Bản án số 318/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 318/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 318/2026/DS-PT ngày 22/06/2026 của TAND tỉnh An Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh An Giang
Số hiệu: 318/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngô Thi Anh T, Nguyen Minh T1 - Nguyên Công T3
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 318/2026/DS-PT
Ngày 22-6-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất;
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng và ông Đào Chí Keo.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bé Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Dương Quy Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giangxét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 268/2026/TLPT-DS ngày 07 tháng 5
năm 2026 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất; yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 254/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 5 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 318/2026/QĐ-
PT ngày 01 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Ngô Thị Ánh T, sinh năm 1948 (vắng mặt);
1.2. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1939 (chết ngày 19/02/2017);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1, gồm:
- Bà Ngô Thị Ánh T, sinh năm 1948 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Nguyệt N, sinh năm 1973 (vắng mặt);
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1975 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1981 (vắng mặt);
2
Cùng nơi cư trú: Tổ B, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của Ngô Thị Ánh T, bà Nguyễn Thị Nguyệt N,
ông Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị Hải Y: Ông Hồ Vinh T2, sinh năm 1966;
nơi cư trú: Ấp B, xã B, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền (văn bn
ủy quyền ngày 17/4/2023) (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1969 (có mặt);
Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thanh Đ, sinh năm
1963; nơi trú: Khóm B, phường L, tỉnh An Giang; người đại diện theo ủy
quyền (văn bản ủy quyền ngày 18/6/2026) (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Phan Thị G, sinh năm 1955 (vắng mặt);
3.2. Ông Nguyễn Khánh D, sinh năm 1983 (vắng mặt);
3.3. Nguyễn Hoàng Anh T4, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, tnh An Giang.
3.4. Nguyễn Kim R, sinh năm 1962 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Số G, Khóm G, phường L, tỉnh An Giang.
Người đại diện hợp pháp của các ông, Phan Thị G, Nguyễn Khánh D,
Nguyễn Hoàng Anh T4, Nguyễn Kim R: Ông Nguyễn Công T3, sinh năm 1969;
nơi trú: TA, ấp B, xã B, tỉnh An Giang; người đại diện theo ủy quyền (văn
bản ủy quyền ngày 19/02/2024 và ngày 26/02/2024) (có mặt).
3.5. Lương Thị Kim C, sinh năm 1975 (vắng mặt);
Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.
3.6. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An Giang;
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
An Giang: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân B, tỉnh An
Giang: Ông Huỳnh Tấn H, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh An
Giang; địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang; là người đại diện theo ủy quyền
(văn bản ủy quyền ngày 14/8/2025) (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Ông Nguyễn Công T3 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
3
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn, trong quá trình giải quyết vụ án tại
phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hồ Vinh
T2 trình bày:
Nguồn gốc đất Ngô Thị Ánh T ông Nguyễn Minh T1 đang sử
dụng diện tích 608,1m
2
tọa lạc tại ấp B, B, tỉnh An Giang nhận chuyển
nhượng của bà Thái Thị N1 được Ủy ban nhânn (sau đây viết tắt là UBND)
huyện C, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt
GCN QSDĐ) số H00757aF ngày 29/12/2006 với diện tích 608,1m
2
, thửa đất số
101, tờ bản đồ số 18. Ông T1 T sử dụng phần đất này ổn định từ khi nhận
chuyển nhượng, không có tranh chấp phát sinh.
Năm 2015, ông Nguyễn Công T3 cất nhà bếp vách tole, mái tole, nền lót
gạch lấn chiếm đất của ông T1 T với diện tích 1,5m x dài 05m diện
tích ngang 03m x 64,25m. Ông T3 dùng lưới B40 rào chiếm đất, tự ý trồng cây
trên đất gồm: 01 bụi chuối, 04 cây dừa, 02 cây cau vua. Ông T1 và bà T đã nhiều
lần yêu cầu ông T3 tháo dỡ nhà bếp, tháo dỡ hàng rào, di dời cây trồng để trả lại
đất lấn chiếm nhưng ông T3 không đồng ý.
Nay nguyên đơn Ngô Thị Ánh T người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng của ông Nguyễn Minh T1 (chết năm 2017), gồm các ông bà: Ngô Thị Ánh
T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị Hải Y yêu cầu ông
Nguyễn Công T3 phải trách nhiệm trả lại phần đất tại các điểm 6, 42, 18, 19,
20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 diện tích 53,5m
2
; yêu cầu ông Nguyễn
Công T3 và bà Lương Thị Kim C phải có trách nhiệm tháo dỡ hàng rào lưới B40
+ trụ đá, nhà bếp có kết cấu bó nền xi măng, khung gỗ tạp, vách + mái tole tại các
điểm 18, 43, 44, 35 diện tích 5,3m
2
tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày
05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2.
Đối với phần đất diện tích 16,8m
2
tại các điểm 4, 5, 42, 45, 17, 16 tại Bản
trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 thì
nguyên đơn đồng ý trả lại cho ông Nguyễn Công T3.
Bị đơn ông Nguyễn Công T3 u cầu hủy GCN QSDĐ số H00757aF ngày
29/12/2006 do UBND huyện C cấp cho bà Ngô Thị Ánh T và ông Nguyễn Minh
T1 thì nguyên đơn không đồng ý GCN QSDĐ số 05214QSDĐ/aF ngày
22/02/2000 do UBND huyện C cấp cho Thái Thị T5 được cấp trước, còn GCN
QSDĐ số H00757aF ngày 29/12/2006 do UBND huyện C cấp cho Ngô Thị
Ánh T và ông Nguyễn Minh T1 được cấp sau và sử dụng ổn định.
Bị đơn là ông Nguyễn Công T3 trình bày:
Cha ông là cụ Nguyễn Văn Đ1 (chết năm 2012), mẹ ông là cụ Thái Thị T5
(chết năm 2006). Cụ Đ1 cụ T5 chung sống với nhau 03 người con gồm: Ông
Nguyễn Công N2 (chết năm 2021, hàng thừa kế gồm vợ Phan Thị G
các con ông Nguyễn Khánh D Nguyễn Hoàng Anh T4), Nguyễn Thị
Kim R và ông Nguyễn Công T3.
4
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Nguyễn Công T3 không
đồng ý và có yêu cầu hủy GCN QSDĐ số H00757aF ngày 29/12/2006 do UBND
huyện C cấp cho bà Ngô Thị Ánh Tông Nguyễn Minh T1. Lý do: Khi bà T và
ông T1 làm thủ tục cấp GCN QSDĐ thì ông T3 không biết, không ký tên tứ cận
nên việc cấp GCN QSDĐ cho T và ông T1 không đúng. Phần diện tích đất
và nhà (đối với diện tích đất 668m
2
đã được cấp GCN QSDĐ số 05214QSDĐ/aF
ngày 22/02/2000 do UBND huyện C cấp cho Thái Thị T5; đối với nhà tchưa
được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà) hiện nay ông T3 đang quản s
dụng ổn định từ trước khi bà T và ông T1 mua lại phần đất của bà Thái Thị N1 (
em ruột của bà Thái Thị T5), giữa phần đất của bà T5 N1 trước đây có hàng
dừa gồm 03 cây làm ranh giới (do mẹ ông T3 là bà T5 trồng hơn 60 năm).
Ông T3 không đồng ý Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của
Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 nhưng ông T3 không yêu cầu đo vẽ lại.
Đối với nhà bếp có kết cấu bó nền xi măng, khung gỗ tạp, vách + mái tole
diện tích 5,3m
2
tại các điểm 18, 43, 44, 35 theo Bản trích đo hiện trạng khu đt
ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2do ông T3 vợ là bà Lương
Thị Kim C xây cất vào khoảng năm 2012.
Đối với phần đất diện tích 16,8m
2
thể hiện tại các điểm 4, 5, 42, 45, 17, 16
tại Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh
Đ2, nguyên đơn đồng ý trả lại thì ông T3 đồng ý.
Đối với diện tích đất 668m
2
thể hiện tại các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 tại Bản
trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 đã
được UBND huyện C cấp GCN QSDĐ số 05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000 cho
bà Thái Thị T5, thì bà T5 đã tặng cho ông T3 nhưng chỉ cho bằng lời nói, không
có văn bản và hiện nay phần đất này vẫn đứng tên bà Thái Thị T5.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Người đại diện theo ủy quyền của c ông bà Phan Thị G, Nguyễn Khánh
D, Nguyễn Hoàng Anh T4, Nguyễn Kim R ông Nguyễn Công T3 trình bày: Phần
đất đang tranh chấp diện tích đất 668m
2
được UBND huyện C cấp GCN QSDĐ
số 05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000 cho Thái Thị T5 hiện do ông Nguyễn
Công T3 trực tiếp quản lý, sử dụng đồng ý cho ông T3 kỷ phần thừa kế diện
tích đất mà bà T5 đứng tên, không tranh chấp thừa kế. Thống nhất với ý kiến của
ông T3 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án
chấp nhận yêu cầu của ông T3 về yêu cầu hủy GCN QSDĐ số H00757aF ngày
29/12/2006 do UBND huyện C cấp cho bà Ngô Thị Ánh T và ông Nguyễn Minh
T1.
- Lương Thị Kim C trình bày: Thống nhất như lời trình bày của chồng
ông Nguyễn ng T3; C yêu cầu vắng mặt khi hòa giải, đối chất, ng
khai chứng cứ, xét xử.
* Tại Bản án dân sự thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang đã quyết định:
5
Căn cứ các Điều 5, Điều 25, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 131, điểm b
khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 khoản 1 Điều 245 của Bộ luật Ttụng
dân snăm 2015; Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều
106 Luật Đất đai năm 2003; khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngô Thị Ánh T người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1, gồm các ông bà: NThị Ánh
T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh B Nguyễn Thị Hải Y đối với ông
Nguyễn Công T3 và bà Lương Thị Kim C.
- Buộc ông Nguyễn Công T3 phải trách nhiệm trả lại cho Ngô Thị
Ánh T và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1, gồm
các ông bà: Ngô Thị Ánh T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh BNguyễn
Thị Hải Y diện tích đất được giới hạn tại các điểm 6, 42, 18, 19, 20, 21, 22, 23,
24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 có diện tích 53,5m
2
theo Bản trích đo hiện trạng khu đất
ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2, theo GCN QSDĐ số H00757aF
ngày 29/12/2006 do UBND huyện C cấp cho Ngô Thị Ánh T ông Nguyễn
Minh T1.
Ông Nguyễn Công T3 và Lương Thị Kim C phải trách nhiệm tháo dỡ
di dời hàng rào lưới B40 + trụ đá, nhà bếp kết cấu nền xi măng, khung g
tạp, vách + mái tole của ông Nguyễn Công T3 Lương Thị Kim C diện
tích 5,3m
2
tại các điểm 18, 43, 44, 35 theo Bản đồ hiện trạng khu đất ngày
05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(Đính kèm bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng
Đ2 chi nhánh Đ2).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công T3 về việc hủy GCN
QSDĐ số H00757aF ngày 29/12/2006 do UBND huyện C cấp cho Ngô Thị
Ánh T và ông Nguyễn Minh T1.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo,
quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 13/10/2025, bị đơn ông Nguyễn Công T3 đơn kháng cáo đề
ngày 06/10/2025 với nội dung: Yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn do ông Hồ Vinh T2 đại diện theo ủy quyền trình bày: Nguyên
đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
6
- Bị đơn ông Nguyễn Công T3 người đại diện theo ủy quyền ông
Nguyễn Thanh Đ trình bày: Ông T3 vẫn giữ yêu cầu kháng o, cụ thể u cầu
hủy GCN QScủa nguyên đơn do cấp không đúng, không tcận. Ông
T3 không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ. Ông T3 xác định mộ bia bà Thái Thị
T5 ghi nhận T5 chết ngày 21/5/2007 như hình ảnh nguyên đơn cung cấp nhưng
theo ông là do thợ khắc sai, vì giấy chứng tử ghi nhận T5 chết ngày 21/6/2006
và ông là người đi khai tử ngay sau khi bà T5 chết; tuy nhiên, ông T3 không cung
cấp được giấy chứng tử của T5 thể hiện đăng ký khai tử ngay thời điểm bà T5
chết tháng 6/2006, chỉ có bản trích sao lục giấy chứng tử thể hiện thời điểm khai
tử là ngày 05/3/2012 mà ông đã cung cấp ở giai đoạn sơ thẩm. Ngoài ra, ông T3
cũng xác định diện ch đất ông đang quản lý, sử dụng theo đo đạc thực tế hiện
nay vẫn đủ 668m
2
như GCN QSDĐ T5 (mẹ ông) đã được cấp; tuy nhiên,
theo ông trước đây Nhà nước đã cấp thiếu đất nhưng ông không bổ sung nghĩ
N1 là cô ruột nên không đi tranh chấp.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Những người tham gia tố tụng đã chấp
hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
+ Về giải quyết vụ án: Về nội dung vụ án, cấp sơ thẩm đã giải quyết có căn
cứ, phù hợp quy định pháp luật; bị đơn ông T3 kháng cáo nhưng không cung cấp
chứng cứ mới nên không sở chấp nhận; tuy nhiên, bản án thẩm buộc
ông T3 phải chịu án phí thẩm đối với yêu cầu hủy GCN QSDĐ không được
chấp nhận chưa đúng quy định nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị
đơn và sửa bản án sơ thẩm về án phí.
Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015, phúc xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của bđơn Nguyễn Công T3;
sửa Bản án sơ thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 13 - An Giang về bị đơn ông T3 không phải chịu án phí đối với yêu cầu hủy
GCN QSDĐ không được chấp nhận; các phần khác của bản án thẩm giữ
nguyên; bị đơn ông T3 không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn ông Nguyễn Công T3 làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định,
nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xét
xử theo thủ tục phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lương Thị Kim C; Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh An Giang người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng Chủ tịch Ủy
ban nhân dân xã B, tỉnh An Giang do ông Huỳnh Tấn H, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy
7
ban nhân dân B làm đại diện theo ủy quyền đã được Tòa án triệu tập hợp llần
thứ hai để tham gia phiên tòa phúc thẩm nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xvụ án
vắng mặt các đương sự có tên nêu trên.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công T3, Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận thấy:
Thái Thị T5 (mẹ ông T3) được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp GCN
QSDĐ s05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000, diện tích 668m
2
(thửa 79, diện tích
646m
2
; thửa 94, diện tích 204m
2
).
Nguyên đơn Ngô Thị Ánh T, Nguyễn Minh Tiếp N3 chuyển nhượng đất
của Thái Thị N1 vào m 2006 được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp
GCN QSDĐ số H00757aF ngày 29/12/2006, diện tích 608,1m
2
, thửa 101.
Căn cứ Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 do n phòng Đ2
chi nhánh Đ2 lập, phần diện tích đất nguyên đơn đang tranh chấp với bị đơn
diện tích 53,5m
2
được giới hạn tại các điểm 6, 42, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25,
26, 27, 28, 29, 30 và trên phần đất có hàng rào lưới B40 + trụ đá, nhà bếp có kết
cấu bó nền xi măng, khung gỗ tạp, vách + mái tole (do ông T3 và vợ Lương
Thị Kim C quản lý sử dụng) được giới hạn tại các điểm 18, 43, 44, 35 có diện tích
5,3m
2
; đồng thời, phần diện tích đất tranh chấp này được xác định nằm trong GCN
QSDĐ số H00757aF do UBND huyện C cấp ngày 29/12/2006 mang tên Ngô
Thị Ánh T, ông Nguyễn Minh T1.
Nguyên đơn cho rằng phần đất ông T3 đang rào lưới B40 để sử dụng diện
tích 53,5m
2
thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn nên yêu cầu ông T3 trả lại
đối với các vật kiến trúc trên đất tranh chấp do vợ chồng ông T3, C xây
dựng nên yêu cầu tháo dỡ. Phía bđơn ông T3 không đồng ý yêu cầu hủy
GCN QSDĐ số H00757aF do UBND huyện C cấp ngày 29/12/2006 mang tên
Ngô Thị Ánh T, ông Nguyễn Minh T1 với do: Khi ông T1, bà T được cấp GCN
QSDĐ thì ông T3 không biết, không ký tên tứ cận, việc đo đạc đất ông T3 cũng
không biết nên việc cấp GCN QSDĐ cho ông T1, bà T là không đúng pháp luật.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, phần đất bị đơn ông T3 đang quản lý,
sử dụng của Thái Thị T5 (mẹ của ông T3). Tại đơn xin đăng quyền sử
dụng đất ngày 30/11/1999 của Thái Thị T5, thể hiện kê khai cấp giấy chứng
nhận diện tích đất 668m
2
(gồm hai thửa: Thửa 79 diện tích 464m
2
thửa 94 diện
tích 204m
2
); tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất vào tháng 6/1999
thì bà Thái Thị N1 chủ sử dụng đất kế cận đã ký, xác nhận vào ranh mốc với
Thái Thị T5 và bà T5 được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp GCN QSDĐ số
05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000 với diện tích đất 668m
2
. Nay qua đo đạc hiện
trạng đất, bị đơn ông T3 (con của T5) đang quản lý, sử dụng diện tích đất 668m
2
8
tại c điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất của Văn phòng
Đăng đất đai chi nhánh huyện Đ2 lập ngày 05/5/2020, được xác định thuộc
thửa 79 diện tích 464m
2
và thửa 94 diện tích 204m
2
của GCN QSDĐ số
05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000 do UBND huyện C cấp cho Thái Thị T5.
Như vậy, hiện trạng phần diện tích đất ông T3 đang quản lý sử dụng đúng theo
phần diện tích đất bà Thái Thị T5 đã được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp
GCN QSDĐ số 05214QSDĐ/aF ngày 22/02/2000 với diện tích đất 668m
2
(gồm
thửa 79 diện tích 464m
2
và thửa 94 diện tích 204m
2
), không bị giảm hay thay đổi
về diện tích đất.
Đối với phần đất của nguyên đơn ông T1, T nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất từ bà Thái Thị N1 - phần đất giáp ranh với đất ca bà Thái Thị
T5 N1 đã xác nhận tứ cận giáp ranh cho T5 làm thủ tục cấp GCN
QSDĐ vào tháng 6/1999. Khi ông T1, T đi khai cấp GCN QSDĐ, tại đơn
xin cấp GCN QSDĐ của ông Nguyễn Minh T1 có xác nhận của UBND xã B vào
ngày 06/12/2006, thể hiện phần diện tích đất 608,1m
2
của bà Thái Thị N1 đã
chuyển nhượng cho bà Ngô Thị Ánh Tông Nguyễn Minh T1 - được thực hiện
sau thời điểm Thái Thị T5 được UBND huyện C, tỉnh An Giang cấp GCN
QSDĐ. Đồng thời, tại Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất vào ngày
18/6/2006 thì bà Thái Thị T5 là chủ sử dụng đất kế cận đã ký, xác nhận vào ranh
mốc với bà Thái Thị N1. Mặt khác, từ thời điểm ông T1 T nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất từ Thái Thị N1 đến thời điểm được UBND huyện
C, tỉnh An Giang cấp GCN QSsH00757aF ngày 29/12/2006 với diện tích
đất 608,1m
2
tại thửa số 101, tờ bản đồ số 18 thì không có ai tranh chấp nguyên
đơn đã sử dụng n định phần đất này. Như vậy, việc UBND huyện C, tỉnh An
Giang đã cấp GCN QSDĐ cho Thái Thị T5 và bà Ngô Thị Ánh T, ông Nguyễn
Minh T1 bảo đảm theo quy định pháp luật về trình tự, thủ tục cấp GCN QSDĐ.
Trong khi đó, căn cứ theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn
phòng Đ2 chi nhánh Đ2 lập, phần đất có diện tích 53,5m
2
tại các điểm 6, 42, 18,
19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30; trên đó, hàng rào lưới B40 + trụ
đá, nhà bếp kết cấu nền xi măng, khung gỗ tạp, vách + mái tole được giới
hạn tại các điểm 18, 43, 44, 35, diện tích 5,3m
2
do bđơn ông Nguyễn Công
T3, Lương Thị Kim C quản lý, sử dụng lại lấn qua ranh đất thửa 101 của nguyên
đơn ông T1, T đứng tên, nhưng ông T3 không cung cấp được chứng cứ để
chứng minh việc cấp GCN QSDĐ cho nguyên đơn là trái pháp luật.
Từ phân tích trên, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông T3 vviệc yêu cầu hủy GCN
QSDĐ của nguyên đơn sở, phù hợp quy định pháp luật. Buộc ông Nguyễn
Công T3 phải trách nhiệm trả lại cho Ngô Thị Ánh T người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1 (chết năm 2017), gồm các ông
Ngô Thị Ánh T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh B, Nguyễn Thị Hải Y
diện tích đất được giới hạn tại các điểm 6, 42, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26,
27, 28, 29, 30 diện tích 53,5m
2
theo Bản trích đo hiện trạng khu đất do Văn
phòng Đăng đất đai chi nhánh huyện Đ2 lập ngày 05/5/2020, theo GCN QSDĐ
9
số H00757aF do UBND huyện C cấp ngày 29/12/2006 mang tên bà Ngô Thị Ánh
T ông Nguyễn Minh T1. ông Nguyễn Công T3 bà Lương Thị Kim C
phải trách nhiệm tháo dỡ, di dời hàng rào lưới B40 + trụ đá, nhà bếp có kết cấu
nền xi măng, khung gỗ tạp, vách + mái tole của ông Nguyễn Công T3 bà
Lương Thị Kim C có diện tích 5,3m
2
tại các điểm 18, 43, 44, 35 theo Bản trích đo
hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 khi bản án
hiệu lực pháp luật.
Nay ông T3 kháng cáo cho rằng theo ý chí của ông, thời điểm cấp GCN
QSDĐ năm 2000 cho Thái Thị T5 (mẹ của ông) thiếu diện tích đất nhưng
T5 không yêu cầu cấp bổ sung nghĩ giáp ranh đất của Thái Thị N1
con nên không cần thiết; ngoài ra, ông T3 thừa nhận trên mộ bia của Thái
Thị T5 ghi nhận T5 chết ngày 21/5/2007 như chứng cứ nguyên đơn cung cấp
tại giai đoạn thẩm. Đồng thời, ông T3 xác định không cung cấp được tài liệu,
chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo, nên không sở để
Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T3.
Tuy nhiên, về phần án phí dân sự sơ thẩm, cấp sơ thẩm tuyên ông Nguyễn
Công T3 phải chịu 300.000đ án phí dân sự thẩm đối với yêu cầu phản tkhông
được chấp nhận; ông Nguyễn Công T3 Lương Thị Kim C phải chịu 300.000
đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm là không chính xác. Vì đối với
yêu cầu của bị đơn yêu cầu hủy GCN QScủa nguyên đơn không phải yêu
cầu phản tố không thuộc trường hợp phải chịu án phí. Theo quy định, việc chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả lại đất thì bị đơn phải
chịu án phí không giá ngạch là 300.000đ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa
lại phần án phí dân sthẩm, buộc bị đơn ông T3 chịu án phí dân sthẩm
300.000đ.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần
kháng cáo của bị đơn ông T3, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 103/2026/DS-ST
ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang về án phí
dân sự sơ thẩm; các phần còn lại của bản án thẩm không sửa, được giữ nguyên.
Ý kiến ca Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng
xét xử phúc thẩm.
[3] Về án phí phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên bị đơn ông
Nguyễn Công T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, ông T3 được nhận lại
tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 148 Bluật Tố tụng dân sự
năm 2015; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
10
1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Công T3.
2. Sửa một phần Bản án dân ssơ thẩm số 103/2025/DS-ST ngày 30 tháng
9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 - An Giang về án phí sơ thẩm:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngô Thị Ánh T người kế thừa
quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1 (gồm các ông, bà: Ngô Thị Ánh
T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh B Nguyễn Thị Hải Y) đối với ông
Nguyễn Công T3 và bà Lương Thị Kim C.
- Buộc ông Nguyễn Công T3 phải trách nhiệm trả lại cho Ngô Thị
Ánh T người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1 (gồm
các ông bà: Ngô Thị Ánh T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh BNguyễn
Thị Hải Y) diện tích đất được giới hạn tại các điểm 6, 42, 18, 19, 20, 21, 22, 23,
24, 25, 26, 27, 28, 29, 30 có diện tích 53,5m
2
theo Bản trích đo hiện trạng khu đất
ngày 05/5/2020 của n phòng Đ2 chi nhánh Đ2, theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số H00757aF ngày 29/12/2006 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh An
Giang cấp cho bà Ngô Thị Ánh T và ông Nguyễn Minh T1.
Ông Nguyễn Công T3 Lương Thị Kim C phải trách nhiệm tháo
dỡ, di dời hàng rào lưới B40 + trụ đá, nhà bếp có kết cấu bó nền xi măng, khung
gỗ tạp, vách + mái tole của ông Nguyễn Công T3 bà Lương Thị Kim C diện
tích 5,3m
2
tại các điểm 18, 43, 44, 35 theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày
05/5/2020 của Văn phòng Đ2 chi nhánh Đ2 khi bản án có hiệu lực pháp luật.
(đính kèm Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 05/5/2020 của Văn phòng
Đ2 chi nhánh Đ2).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Công T3 về việc hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số H00757aF ngày 29/12/2006 do Ủy ban nhân
dân huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Ngô Thị Ánh Tông Nguyễn Minh T1.
- Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và
chi phí đo đạc: Ông Nguyễn Công T3 nghĩa vụ trả lại cho Ngô Thị Ánh T
người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Minh T1 (gồm các ông,
bà: Ngô Thị Ánh T, Nguyễn Thị Nguyệt N, Nguyễn Thanh BNguyễn Thị Hải
Y) số tiền 3.793.800đ (ba triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn tám trăm đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công T3 phải chịu 300.000đ (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. V án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Công T3 không phải chịu án phí dân
sự phúc thẩm, ông Nguyễn Công T3 được nhận lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng)
tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0012438 ngày 23/12/2025 của Thi
hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
11
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 13 - An Giang;
- Phòng THADS khu vực 13 - An Giang;
- Đương sự;
- Lưu: Văn phòng, Tòa dân sự,
Phòng GĐ,KT,TT&THA, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất