Bản án số 273/2026/DS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 273/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 273/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 273/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 273/2026/DS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 273/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp đòi tài sản |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 273/2026/DS-PT
Ngày: 15 – 4 - 2026
“Tranh chấp đòi tài sản”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Thanh Bình
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Thu Hương
Ông Nguyễn Đình Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Du - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Vũ Thị Hồng Uyên
– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 393/2026/TLPT-DS ngày 29 tháng 10
năm 2025 về “Tranh chấp đòi tài sản” do bản án dân sự sơ thẩm số
28/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Nai
bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 189/2026/QĐ-PT
ngày 03 tháng 3 năm 2026, Quyết định Hoãn phiên tòa số 251/2026/QĐPT – DS
ngày 23 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Phạm Ngọc H, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: A, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
phường T, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Ông Mai Văn Ú, sinh năm: 1979.
Địa chỉ: A N, khu phố D, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
phường T, tỉnh Đồng Nai). (Có mặt)
2. Bà Trần Thị L, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Số A, tổ A, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay là phường T, tỉnh Đồng Nai). (Có mặt)
2
* Bị đơn: Bà Trần Thị Hồng H1, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: E, tổ D, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là
phường T, tỉnh Đồng Nai). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung bản án sơ thẩm:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, đại diện nguyên đơn ông Mai Văn
Ú trình bày:
Ông H là chủ sở hữu tài sản là căn nhà và đất có diện tích 114,0m
2
tại thửa
số 179, tờ bản đồ số 7 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 265371, do UBND thành phố
B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/2/2014. Trên đất có căn nhà cấp 4 tại địa chỉ E tổ
D, KP2, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Bà Trần Thị Hồng H1 là dì ruột của ông H. Khoảng tháng 7 năm 2017, bà
Hồng H1 có hỏi thuê căn nhà tại E tổ D, KP2, phường A, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai để ở. Do chỗ dì cháu nên ông H đồng ý cho bà H1 dọn đến căn nhà
trên để ở nhờ không lấy tiền thuê nhà, bà H1 cam kết khi nào ông H có nhu cầu
sử dụng nhà thì bà H1 sẽ dọn đồ giao trả nhà cho ông H. Việc cho bà H1 đến ở
nhờ hai bên không có viết giấy tờ, chỉ giao kết bằng lời nói.
Đến tháng 9 năm 2023, ông H có nhu cầu sử dụng nhà nên thông báo và
yêu cầu bà Hồng H1 di dời đồ đạc đi nơi khác để ở giao trả nhà cho ông H
nhưng bà Hồng H1 không chịu dời đi. Vì vậy, ông H khởi kiện yêu cầu Tòa án
buộc bà Trần Thị Hồng H1 phải trả lại tài sản là căn nhà và đất có diện tích
114,0m
2
tại thửa số 179, tờ bản đồ số 7 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 265371, do
UBND thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/2/2014 tọa lạc tại phường A,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai cho ông H.
Ông H thống nhất với Bản đồ hiện trạng khu đất số 5115/2024 ngày
05/4/2024 của văn phòng Đ - Chi nhánh B và giá trị căn nhà và đất là
2.122.300.000 đồng theo kết quả Chứng thư thẩm định giá số 224/2024/TĐG -
CT ngày 28/6/2024 của công ty cổ phần T.
* Tại bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiêp cận công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên toà bị đơn bà Trần
Thị Hồng H1 trình bày:
Ông Phạm Ngọc H là con trai của bà Trần Thị L (chị ruột bà H1) gọi bà H1
là dì. Năm 2017, vợ chồng bà H1 có mua của vợ chồng ông Phạm Xuân H2 và
bà Trần Thi L1 01 mảnh đất có diện tích là 114m
2
(chiều ngang 6m, chiều dài
19m) thuộc thửa đất số 179 tọa lạc tại phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai,
trên đất có sẵn 01 (một) căn nhà. Số tiền mua bán chuyển nhượng nhà đất này là
500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Vì chỗ chị em ruột trong nhà tin
tưởng lẫn nhau nên vợ chồng bà H1 chỉ thỏa thuận miệng và không làm hợp
đồng mua bán nhà đất với vợ chồng bà L1. Bà H1 đã trả cho bà L1
3
400.000.000đ cụ thể như sau: 200.000.000đ giao tiền mặt không viết biên nhận;
200.000.000đ trừ vào tiền di sản thừa kế mà bà L1 có trách nhiệm thanh toán lại
cho bà H1 không làm giấy tờ; 100.000.000đ cả hai thống nhất cho bà L1 góp
hàng tháng, mỗi tháng 10.000.000đ không làm giấy tờ.
Năm 2017, vợ chồng bà L1 bàn giao nhà đất, gia đình bà H1 đã đập và xây
lại căn nhà mới với giá trị xây dựng là 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng)
không ai ngăn cản và ông H không có ý kiến gì. Sau khi xây nhà xong, do không
có tiền trả nợ nên chồng bà L1 là ông Nguyễn Ngọc L2 (đã chết) có đi làm thuê
cho bà L1 để trừ 10.000.000đ trả nợ hàng tháng và đã trả hết 100.000.000đ còn
nợ nhưng không có giấy tờ gì chứng minh.
Vợ chồng bà L1 hứa khi trả hết tiền sẽ sang tên căn nhà cho vợ chồng bà
H1 nhưng không sang tên và không đồng ý bán nhà nữa, đồng ý trả lại cho bà
H1 800.000.000đ trong đó có 400.000.000đ tiền mua đất và 400.000.000đ tiền
sửa nhà nhưng đến nay bà L1 vẫn không trả. Nay ông H khởi kiện bà H1 mới
biết nhà đất của ông H.
Ngày 11/9/2024 tòa án sơ thẩm ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, bà H1 có
đơn phản tố nội dung đồng ý hoàn trả lại toàn bộ diện tích nhà đất nêu trên cho
ông Phạm Ngọc H, yêu cầu ông Phạm Ngọc H trả lại cho bà H1 toàn bộ số tiền
là 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) bao gồm: 400.000.000 đồng (bốn
trăm triệu đồng) tiền mua nhà đất và 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng)
tiền xây dựng căn nhà hiện tại cho bà.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Nai quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 68, 70, 71, 91, 147, 158, 227, 228 và Điều 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ các Điều 165, 166, 169, 191 Bộ luật dân sự;
Căn cứ các Điều 166, 167 Luật đất đai; Luật nhà ở; Căn cứ Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc H.
Buộc bà Trần Thị Hồng H1 phải trả lại cho ông Phạm Ngọc H tài sản là căn nhà
và đất có diện tích 114,0m
2
tại thửa số 179, tờ bản đồ số 7 đã được UBND thành
phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 265371 ngày 08/02/2014 cho ông Phạm
Ngọc H. Hiện trạng thực tế được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,1) có diện tích
114,0m
2
theo trích đo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5115/2024 ngày 05/6/2024
của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-C.
Buộc ông Phạm Ngọc H phải thanh toán cho bà Trần Thị Hồng H1 số tiền
495.200.000 đồng (bốn trăm chín mươi năm triệu hai trăm nghìn đồng) là chi
phí sửa chữa xây dựng nhà.
4
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và lãi suất chậm thi
hành án, quyền yêu cầu và thời hiệu thi hành án, quyền kháng cáo của các bên
đương sự.
Ngày 28/7/2025, bà Trần Thị L là đại diện theo ủy quyền của ông Phạm
Ngọc H có đơn kháng cáo đề nghị HĐXX phúc thẩm sửa toàn bộ nội dung của
bản án sơ thẩm. Tại phiên tòa nguyên đơn trình bày kháng cáo không đồng ý
thanh toán tiền xây sửa nhà cho bị đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng và người tham gia
tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về thủ tục tố tụng: cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng và đầy đủ.
Về đường lối giải quyết vụ án: nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nhà, bị đơn
cũng đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều xác định
trong thời gian bị đơn ở có sửa chữa, sơn lại nhà và có làm hàng rào phía ngoài.
Bị đơn trình bày xây lại nhà nhưng nguyên đơn không thừa nhận và không xác
định phía trong nhà có xây sửa gì không.
Căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 và Chứng
thư thẩm định giá số 224/2024/TĐG-CT ngày 28/6/2024 của Công ty cổ phần T
thể hiện giá trị công trình xây dựng trên đất là 241.282.300đ trong đó cổng, hàng
rào 10.236.800đ (70%), hiên 21.413.000đ (70%), nhà ở gia đình 209.632.500đ
(75%), lời khai hai bên đều thừa nhận có sửa chữa nên đề nghị HĐXX sửa án sơ
thẩm, chấp nhận công tôn tạo nhà ở cho bị đơn với số tiền 241.282.300đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bà Trần Thị L là đại diện ủy quyền của nguyên đơn làm
trong hạn luật định, đóng tạm ứng án phí đúng quy định nên được xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật và tư cách đương sự:
cấp sơ thẩm đã xác định đúng và đầy đủ. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự
có mặt, bà H1 đã được triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không lí do
nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
Nguồn gốc căn nhà và đất có diện tích 114,0m
2
tại thửa đất số 179, tờ bản
đồ số 7 tọa lạc tại địa chỉ E tổ D, KP B, phường A, TP B, Đồng Nai (nay là
phường T, tỉnh Đồng Nai) do ông H nhận chuyển nhượng và đã được UBND
5
thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 265371 ngày 08/02/2014 cho
ông Phạm Ngọc H. Ông H cho bà H1 ở nhờ, nay có nhu cầu sử dụng nên ông H
yêu cầu bà H1 trả lại nhà đất, bà H1 không đồng ý trả nên ông H khởi kiện.
Bà H1 trình bày nhà đất này bà H1 nhận chuyển nhượng lại từ mẹ của ông
H là bà Trần Thị L có thanh toán tiền nhưng không làm giấy sang nhượng đất,
không làm giấy biên nhận tiền và cũng không kiểm tra giấy tờ đất, ông H và bà
L không thừa nhận lời khai của bà H1, bà H1 không có chứng cứ gì chứng minh
nên không có căn cứ chấp nhận lời khai của bà H1.
Ngày 11/9/2024 tòa án khu vực 1 ra quyết định đưa vụ án ra xét xử mở
phiên tòa vào ngày 30/9/2024, bà H1 nhận quyết định xét xử ngày 14/9/2024 và
có đơn phản tố (bút lục 108) yêu cầu nguyên đơn trả tiền mua nhà, cấp sơ thẩm
không thụ lí yêu cầu phản tố này là phù hợp.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 15/4/2024 và Chứng thư thẩm
định giá số 224/2024/TĐG-CT ngày 28/6/2024 của Công ty cổ phần T ghi nhận
hiện trạng và giá trị công trình xây dựng trên đất là 241.282.300đ; trong đó
cổng, hàng rào 10.236.800đ (70%), hiên 21.413.000đ (70%), nhà ở gia đình
209.632.500đ (75%), các bên thống nhất.
Tại Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 16/6/2025, bà H1 trình bày không lấy
nhà, yêu cầu trả lại tiền mua nhà do bà L đã nhận; bà L trình bày do bà H1 muốn
ở nhà đẹp thì tự sửa chữa chứ phía nguyên đơn không yêu cầu, nhà bà L và ông
H ở gần đó chỉ thấy bà H1 sửa chữa những vết ố chứ không có sửa chữa gì, nhà
hiện nay đẹp hơn lúc ông H mua do được thay cổng, sơn phết lại còn bên trong
nhà bà L không vào nên không biết. Cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của ông H, buộc bà H1 phải trả lại nhà cho ông H là có căn cứ, đúng với ý kiến
của bà H1 và không xem xét yêu cầu phản tố của bà H1 do không thụ lí.
Căn cứ vào lời khai của bà H1 và bà L thể hiện việc bà H1 sửa nhà là có
thật nên bà H1 có công sức đóng góp tôn tạo nhà đất trong thời gian ở từ năm
2017, vì vậy cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn thanh toán tiền công sức tôn tạo nhà
đất cho bà H1 là đúng. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm căn cứ vào các biên lai phô tô mà
bà H1 cung cấp, không tiến hành xác minh mà buộc nguyên đơn phải thanh toán
cho bị đơn số tiền 495.200.000đ là không có căn cứ. HĐXX phúc thẩm chỉ có
căn cứ chấp nhận giá trị tôn tạo nhà đất theo giá trị công trình trên đất thể hiện
trong chứng thư thẩm định giá số 224/2024/TĐG-CT ngày 28/6/2024 của Công
ty cổ phần T là 241.282.300đ.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà L:
Bà L kháng cáo yêu cầu sửa bản án theo hướng không đồng ý thanh toán
toàn bộ tiền tôn tạo nhà ở của bị đơn nhưng không nộp chứng cứ gì khác. Do
bản án sơ thẩm nhận định đánh giá chứng cứ chưa đúng nên quyết định số tiền
công sức đóng góp tôn tạo nhà đất của bà H1 chưa chính xác, vì vậy Hội đồng
xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm theo
hướng chỉ chấp nhận giá trị tôn tạo nhà theo giá trị công trình trên đất thể hiện
6
trong chứng thư thẩm định giá số 224/2024/TĐG-CT ngày 28/6/2024 của Công
ty cổ phần T là 241.282.300đ và buộc nguyên đơn phải thanh toán cho bị đơn số
tiền này.
[4] Về chi phí tố tụng cấp sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định của pháp
luật.
Về án phí DSST: ông H không phải chịu án phí không có giá ngạch. Do sửa
số tiền mà ông H phải thanh toán cho bị đơn nên sửa án phí DSST có giá ngạch,
ông H chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 12.064.115 đồng
(Mười hai triệu không trăm sáu mươi tư ngàn một trăm mười lăm đồng) được
trừ vào tạm ứng án phí ông H đã nộp 300.000đ, còn lại ông H phải nộp
11.764.115đ. Bà H1 phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000đ.
[5] Về án phí DSPT: Do chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án
sơ thẩm nên nguyên đơn không phải chịu án phí DSPT, trả lại tạm ứng án phí
DSPT cho nguyên đơn.
[6] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị sửa án sơ thẩm phù hợp
nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, 309 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Trần Thị L là đại diện ủy quyền của
nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 15/7/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 68, 70, 71, 91, 147, 158, 227, 228 và Điều 273
Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 165, 166, 169, 191 Bộ luật dân sự; Điều 166, 167
Luật đất đai; Luật nhà ở; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Ngọc
H về “tranh chấp đòi tài sản” đối với bị đơn bà Trần Thị Hồng H1.
Buộc bà Trần Thị Hồng H1 phải trả lại cho ông Phạm Ngọc H tài sản là căn
nhà và đất có diện tích 114,0m
2
, tại thửa số 179, tờ bản đồ số 7 đã được UBND
thành phố B, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 265371 ngày 08/2/2014 cho
ông Phạm Ngọc H. Hiện trạng thực tế được giới hạn bởi các mốc (1,2,3,4,5,1)
có diện tích 114,0 m
2
theo trích đo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5115/2024 ngày
05/6/2024 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ-C.
2. Buộc ông Phạm Ngọc H phải thanh toán cho bà Trần Thị Hồng H1
241.282.300đ (hai trăm bốn mươi mốt triệu hai trăm tám mươi hai ngàn ba trăm
đồng) tiền gìn giữ tôn tạo nhà đất.
7
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi
thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Trần Thị Hồng H1 phải trả cho ông Phạm
Ngọc H chi phí xem xét, thẩm định, đo vẽ là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
4. Về án phí DSST: Ông Phạm Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có
giá ngạch là 12.064.115 đồng được trừ vào tạm ứng án phí ông H đã nộp
300.000đ theo biên lai số 0002258 ngày 19/01/2024 của Chi cục thi hành án dân
sự thành phố Biên Hòa (nay là Phòng thi hành án khu vực 1 – Đồng Nai), còn lại
ông H phải nộp 11.764.115đ.
Bà Trần Thị Hồng H1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
5. Về án phí DSPT: Ông H không phải chịu án phí DSPT. Hoàn trả cho ông
H tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp biên lai số 7842 ngày 29/7/2025 tại Thi
hành án dân sự tỉnh Đồng Nai.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN
Phan Thị Thu Hương Nguyễn Đình Trung
THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Thị Thanh Bình
8
Nơi nhận:
- TAND khu vực 1;
- VKSND khu vực 1;
- VKSND T. Đồng Nai;
- THADS khu vực 1;
- THADS T. Đồng Nai;
- Đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Thái Thị Thanh Bình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 22/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 16/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm