đất thu hồi, ông C không nhất trí với
phương án bồi thường nên đã không nhận tiền bồi thường. Do đó, UBND H
thời điểm đó đã ký cho gia đình ông P nhận tiền bồi thường và nhà ông P căn cứ
vào đó để khởi kiện gia đình bà. Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông
P P1 yêu cầu ông P P1 trả tiền đền đất đã nhận cho gia đình
18.672.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThT3 trình bày: Phần
diện tích đất đang tranh chấp là phần đất gia đình bà khai phá. Theo GCNQSDĐ
đã cấp cho ông P không thửa đất 263. Thửa đất 263 đất của gia đình
L. Khi làm đường tỉnh lộ 209 đã thu hồi 212m
2
, tiền bồi thường giải phóng
mặt bằng của thửa đất 263 thuộc gia đình tuy nhiên do sai sót của UBND xã
H nên đã trả tiền đền này cho gia đình bà P1. không nhất trí với yêu cầu
khởi kiện của ông P P1 yêu cầu ông P P1 trả tiền đền đất đã nhận
cho gia đình 18.672.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn
đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThT1 trình bày: Phần
diện tích đất đang tranh chấp phần đất gia đình khai phá. nhất trí với ý
kiến trình bày của các em bà. Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông P,
P1.
19
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn ThT2 trình bày: Phần
diện tích đất đang tranh chấp phần đất gia đình khai phá từ năm 1964. Gia
đình đã sử dụng ổn định, lâu dài. Thửa đất 263 không phải đất ruộng, không
ai trồng tre trên đất ruộng. Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông P bà
P1.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn luật Đinh Thị
H7 trình bày: Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2018, ông Phan Sầm P đề nghị Tòa
án nhân dân thành phố Cao Bằng công nhận diện tích 114,5m
2
nằm trên 02 thửa
đất 262 263 thuộc xóm T, H (nay tổ A, phường H, thành phố C, tỉnh
Cao Bằng) hiện ông Nguyễn Văn C đang chiếm giữ đất của gia đình ông.
Buộc ông C tháo dỡ các ng trình, chuyển cây cối trên phần đất đang tranh
chiếm giữ, trả lại mặt bằng để gia đình sử dụng, canh tác. Các căn cứ để chứng
minh phần diện tích đất ông Nguyễn Văn C đang chiếm giữ đất của gia
đình ông P bao gồm:
Mảnh đất ông C đang quản lý, sử dụng 114,5m
2
thuộc thửa đất số 262,
263 của bố mẹ ông P (khu ruộng Càng Ma). Năm 1961, ông Phan Sầm M (bố
ông P) đưa vào HTX. Khoảng năm 1990, khi tan HTX bố mẹ ông P lấy lại các
phần ruộng đất và chia cho các con. Ông P được chia cho một số ruộng đất trong
đó 02 đám ruộng thuộc thửa đất 262, 263 theo biên bản họp gia đình ngày
03/2/1990. Sau khi được chia ruộng đất, ông P đã yêu cầu gia đình ông C
chuyển hết số vật liệu khi làm nhà ông Nguyễn Văn H4 (bố ông C) đã đổ
xuống 01 góc ruộng thửa đất 263 để trả lại đất cho gia đình. Qua rất nhiều lần
gia đình ông P yêu cầu ông C phải trả lại đất nhưng ông C không những không
trả còn dựng 01 lán nhỏ lên đó. Ngày 06/3/2004, UBND H đã tiến hành
xác minh và xác định diện tích đất tranh chấp là 36m
2
thuộc thửa đất 263 thuộc
quyền quản của ông P. Tại thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 của
UBND H thông báo kết quả giải quyết khiếu nại việc tranh chấp đất đai đã
nêu rõ: “Sau khi thu thập các căn cứ Ban pháp đã kết luận khu đất ruộng
Càng Ma trong đó có 36m
2
hiện đang tranh chấp thuộc thửa đất số 263 là của gia
đình ông Phan Sầm M đưa vào HTX và đã chia cho ông Phan Sầm P. Từ khi còn
HTX đến khi xảy ra tranh chấp thì HTX gia đình ông P vẫn canh tác không
bỏ hoang hóa thửa đất 263 (ruộng). Việc gia đình ông C nhận mảnh đất trên của
gia đình ông khai phá không đủ sở. Do đó, ban pháp đề nghị gia đình
ông Nguyễn Văn C phải trả lại số đất đang tranh chấp diện tích 36m
2
cho gia
đình ông Phan Sầm P”. Tuy nhiên, gia đình ông C không trả lại 36m
2
đất cho gia
đình ông P.
Ngày 14/12/1996, gia đình ông P viết đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất.
Tại biên bản tổng hợp kết quả khai đơn đăng cấp GCNQScủa H,
thửa đất số 262 của gia đình ông P diện tích 344m
2
, thửa đất 263 diện tích
307m
2
. Thửa đất 262 đã được cấp GCNQSDĐ còn thửa 263 do tranh chấp
với gia đình ông C nên chưa được cấp GCNQSDĐ. Đầu năm 2006, do nhà nước
xây cống thoát nước thấp hơn thửa ruộng 263 nên không cấy lúa được gia đình
20
ông P đã đổ đất san gạt thửa 262 bằng với thửa 263 và bằng mặt đường để trồng
hoa màu.
Khoảng năm 2009 - 2010, khi mở đường tỉnh lộ 209 gia đình ông P bị nhà
nước thu hồi 212m
2
đất vườn kề nhà; được đền tổng số tiền 18.672.000
đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng) theo biên bản nhận
tiền đền ngày 18/10/2006 trong đó tiền đất 18.020.000 đồng (mười tám
triệu không trăm hai mươi nghìn đồng) tiền các loại cây cối 552.000 đồng
(năm trăm năm mươi hai nghìn đồng). Tại biên bản làm việc ngày 07/12/2017
của UBND phường H làm rõ việc quản lý và sử dụng đất của ông P đối với thửa
đất 262, 263, tờ bản đồ số 13 theo thông báo số: 469/TB-TA ngày 20/9/2017 của
Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xác định được: thửa đất đang tranh chấp
diện tích 114,5m
2
thuộc đất trồng cây lâu năm trong đó 50m
2
thuộc thửa đất
262, tờ bản đồ số 13 và 64,5m
2
thuộc thửa đất 263, tờ bản đồ số 13.
Tại biên bản hiện trường về việc thẩm tra, xác minh phần diện tích đất
nằm trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường bthuộc tổ A, phường
H ngày 03/7/2018 được kết luận như sau: Phần diện tích đất hiện đang bị ông
Nguyễn Văn C chiếm giữ đang lấn chiếm vào đất của đường bộ 15,3m
2
phần diện tích đất của thửa đất 263 giáp đường tỉnh lộ 209 nằm trong phạm vi
hành lang an toàn đường bộ. Phần diện tích 15,3m
2
là phần diện tích đất tại thửa
263 đã đền bù.
Như vậy, n cứ vào Điều 98, 100 Luật đất đai 2013, Điều 18 Nghị định
số: 43/2014/NĐ-CP khoản 16 Điều 2 Nghị định số: 01/2017/NĐ-CP vgiấy
tờ chứng minh quyền sử dụng đất thì gia đình ông P đã các loại giấy tờ sau:
giấy tờ thừa kế đất đai của bố mẹ để lại (biên bản họp gia đình ngày
03/02/1990); giấy đăng quyền sử dụng đất; biên bản đền đất và hoa màu
ngày 18/10/2006; thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 của UBND
H; thông báo số 469/TB-TA ngày 20/9/2017 của UBND phường H. Tnhững
căn cứ trên đề nghị Tòa án nhân dân Cao Bằng xem xét chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của ông P, P1 buộc gia đình ông C trả lại 125m
2
đất và tháo dỡ các công
trình, chuyển cây cối trên phần đất đang chiếm giữ.
Tại phiên tòa ngày 09/8/2024, những người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan bà Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị H1 yêu cầu ông P, P1 trả lại số tiền
đã đền 18.672.000 đồng (mười tám triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng)
không căn cứ cũng không nằm trong phạm vi của vụ án này. Nếu gia
đình ông C yêu cầu thì phải làm đơn khởi kiện trong một vụ án khác.
Tại bản án dân sthẩm số 48/2024/DS-ST ngy 15/8/2024 của To
án nhân dân thnh phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, 157, 158, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân s năm 2015; Căn cứ
Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Căn cứ khoản 3 Điều 157 Luật đất đai năm
2013; Căn cứ khoản 4 Điều 43 Luật giao thông đường bộ năm 2008; Căn cứ
Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số
21
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án plệ phí Tòa
án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 yêu cầu ông Nguyễn Văn C trả lại diện tích đất
thực tế 37,7m
2
thuộc thửa đất s262, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995)
nay là một phần thửa đất số 72 và một phần thửa đất số 73, tờ bản đồ số 47 (bản
đồ địa chính năm 2015) tại tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 được quyền sử dụng diện tích đất thực
tế 37,7m
2
thuộc thửa đất số 262, tbản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995) nay
một phần của thửa đất số 72 và một phần thửa đất số 73, tờ bản đồ số 47 (bản đồ
địa chính năm 2015) địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Phần
đất này thuộc hành lang an toàn giao thông chịu sự điều chỉnh của quan
quản nhà nước về giao thông. Ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 chỉ được
dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, không được xây dựng công trình kiên
cố, công trình tạm, không được làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông kết
cấu hạ tầng giao thông. Phần đất này có tứ cận tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp phần đất còn lại của thửa đất 263.
- Phía Tây giáp phần đất còn lại của thửa đất 262.
- Phía Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất 263.
- Phía Nam giáp phần đất còn lại của thửa đất 263, 262.
Ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 được quyền shữu những tài sản trên phần
đất được quyền sử dụng.
Ông Nguyễn Văn C được quyền sử dụng diện tích đất thực tế 85,3m
2
thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13 (bản đồ địa chính 1995) nay là thửa đất s
72, tbản đồ số 47 (bản đồ địa chính 2015) địa chỉ: tổ G, phường H, thành phố
C, tỉnh Cao Bằng. Phần đất này thuộc hành lang an toàn giao thông chịu sự
điều chỉnh của cơ quan quản nhà nước về giao thông. Ông Nguyễn Văn C chỉ
được dùng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, không được xây dựng công trình
kiên cố, công trình tạm, không được làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông
kết cấu hạ tầng giao thông. Phần đất này có tứ cận tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp ông Phạm Ngọc C1.
- Phía Tây giáp thửa đất 262.
- Phía Đông giáp đường tỉnh lộ 209.
- Phía Nam giáp phần đất tranh chấp giữa Lương Thị L ông Phan
Sầm P, Hoàng Thị P1.
Ông Nguyễn Văn C được quyền sở hữu những tài sản trên phần đất được quyền
sử dụng. (Có bản đồ trích đo địa chính khu đất kèm theo bản án)
22
Đối với diện tích đất 02m
2
thuộc thửa đất 233, tờ bản đồ số 13 nguyên đơn, bị
đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc C1 đã tự thống nhất
thỏa thuận ông Phạm Ngọc C1 không yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố
Cao Bằng giải quyết tranh chấp đối với phần diện tích thuộc thửa đất 233, tờ bản
đồ số 13 (bản đồ địa chính năm 1995) trong vụ án này nên Hội đồng xét xử
không xem xét, giải quyết đối với phần diện tích đất này.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí
quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ông P, P1, H2 không đồng ý với bản án do
Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng; Cụ thể:
+ Nguyên đơn Hoàng Thị P1Phan Sầm P đã có đơn kháng cáo gửi Toà
án đề ngày 27/8/2024 với nội dung: Không nhất trí với bản án dân sự sơ thẩm số
48/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh
Cao Bằng. Đề nghị thẩm định lại toàn bdiện tích 262 263 tờ bản đồ số 13
(bản đồ địa chính 1995).
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 đã có đơn kháng
cáo gửi Toà án đề ngày 29/8/2024 với nội dung: Không nhất tvới bản án dân
sự thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của Toà án nhân dân thành phố
Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng về cách tham gia tố tụng của Nguyễn Thị H2,
Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Thị
T1, Nguyễn Văn T4 phần chi phí tố tụng (chi phí xem xét thẩm định tại chỗ)
và án phí dân sự sơ thẩm.
Ti phiên tòa phúc thm:
Hoàng Thị P1, ông Phan Sầm P Nguyn Th H2 gi nguyên yêu
cu kháng cáo, gi nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình gii quyết ti Tòa
án sơ thẩm.
Đồng nguyên đơn Người bo v quyn li ích hp pháp ca nguyên
đơn - Luật sư Trnh Xuân T thng nht trình bày:
Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ông Phan Sầm P Hoàng
Thị P1 nộp trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo
quy định của pháp luật, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về phần đánh giá chứng cứ, nhận định về nguồn gốc, quá trình sử dụng
đất, của Toà án thẩm đối với phần diện tích đất đang tranh chấp không
đúng với thực tế sử dụng đất, các tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc thửa đất đó
trong hồ sơ vụ án và các quy định của pháp luật.
- Đối với tên đám ruộng Càng Ma:
Toà án cấp thẩm đã nhận định “Phần diện tích ruộng ông P được chia
trong biên bản họp gia đình này chỉ ghi nhận chung chung tên cũng như diện
tích được chia, không thể hiện 775m
2
thửa đất nào, vị trí tại đâu, phải
diện tích đất tranh chấp hay không. Qua xác minh với công chức địa chính đất
23
đai phường H, được biết phường không xác định được đám ruộng Càng Ma diện
tích 775m
2
vị trí nào do thông tin trong sổ mục ruộng đất bản đồ địa
chính năm 1995 không có tên xứ đồng”.
Nhận định này của Toà án cấp thẩm không đúng với thực tế hiện
trường và hồ sơ của vụ án, bởi lẽ:
- Một là: Tại Biên bản họp giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai gia đình
ông Nguyễn Văn C ông Phan Sầm P tại hội trường UBND ngày
06/03/2006 (BL23), đã xác định đám ruộng Càng Ma, trong đó có diện tích đang
tranh chấp giữa gia đình ông P gia đình ông C, thuộc thửa đất số 263. Tại
Thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/07/2006 của UBND xã H (BL25) thông
báo kết quả giải quyết khiếu nại việc tranh chấp đất đai đã tiếp tục khẳng định
có đám ruộng Càng Ma, và đám ruộng đó thuộc thửa đất số 263.
- Hai là: Tại Đơn xin trình bày ý kiến ngày 06/01/2024 (BL 412-414),
Nguyễn Thị T3 đã xác nhận khu ruộng của nhà ông P tên gọi Càng M3;
tại các Biên bản lấy lời khai ngày 14/05/2021 của Nguyễn Thị H2 (BL 160-
161), Nguyễn Thị T1 (BL158-159); Nguyễn Thị T2 (BL162-163) ,
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng xác nhận tên gọi Gàng Ma
(Càng M) tên gọi của đám ruộng này thửa đất đang tranh chấp thuộc thửa
đất số 263, tờ bản đồ số 15 thuộc đám ruộng này.
- Ba là: Tại các tài liệu trong hồ khởi kiện của nguyên đơn: Đơn khởi
kiện đề ngày 25/06/2019 (BL 01-02), Biên bản họp gia đình để chuyển quyền
đất đai cho các con được hưởng thừa kế ngày 03/02/1990 (BL16-17)… đều xác
định tên gọi đám ruộng tên Càng M3, thửa đất đang tranh chấp thuộc
thửa đất số 263, tờ bản đồ số 15 thuộc đám ruộng này.
Từ đó sở để khẳng định tên đám ruộng có tên là Càng M3 thật,
được thể hiện trong các tài liệu, chứng cứ của vụ án, được các đương sự trong
vụ án thừa nhận.
Đối với nhận định thông báo số 173/TB-UBND: Toà án cấp thẩm nhận
định: Trong Thông báo số 173/TB-UBND ngày 10/07/2006 của UBND H
ngày 10/07/2006 của UBND H ghi nhận nội dung: “Sau khi thu thập các căn
cứ Ban pháp đã kết luận khu đất Càng Ma trong đó 36m
2
hiện đang
tranh chấp thuộc thửa đất số 263 là của gia đình ông Phan Sầm M đưa vào HTX
và đã chia cho các con là ông P canh tác, không bỏ hoang hoá thửa đất 263. Việc
gia đình ông C nhận mảnh đất trên của gia đình khai phá không sở.
Do đó, Ban pháp đề nghị gia đình ông Nguyễn Văn C phải trả lại sđất hiện
đang tranh chấp diện tích 36m
2
cho gia đình ông Phan Sầm P”. Đối với nhận
định này của UBND xã H, qua xác minh xác định được không tài liệu nào về
việc xác định căn cứ ban hành thông báo này của UBND xã vào thời điểm đó.
Nhận định này của Toà án cấp thẩm chưa phù hợp với các tài liệu khác
trong ván, bởi lẽ: Thông báo này được UBND ban hành trên sở kết
quả họp giải quyết tranh chấp đất đai ngày 06/03/2006 (BL23-24) giữa hai gia
đình ông Nguyễn Văn C và ông Phan Sầm P, P1 của UBND xã H. Theo Biên
24
bản này, Hội đồng họp giải quyết tranh chấp đất đai đã kết luận nội dung
được Toà án cấp sơ thẩm nhận định.
Đối với nhận định lời xác nhận của ông Phan Y: Toà án cấp thẩm đã
nhận định: “Ngoài lời trình bày này ông Phan Y không đưa ra được các tài liệu
chứng minh việc các thửa đất tại khu vực Càng Ma được đưa vào HTX Đại
Thắng cũng như việc trả lại đất khi tan HTX; Các thửa đất được ông M, C2
đưa vào hoặc nhận lại có phải là thửa đất đang tranh chấp hay không.”
Khi xem xét đánh giá các tài liệu, chứng cứ khác trong vụ án để đưa ra
nhận định này, Tán cấp thẩm chưa đánh giá đầy đủ, sự liên quan của lời
trình bày của ông Phan Y với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể:
Tại Biên bản họp giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai gia đình ông
Nguyễn Văn C ông Phan Sầm P tại hội trường UBND ngày 06/03/2006
(BL23), ông Phan Y khi đó là Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã H đã có ý kiến:
“Về nguồn gốc đất của họ P4, năm 1961 gia đình ông M đưa vào HTX.
Năm 90 -91 HTX chuyển đổi, đất của gia đình nào thì trả lại cho gia đình đó để
tiếp tục canh tác”. tại kết luận của buổi họp này, Hội đồng giải quyết tranh
chấp đất đai cũng đã kết luận đó khu đất Càng Ma. Thực tế sau khi được
nhận lại đất đã đưa vào Hợp tác được trả lại cho gia đình vào năm 1990, gia
đình ông M, C2 đã chia đều cho các thành viên trong gia đình để sdụng
theo đúng mục đích sử dụng của đất theo Biên bản họp gia đình ngày
03/02/1990 (BL16). Tđó thể khẳng định lời xác nhận của ông Phan Y là có
cơ sở.
Về thửa đất đang tranh chấp: Căn cứ vào các tài liệu hồ của vụ án,
Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định, diện tích 125m
2
đất đang tranh chấp, nằm trên
một phần thửa đất số 262 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm 1995 (nay
thửa đất số 73 tờ bản đồ số 47 bản đồ địa chính năm 2015) và thửa đất số 263, tờ
bản số 13 bản đồ địa chính năm 1995 (nay là thửa đất s73 tờ bản đồ số 47 bản
đồ địa chính năm 2015) phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong vụ án
đã được các đương sự thừa nhận. Tuy nhiên tại phần nhận định của Toà án cấp
sơ thẩm về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của các đương sự lại không đúng
với quy định của pháp luật vđất đai, cũng như không phù hợp với các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bởi lẽ:
- Một là: Đối với nhận định: Gia đình ông C quản sử dụng liên tục đối
với phần đất tranh chấp từ thời bố ông C đến nay. Nhận định này trái với các
quy định của pháp luật không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác
trong hồ sơ vụ án, vì:
Trong hồ sơ vụ án, ngoài các lời khai về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng
đất của bđơn, ông Nguyễn Văn C, các người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
các anh, chị em của bị đơn là: ông T4, H2, H1, T1, T2, T3; bị
đơn và các anh chị em của bị đơn không cung cấp hoặc đưa ra các tài liệu,
chứng cứ khác để chứng minh cho lời khai của mình là có cơ sở, căn cứ. Các
nhân chứng là bà D2 (BL589); ông N1 (BL278) đưa ra lời khai để xác nhận việc
25
ông H4, V1 có sử dụng đất tại thửa đất số 263 tờ bản đồ số 13, nhưng không
đưa ra được các chứng cứ để chứng minh lời khai của mình căn cứ, đúng
với sự thật khách quan và trong các lời khai đó có mẫu thuẫn nên không đáng tin
cậy.
Trong Giấy chuyển giao quyền sử dụng đề ngày 05/08/1997 (BL289) của
ông H4, V1 có xác nhận của Khối trưởng T, UBND H chỉ giao cho ông C
quyền sử dụng 2 gian nhà cấp 4 một số y ăn quả đã cho thu hoạch tại địa
chỉ tổ C Khối T, H, thị C không thể hiện được diện tích đất, vị trí đất,
cũng như các thông tin khác để thể xác định được rằng ông H4, bà V1 đã để
lại cho ông C diện tích đất đang tranh chấp với ông P. Ông C trình bày
đồ đất nhưng lại không cung cấp cho Toà án.
Bên cạnh đó tại phần quyết định của bản án, Tòa án cấp thẩm đã áp
dụng Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 đchấp nhận Giấy chuyển giao quyền
sử dụng đất này loại giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất
hoặc tài sản gắn liền với đất để được công nhận quyền sử dụng đất không
đúng với các quy định của pháp luật
Theo quy định tại Điều 31 của Luật Đất đai 1993, thì các giấy tờ liên quan
đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được thực hiện tại UBND cấp
huyện. Do vậy, Giấy chuyển giao quyền sử dụng đất nêu trên, bản chất của văn
bản này là giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất bằng hình thức tặng cho tài
sản, phải được thực hiện tại UBND thị xã C - tỉnh Cao bằng thì mới được chấp
nhận giấy tờ chuyển nhượng đất hợp pháp, khi đó mới được áp dụng các
quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003.
Căn cứ quy định tại Điều 19 của Nghị định số 31/CP ngày 18/05/1996 của
Chính phủ về tổ chức hoạt động công chứng Nhà nước, theo đó thẩm quyền
chứng thực giao dịch này thuộc thẩm quyền của UBND thị C. Căn cứ quy
định tại điểm 3, khoản B, Mục II của Thông tư số 1411/TT-CC ngày 03/10/1996
của Bộ pháp thì thẩm quyền chứng thực văn bản này là thẩm quyền của
UBND thị C, chứ không thuộc thẩm quyền của UBND xã H. Do văn bản này
được làm trái với các quy định của pháp luật nên văn bản hiệu, không
giá trị pháp lý. Cùng với đó, tại thời điểm xét xử vụ án, Luật Đất đai 2003 đã hết
hiệu lực, Luật Đất đai 2013 đang hiệu lực, nên Tòa án cấp thẩm phải áp
dụng các quy định của Luật đất đai 2013 để xem xét, giải quyết vụ án mới đúng.
Cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Trong hồ vụ án, ông C, các người quyền, lợi ích liên quan anh,
chị, em của ông C không xuất trình được các giấy tờ, tài liệu chứng minh họ đã
sử dụng đất ổn định theo quy định của pháp luật về đất đai, các giấy tờ khai,
đăng ký quyền sử dụng đất…, mặc họ cho rằng họ đã sdụng đất đó từ rất
lâu và có lời khai là đã tiến hành thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất nhưng trong hồ vụ án không tài liệu chứng cứ chứng minh nghĩa vụ
với nhà nước là đã kê khai, đã đăng ký quyền sử dụng đất.
26
Khi nhà nước thu hồi đất đmở rộng đường tỉnh lộ 209 qua thửa đất 263
tờ bản đồ số 13 bản đđịa chính năm 1995, ông C cho rằng ông quyền sử
dụng đất đối với thửa đất nêu trên, nhưng theo các tài liệu liên quan đến thu
hồi, đền đất để giải phóng mặt bằng thì ông C không tên trong danh sách
các hộ dân được đền bù giải phóng mặt bằng (BL35,36,37). Mặc hiện nay
bản đồ rải thửa thu hồi, đền đất để giải phóng mặt bằng của thửa đất 263, tờ
bản đồ số 13 chưa được Tòa án cấp thẩm thu thập do các quan nhà nước
thẩm quyền thực hiện công tác giải phóng mặt bằng không thể cung cấp
được, nhưng căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong vụ án thxác định
được vị trí nhà nước đã thu hồi 212m
2
đất để mở rộng tỉnh lộ 209 thuộc một
phần của thửa đất 263, tờ bản đồ số 13. Tại Đơn xin trình bày ý kiến ngày
06/01/2024 (BL 412-414), Nguyễn Thị T3, người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã xác nhận phần diện tích bị nhà nước thu hồi mở rộng tỉnh lộ 209 là phần
đất thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13, diện tích bị thu hồi 212m
2
; và
tại các Biên bản lấy lời khai ngày 14/05/2021 của Nguyễn Thị H2 (BL 160-
161), Nguyễn Thị T1 (BL158-159); Nguyễn Thị T2 (BL162-163) ,
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng xác nhận việc nhà nước
thu hồi một phần diện tích đất của thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13; Bên cạnh
đó, tại Biên bản làm việc ngày 12/04/2024 (BL 496), Biên bản làm việc ngày
11/06/2024 (BL562), ông L2, nguyên công chức địa chính phường H cũng đã
xác nhận việc nhà nước thu hồi 212m
2
của thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13,
khi ông căn cứ vào bản đồ trích đo giải phóng mặt bằng đường tỉnh lộ 209, danh
sách các hộ được nhận tiền đền giải phóng mặt bằng đường tỉnh lộ 209, đối
chiếu với bản đồ địa chính đo đạc năm 2015 của phường H để xác nhận. Cùng
với đó, bên nguyên đơn cũng xác nhận việc nhà nước thu hồi diện tích đất
212m
2
là một phần diện tích của thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13 bàn đồ địa
chính năm 1995.
Toà án cấp thẩm chỉ căn cứ vào các lời khai của bị đơn, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh, chị em của bị đơn lời chứng của một số
nhân chứng, những người chỉ có lời khai mà không đưa ra được những chứng cứ
để chứng minh cho lời khai của mình có căn cứ; nhận định văn bản hiệu là
văn bản hợp pháp theo quy định của pháp luật về đất đai để lập luận rằng ông C
sử dụng, quản liên tục đối với phần đất tranh chấp không đủ sở, thiếu
chặt chẽ không đúng với các quy định của pháp luật, vì theo quy định tại
Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ Quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai (Sau đây gọi là “Nghị định số
43”). Theo đó, người sử dụng đất phải các giấy tờ được quy định tại khoản 2
của điều này, mới được xác định là người sử dụng ổn định, liên tục.
Từ đó đủ sở để khẳng định, nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp
không phải của bố mẹ ông C khai phá từ những năm 1965; ông C không phải
người có quyền sử dụng đất và không phải là người sử dụng ổn định, lâu dài đối
với thửa đất đang tranh chấp, nhận định của Toà án cấp thẩm: “Gia đình
ông C quản lý sử dụng liên tục đối với phần đất tranh chấp từ thời bố ông C đến
nay” là không có cơ sở, trái với các quy định của pháp luật về đất đai.
27
- Hai là: Đối với nhận định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông
C trả lại diện tích đất đang tranh chấp.
Nhận định này của Toà án cấp thẩm trái với các quy định của pháp
luật, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, vì: Trong
quá trình tố tụng tại giai đoạn thẩm, nguyên đơn đã xuất trình, Tòa án cấp
thẩm đã thu thập được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh nguyên đơn
người sử dụng ổn định, lâu dài đối với diện tích đang tranh chấp, cụ thể:
+ Tại đơn xin đăng quyền sử dụng đất đề ngày 14/12/1996 được
UBND H xác nhận ngày 09/07/1997 (BL80), nguyên đơn đã làm đơn đăng
ký để đề nghị cơ quan quản lý đất đai tại địa phương là UBND tỉnh C công nhận
quyền sử dụng đất cho mình với nhiều thửa đất, trong đó thửa đất số 262
(diện tích 344m
2
), thửa đất số 263 (diện tích 307m
2
) tờ bản đồ số 13 bản đồ địa
chính năm 1995. Tại Biểu tổng hợp kết quả kê khai đơn đăng (BL79),
quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã xác định các thửa đất nguyên đơn khai, trong đó thửa đất số 262, 263,
để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nguồn gốc từ nhận thừa kế.
Theo quy định của pháp luật về đất đai, đối với các thửa đất đang tranh chấp
sẽ chưa đủ điều kiện để nhà nước công nhận quyền sử dụng, do vậy mà thửa đất
số 263 tờ bản đồ s13 bản đồ địa chính năm 1995 chưa được nhà nước công
nhận quyền sử dụng đất do đang tranh chấp với ông C. Biểu tổng hợp xác định
nguồn gốc đất được thừa kế cũng phù hợp với nội dung của Biên bản họp gia
đình để chuyển quyền đất đai cho các con hưởng quyền thừa kế ngày
03/02/1990 (BL16), các lời khai của nguyên đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan của nguyên đơn Phan Sầm H3, Phan Sầm Á; lời khai của ông
Phan Sầm L5, Phan Sầm L6, ông Phan Sầm T10, ông Phan Y, ông Phan Văn
Đ2.
+ Tại tài liệu được gửi kèm văn bản số 1727/SGTVT-KHKT&QLGT
ngày 16/07/2021 của Sở Giao thông vận tải tỉnh C (BL211-218) đã xác nhận
việc nguyên đơn được nhận tiền đền 212m
2
đất, tài sản trên đất. Như đã trình
bày ở trên, mặc dù việc thu hồi đất tại thời điểm thu hồi không ghi nhận tên hoặc
số kỳ hiệu thửa đất, chỉ được tính toán trên bản đồ rải thửa gắn liền với tên chủ
thửa đất, nhưng có đủ căn cứ để xác định diện tích 212m
2
được nhà nước thu hồi
là một phần của thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm 2015.
+ Đến năm 2015, để xây dựng hồ địa chính sở dữ liệu địa chính
khu đo thành phố C, tỉnh Cao Bằng, sau khi đo vẽ lập bản đồ địa chính năm
2015, thì phần diện tích còn lại của thửa đất 263 sau khi bị thu hồi đã được nhập
vào với thửa đất 262 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm 1995 thành thửa đất
mới thửa đất mới là thửa đất số 73, tờ bản đồ địa chính số 47, địa chỉ thửa
đất: tdân phố số G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằn, mục đích sử dụng:
Cây lâu năm; Tên người sử dụng: Phan Sầm P, diện tích sử dụng: 399,7m
2
, thời
hạn sử dụng 50 năm.
Ông P con của C2, người công với Cách M4, giấy tờ chứng
minh đã nộp cho Toà án cấp phúc thẩm. Từ đó đủ sở đ khẳng định,
28
nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp là của nguyên đơn được bố mẹ chia cho
sử dụng từ năm 1990 từ các khu ruộng ông M, C2 đưa vào hợp tác
được nhận lại sau khi hợp tác xã giải tán, và nguyên đơn đã sử dụng ổn định, lâu
dài từ ngày đó đến nay, đã làm thủ tục đề nghị quan quản nhà nước tại địa
phương công nhận quyền sử dụng đối với thửa đất số 262, 263 tờ bản đồ số 13
bản đồ địa chính năm 1995, được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất 262 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
0019/QSDĐ/110107 ngày 14/12/1998 do UBND tỉnh C ngày 14/12/1998),
nhưng chưa được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 263
do đang tranh chấp. Do vậy, Tòa án cấp thẩm nhận định nguyên đơn
không quyền sử dụng đối với phần còn lại của thửa đất số 263 tờ bản đồ số
13 bản đồ địa chính năm 1995 để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn buộc ông C trả lại diện tích đất thực tế 37,7m
2
thuộc thửa đất
số 262, tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm 1995, không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện buộc ông C phải trả lại diện tích đất còn lại thuộc thửa đất số 263, t
bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm 1995 không sở trái với các quy
định của pháp luật (Điều 21 Nghị định số 43).
Từ các phân tích nêu trên, đủ sở để khẳng định nguyên đơn kháng
cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng xem xét lại toàn bản án dân sự
thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao
Bằng, tỉnh Cao Bằng là có căn cứ.
Từ các lẽ nêu trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng căn cứ: Điều
101 Luật Đất đai 2013; Điều 21 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày
15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất
đai; Điều 309 Bộ luật Ttụng dân sự, sửa bản án thẩm số 48/2024/DS-ST
ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Sầm P,
Hoàng Thị P1, buộc ông NguyễnVăn C4 phải trả lại cho nguyên đơn diện tích
đất 123m
2
thuộc thửa đất số 262, 263 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính năm
1995 (nay thửa đất số 72 tờ bản đồ số 47 bản đồ địa chính năm 2015), địa chỉ
tại tổ G phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Tạm giao quyền sử dụng cho
nguyên đơn diện tích này để sử dụng theo đúng mục đích sử dụng đất trong
phạm vi đất thuộc hành lang an toàn giao thông đường bộ theo quy định của
pháp luật.
- Buộc ông Nguyễn Văn C phải di dời các tài sản trên đất thuộc diện tích
đất này.
- Bác các yêu cầu khác của các đương sự khác trong vụ án.
- Giữ nguyên các phần khác của bản án không bị kháng cáo.
Người kháng cáo Nguyn Th H2: gi nguyên yêu cu kháng cáo, gi
nguyên li trình bày ti cấp thẩm; Đề ngh Hội đồng xét x phúc thm chp
nhn kháng cáo ca bà.
29
B đơn Nguyễn Văn C không nht trí vi yêu cu kháng cáo, nht trí vi
bản án sơ thẩm, đề ngh Hội đồng xét x gi nguyên bản án sơ thẩm.
Những người quyn lợi nghĩa vụ liên quan T1, bà T2, H1 gi
nguyên li trình bày tại phiên tòa sơ thm và nht trí vi bản án thẩm đã
tuyên, không đồng ý vi kháng cáo của đồng nguyên đơn.
Đại din vin kim sát nhân dân tnh Cao Bng phát biểu quan điểm:
V vic tuân theo pháp lut t tng: Vic tuân theo pháp lut t tng ca
Thm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, ngưi tham gia t tng trong quá
trình gii quyết v án, đảm bảo đúng quy định ca pháp lut. Ngày 30/12/2024
Toà án nhân dân thành ph Cao Bng phiếu gi h kháng cáo s 41/PG-
TA gi Toà án nhân dân tnh Cao Bằng, tuy nhiên đến ngày 03/2/2024 Toà án
nhân dân tnh Cao Bng mi th v án vi phạm quy định ti khoản 1 Điều
285 B lut T tng dân s. Vic gi Thông báo th v án cho V2 kim sát,
tuân th đúng thời hn xét x đúng theo cáo điều 285 286 B lut T tng
dân s.
Về tính hợp pháp của kháng cáo: Ông P, P1, H2 đơn kháng cáo
gửi Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án, đúng quy định tại khoản 1 Điều 272 và khoản 1 Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
V quan điểm gii quyết v án: Kháng cáo của nguyên đơn Hoàng Thị P1,
ông Phan Sầm P người quyn lợi, nghĩa v liên quan Nguyn Th H2
không có căn cứ, Tòa án thẩm đã gii quyết đúng quy định ca pháp lut. Do
vậy đề ngh Hội đồng xét x căn cứ: Điu 5; khoản 3 Điu 68; khoản 1 Điều
155; khoản 4 Điều 91; Điều 95; khoản 2 Điều 97; Điu 101; khoản 1 Điều 308
B lut t tng dân s: không chp nhn kháng cáo ca ông P, bà P1, H2 gi
nguyên bản án thẩm ca Tòa án nhân dân thành ph Cao Bng, tnh Cao
Bng.
Kiến ngh, khc phc vi phm v vic chm thi gian th v án phúc thm
theo Điều 283, 285 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Sau khi nghiên cu h thẩm tra chng c ti phiên tòa, nghe li
trình bày của các đương sự, ý kiến phát biu ca kiểm sát viên và căn c vào kết
qu tranh lun ti phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Tòa án cấp thẩm thực hiện và tuân thủ đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc thụ lý, xác định thẩm quyền, quan hệ pháp
luật tranh chấp, thu thập giao nộp chứng cứ hòa giải, trình tự thủ tục
phiên tòa sơ thẩm.
Ngày 28/8/2024, Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng nhận được đơn
kháng cáo đề ngày 27/8/2024 của nguyên đơn Phan Sầm P Hoàng Thị P1.
Ngày 29/8/2024, Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng nhận được đơn kháng
cáo đề ngày 29/8/2024 của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị
30
H2, sau đó ngày 11/9/2024 Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng đã làm việc
với H2 để làm nội dung kháng cáo. Kháng cáo của các nguyên đơn, người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong thời hạn luật định, nguyên đơn Phan Sầm
P thuộc trường hợp miễn nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định. Bà
P1, H2 đã nộp tạm ứng án pphúc thẩm theo thông báo của Toà án trong
thời hạn luật định.
Như vậy đơn kháng cáo hợp lệ, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng thụ
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
trong vụ án: đã triệu tập hợp lệ, có đơn xin vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử
giải quyết theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết
vắng mặt họ phù hợp với quy định tại khoản 2 điều 296 Bộ luật ttụng dân
sự.
[3] Xét ni dung kháng cáo, căn cứ kháng cáo của ông Phan Sầm P,
Hoàng Thị P1 đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án thẩm định lại các thửa đất
số 262, 263.
[3.1] Đối với kháng cáo xem xét lại toàn bộ bản án:
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp
thẩm, nguyên đơn cho rằng năm 1990 ông P được bố mẹ là ông Phan Sầm M, bà
Hoàng Thị C2 chia cho phần đất ruộng Càng Ma diện tích 775m
2
(trong đó
thửa đất 262, 263 hiện đang tranh chấp). Phần đất được chia này, ông M bà
C2 đã đưa vào HTX và nhận lại đất khi tan HTX. Năm 1998, gia đình ông P
được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất 262, còn thửa đất 263 đang có tranh chấp
nên chưa được đưa vào GCNQSDĐ, tuy nhiên trong biểu tổng hợp kết quả
khai đơn xin đăng cấp GCNQSDĐ H thể hiện thửa đất 263 nguồn gốc
thừa kế. Năm 2004, gia đình ông P khai số diện tích đất tại thửa đất 263 đã
được ông Phan Y, ông Phan Văn Đ2, ông Đào Văn B, ông Hoàng Quang V,
Hoàng Thị Đ3 Hoàng Thị C2 (mẹ đẻ ông P) xác nhận hai thửa đất số 262,
263 là do bố mẹ ông P chia cho vợ chồng ông P canh tác. Thửa đất 263 đưa vào
HTX còn được thể hiện trong thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 của
UBND xã H cũng như xác nhận của ông Phan Y - nguyên chủ nhiệm HTX Đ4.
Căn cứ biểu tổng hợp kết quả kê khai đơn xin đăng ký cấp GCNQSDĐ
H thể hiện nội dung thửa đất 263 nguồn gốc thừa kế. Tại biên bản họp gia
đình đ chuyển quyền đất đai cho các con được hưởng quyền thừa kế ngày
03/2/1990 thhiện việc ông Phan Sầm P được chia khu đồng Càng Ma, khu B
diện tích 775m
2
. Tuy nhiên, phần diện tích đất ruộng ông P được chia trong biên
bản họp gia đình này chỉ ghi nhận chung chung tên cũng như diện tích đất được
chia, không thể hiện 775m
2
là thửa đất nào, vị ttại đâu, phải thửa đất
đang tranh chấp hay không. Qua xác minh với công chức địa chính đất đai
phường H được biết phường không xác định được đám ruộng Càng Ma diện tích
775m
2
vtrí nào do thông tin trong sổ mục ruộng đất bản đồ địa chính
năm 1995 không có tên xứ đồng.
31
Trong thông báo số: 173/TB-UBND ngày 10/7/2006 của UBND H ghi
nhận nội dung “Sau khi thu thập các căn cứ Ban pháp đã kết luận khu đất
ruộng Càng Ma trong đó 36m
2
hiện đang tranh chấp thuộc thửa số 263 của
gia đình ông Phan Sầm M đưa vào HTX đã chia cho con là Phan Sầm P. Từ
khi còn HTX đến khi xảy ra tranh chấp thì HTX và gia đình ông P vẫn canh tác,
không bỏ hoang hóa thửa đất 263 (ruộng). Việc gia đình ông C nhận mảnh đất
trên của gia đình khai phá không đủ sở. Do đó, Ban pháp đề nghị gia
đình ông Nguyễn Văn C phải trả lại số đất hiện đang tranh chấp diện tích
36m
2
cho gia đình ông Phan Sầm P”. Đối với nhận định này của UBND H
qua xác minh xác định được không tài liệu nào về việc xác định căn cứ ban
hành thông báo này của UBND xã H thời điểm đó.
Phần đất đang tranh chấp cũng được ông Phan Y - nguyên chủ nhiệm
HTX Đ4 xác nhận nội dung “Ông làm chnhiệm HTX Đại Thắng. Ông biết
nguồn gốc đất, là đất của họ Phan năm 1961 ông Phan M - là bố đẻ ông P đã đưa
đất vào HTX. Năm 1990 - 1991, khi tan HTX đất của gia đình đã trả lại cho gia
đình đtiếp tục canh tác. Qua hai lần làm đường đã lấp một số ruộng của gia
đình ông P, diện tích bao nhiêu ông không tại văn bản không tiêu đề ngày
21/7/2019 mà bà P1 giao nộp cho Tòa án. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày này ông
Phan Y không đưa ra được các tài liệu chứng minh việc các thửa đất tại khu vực
Càng Ma được đưa vào HTX Đại Thắng cũng như việc trả lại đất khi tan HTX;
các thửa đất được ông M, C2 đưa vào hoặc nhận lại phải thửa đất đang
tranh chấp không. Mặt khác, theo nội dung cung cấp của công chức địa chính
phường H xác định được thửa đất 263 theo sổ mục ruộng đất 1995 đất
hoang, diện tích 307m
2
không tên người sdụng; theo bản đđịa chính năm
1995 cũng không tên người sử dụng; theo bản đồ địa chính năm 2015 thửa
đất 263 (thửa đất số 72 mới) là thửa đất vắng chủ.
Ông P, P1 cũng cho rằng thửa đất 263 đã bị nhà nước thu hồi khi làm đường
tỉnh lộ 209 với diện tích 212m
2
(trong đó diện tích 36m
2
đã tranh chấp với
ông C trước đó) gia đình nhận tiền đền 18.672.000 đồng (mười tám
triệu sáu trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Qua công văn trả lời của Sở giao thông
vận tải tỉnh C xác định được gia đình ông Phan Sầm P đã được đền nhận
tiền đền tuy nhiên không thông tin nào ghi nhận tại thửa đất số 263
(việc đền bù sẽ được tính toán trên bản đồ giải thửa gắn với tên chủ thửa đất,
không ghi tên hoặc số hiệu của thửa đất). Qua xác minh của Tòa án với
các quan chức năng có thẩm quyền cũng xác định được không bản đồ giải
thửa khi thực hiện bồi thường giải phóng mặt bằng làm đường tỉnh lộ 209 và các
tài liệu liên quan đến phần đất thu hồi của thửa đất 263.
Đối với phần diện tích đất đang tranh chấp bị đơn những người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị T2, bà
Nguyễn Thị T3, ông Nguyễn Văn T4 đều cho rằng do bố mẹ các ông - ông
Nguyễn Văn H4 bà Trần Thị V1 khai phá từ những năm 1964 - 1965 sử
dụng ổn định từ thời điểm đó đến nay. Trong qtrình giải quyết vụ án, P1
trình bày gia đình bà sau khi được chia thửa đất 262, 263 đều quản lý, sử dụng
32
ổn định từ năm 1990 đến nay. Tuy nhiên, quá trình xác minh với một số người
làm chứng sinh sống tại nơi có phần đất tranh chấp xác định được phần đất tranh
chấp gia đình ông C đã quản lý, sử dụng liên tục từ năm 1960 khi ông H4 canh
tác trồng cây trên đất; ông H4 đổ sỉ sắt; bà H2 dựng nhà 03 gian chuồng lợn;
ông C dựng lán và trồng cây sau đó.
Mặt khác, qua xác minh cũng xác định được phần đất của gia đình ông C
phía trên, đất của gia đình ông P, P1 phía dưới. Đất của gia đình ông C
với thửa đất 262 263 ranh giới được kè bằng tre. Tuy nhiên, ranh giới này
mất đi sau khi ông P lấp đất. Năm 1997, ông H4V1 đã chuyển giao quyền sử
dụng cho ông C tại Giấy chuyển giao quyền sử dụng ngày 05/8/1997 trong đó
gồm 02 gian nhà cấp 4 một số cây ăn quả. Giấy này được xác nhận của chính
quyền địa phương (khối trưởng UBND H). Các đương sự gồm ông C,
P1 Lương Thị L đều xác nhận trước năm 1990, giữa phần đất ông C,
P1, L đang hiện nay phần đất đang tranh chấp trong cả hai vụ án đều
01 con đường đi qua. Như vậy, gia đình ông C có quá trình quản lý sử dụng liên
tục đối với phần đất tranh chấp từ thời bố ông C cho đến nay.
Trong vụ án này, diện tích đất thực tế đang tranh chấp nằm trên cả hai
thửa đất 262 và 263. Đối với thửa đất 262, gia đình ông P đã khai được
cấp GCNQSDĐ ngày 14/12/1998. Tại công văn số: 3272/UBND-BTCD ngày
27/11/2023, UBND tỉnh C cho biết đã thực hiện đúng quy trình, trình tự, thủ tục
theo quy định của Luật Đất đai năm 1993 các văn bản hướng dẫn thi hành để
cấp GCNQSDĐ số 00019 QSDĐ/110107 ngày 14/12/1998 cho ông Phan Sầm P
Hoàng Thị P1 thường trú tại xóm P, H, thị C (nay phường H,
thành phố C).
Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xác định chỉ căn cứ đ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, P1 buộc ông C trả lại diện tích đất
37,7m
2
thuộc thửa đất số 262; không căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông P, bà P1 buộc ông C trả lại diện tích đất 85,3m
2
thuộc thửa đất số 263 là
đúng quy định của pháp luật.
Theo công văn số: 2796/SGTVT-KHKT&QLGT ngày 10/10/2023 của Sở giao
thông vận tải tỉnh C, toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp đều nằm trong
hành lang an toàn giao thông đường bộ. Do đó, ông P, P1, ông C chỉ được
quyền sử dụng mảnh đất trên, không quyền quản đối với mảnh đất, chỉ
được canh tác, không được xây dựng bất cứ công trình gì trên diện tích đó, đồng
thời cũng không được chuyển nhượng diện tích được giao.
Đối với các cây trồng trên diện tích đất tranh chấp: Ông Phan Sầm P,
Hoàng Thị P1 được quyền shữu các cây trồng trên diện tích đất 37,7m
2
thuộc
thửa đất số 262, tờ bản đồ số 13. Ông Nguyễn Văn C được quyền sở hữu các cây
trồng trên diện tích đất 85,3m
2
thuộc thửa đất số 263, tờ bản đồ số 13.
Đối với diện tích 02m
2
nằm trong diện tích đất thực tế đang tranh chấp
125m
2
, nguyên đơn bị đơn đã thống nhất thỏa thuận với ông Phạm Ngọc C1
nhất trí trừ đi phần diện tích này trong tổng diện tích thực tế xác định được
33
ngoài thực địa. Ông Phạm Ngọc C1 cũng không yêu cầu Tòa án nhân dân thành
phố Cao Bằng giải quyết tranh chấp đối với phần diện tích thuộc thửa đất 233,
tờ bản đồ số 13 trong ván này. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng
không xem xét, giải quyết đối với phần diện tích 02m
2
này đúng quy định của
pháp luật.
[3.2] Đối với kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm thẩm định lại các
thửa đất số 262, 263.
Căn cứ các biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/6/2021 và
05/7/2024 do Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng tiến thành thẩm định tại chỗ
đối với thửa đất 262, diện tích 344 m
2
thửa đất 263, diện tích 307 m
2
tờ bản
đồ số 15 (bản đồ địa chính đo vẽ năm 1995) tại tổ G, phường H, thành phố C,
tỉnh Cao Bằng. Hội đồng xét xử nhận thấy, thành phần những người tiến hành
xem xét, thẩm định, những người tham gia chứng kiến, hỗ trợ các đương s
đều mặt đầy đủ theo quy định của pháp luật. Biên bản được lập theo đúng
biểu mẫu tố tụng, đã được các bên đương sự đọc, xác nhận và ký tên nhất trí đối
với kết quả thẩm định, không ý kiến bsung. Tại phiên toà phúc thẩm, bà
P1 ông P cung thừa nhận được tham gia xem xét thẩm định, được đọc biên
bản tự nguyện vào biên bản xem t thẩm định tại chỗ. Do đó, không có
căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo xem xét thẩm định lại thửa đất 262, 263.
[4] Xét ni dung kháng cáo, căn cứ kháng cáo của nguyên đơn Phan Sầm
P, Hoàng Thị P1 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 v
chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và nghĩa vụ chịu án phí
[4.1] Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Tổng số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 13.818.000 đồng (mười
ba triệu tám trăm mười tám nghìn đồng) trong đó tiền chi phí xem xét, thẩm
định tại chỗ ngày 25/6/2021 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng);
tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/7/2024 9.018.000 đồng (chín
triệu không trăm mười tám nghìn đồng).
Căn cứ khoản 1, Điu 157 B lut t tng dân s năm 2015 quy định v
nghĩa vụ chu chi phí xem xét, thẩm định ti ch: “Đương sự phi chu chi phí
xem xét, thẩm định ti ch nếu yêu cu ca h không được Tòa án chp nhận”
Tại bản án thẩm, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Sầm P
Hoàng Thị P1 được Tòa án chấp nhận một phần nên bị đơn Nguyễn Văn C phải
chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Do đó, không căn cứ chp nhn yêu
cu kháng cáo trên.
[4.2] Đối với nghĩa vụ chịu án phí:
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 quy định về nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm:
“1. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ
không được Tòa án chấp nhận, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu
án phí sơ thẩm.
34
2. Bị đơn phải chịu toàn bộ án pdân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn
bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
3. Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự thẩm trong trường hợp
toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.
4. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm tương ứng với phần yêu
cầu không được Tòa án chấp nhận. Bđơn phải chịu án phí dân sự thẩm
tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp
nhận.”
Nguyên đơn được chp nhn mt phn yêu cu khi kin nên b đơn phải
np tin án phí dân s thẩm s tiền 300.000 đồng để sung Ngân sách Nhà
ớc là đúng theo quy định ca pháp lut.
[5] Xét ni dung kháng cáo, căn cứ kháng cáo người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Nguyễn Thị H2 về xác định tư cách tố tụng trong vụ án:
Nguyễn Thị H2 kháng cáo cho rằng phần đất đang tranh chấp
nguồn gốc của bố mẹ để lại, chưa chia thừa kế. Do vậy, tất cả các anh chị
em của ông C phải cách tố tụng ngang bằng ông chung. Theo bà, nguyên
đơn khởi kiện vụ án phải xác định ông C các anh chị em ruột gồm Nguyễn
Thị H2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn Đ,
Nguyễn Thị T1, Nguyễn Văn T4 tham gia với tư cách là bị đơn.
Hội đội xét xử nhận thấy, quan hệ tranh chấp trong vụ án “tranh chấp
quyền sử dụng đất”, nguyên đơn cho rằng ông C người đang quản lý, sử dụng
thửa đất 262, 263. Đồng thời buộc ông C tháo gỡ các công trình, chuyển cây cối
đã trồng trên phần đất đang chiếm giữ để trả lại mặt bằng cho nguyên đơn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, các anh chị em ruột của ông C cùng xác nhận
nguồn gốc đất đang tranh chấp do bố mẹ các ông bà để lại chưa chia thừa kế. Do
vậy, Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xác định các ông bà Nguyễn Thị H2,
Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T2, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị H1,
ông Nguyễn Văn T4, ông Nguyễn Văn Đ ã chết), ông Nguyễn Xuân D1 (đã
chết) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ông Nguyễn Xuân D1 trước khi
chết không vợ con nên không người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng.
Ông Nguyễn Văn Đ trước khi chết vợ Hoàng Thị T5 cùng các con
Nguyễn Minh D Nguyễn Minh Đ1 nên Tòa án xác định T5, ông D, ông
Đ1 tham gia tố tụng trong vụ án này với tư cách là người kế thừa quyền và nghĩa
vụ tố tụng của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Đ đúng
theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm, đồng nguyên đơn người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan không đưa ra được bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác làm n cứ
cho kháng cáo. Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy
không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Phan Sầm P, Hoàng Thị P1 và
Nguyễn Thị H2.
35
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tại phiên toà
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Ván phí: Do kháng cáo của nguyên đơn Phan Sầm P, Hoàng Thị P1
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H2 không được Hội đồng
xét xử chấp nhận nên ông P, bà P1 và bà H2 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nguyễn Thị H2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm để
sung quỹ Nnước, xác nhận H2 đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm theo biên lai s0001070 ngày 30/9/2024 của Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 người cao tuổi, thuộc trường hợp
được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử dụng án phí lệ phí Tòa
án đã đơn xin min án phí nên được min án phí dân s phúc thm.
Hoàng Thị P1 được trả lại 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo
biên lai số 0001067 ngày 08/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố
Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án plệ phí Tòa
án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Phan Sầm P và
Hoàng Thị P1.
Không chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Nguyễn Thị H2.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 15/8/2024 của
Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
2. Ván phí: Nguyễn Thị H2 phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự
phúc thẩm để sung quỹ Nhà nước, xác nhận H2 đã nộp 300.000 đồng tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai số 0001070 ngày 30/9/2024 tại Chi
cục Thi hành án dân sự thành phCao Bằng, tỉnh Cao Bằng. H2 đã nộp đủ
án phí.
Ông Phan Sầm P, bà Hoàng Thị P1 đưc min án phí dân s phúc thm.
Hoàng Thị P1 được trả lại 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm
theo biên lai s0001067 ngày 08/9/2024 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự
thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
36
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Cao Bằng;
- CCTHADS TP Cao Bằng;
- TAND TP Cao Bằng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tô Thị Thuỳ Ngân
Tải về
Bản án số 34/2025/DSPT Bản án số 34/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 34/2025/DSPT Bản án số 34/2025/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất