Bản án số 313/2026/HS-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 313/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 313/2026/HS-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 313/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bùi Thị G
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 313/2026/HS-PT Bản án số 313/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 313/2026/HS-PT Bản án số 313/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 313/2026/HS-PT
Ngày 27-10-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Bích Diệp
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Kiên
Bà Trần Thị Vân Thuý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Hà Thị Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số
282/2026/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2026 đối với bị cáo Bùi Thị G do có
kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 152/2026/HS-ST
ngày 21 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:
Bùi Thị G, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1966 tại Hải Phòng; CCCD số
************; nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố Hải Phòng; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bùi S (đã chết) và bà Lê
Thị X, có chồng là Hà Xuân H và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12 tháng 12 năm 2025.
Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Bùi Thị Thúy H1 - Luật sư Công ty L thuộc
Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên toà, vắng mặt khi tuyên án.
- Bị hại: Ông Nguyễn Bùi B, sinh năm 1969; CCCD số ************; nơi
cư trú: Tổ dân phố D, phường T, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Bùi Thị G và ông Nguyễn Bùi B là chị em ruột. Do mâu thuẫn về tranh chấp
đất đai trong gia đình nên khoảng 17 giờ 20 phút ngày 27 tháng 8 năm 2025, giữa
G và ông Nguyễn Bùi B xảy ra cãi chửi nhau tại khu vực tiếp giáp giữa sân nhà
ông B và G. Trong lúc cãi nhau, ông B dùng tay phải (không cầm đồ vật gì) đấm
01 nhát vào đầu G (khi đó đang đội nón). Sau đó, do được một số người can ngăn
nên ông B đi về nhà mình nhưng giữa hai người vẫn tiếp tục cãi chửi nhau. Gọn đi
đến khu vực sân nhà cụ Lê Thị X (mẹ đẻ G và ông B) cạnh đó nhặt 01 chiếc búa
(dài khoảng 35cm, có cán cầm bằng gỗ, phần đầu búa bằng kim loại tối màu) và 01
chiếc búa rìu (dài 35,7cm, có lưỡi bằng kim loại dài 13,7cm, một đầu có lưỡi sắc
bản rộng 07cm, đầu còn lại dạng búa nhổ đinh) tiến đến vị trí ông B đang đứng,
ném chiếc búa về phía ông B nhưng không trúng. Ông B nhặt chiếc búa trên ném
lại về phía Gọn nhưng không trúng. Gọn liền dùng hai tay cầm chiếc búa rìu chém
về phía ông B, ông B giơ tay trái đang cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu
Sumsung Galaxy A14 lên đỡ thì bị chiếc búa rìu chém vào khu vực bàn tay trái gây
thương tích, chiếc điện thoại bị hư hỏng một góc màn hình. Ông B bị thương tích
được điều trị tại Bệnh viện Đ, sau đó chuyển sang điều trị tại Bệnh viện H2 từ ngày
28 tháng 8 năm 2025 đến ngày 03 tháng 9 năm 2025. Ngày 03 tháng 9 năm 2025,
Gọn đến Bệnh viện H2 khám điều trị, ngày 09 tháng 9 năm 2025 ra viện.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
609/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Trung tâm P kết
luận: Ông Nguyễn Bùi B bị các thương tích: Vết thương khe ngón III, IV bàn tay
trái (kích thước 4.5x0.2cm - 0.5cm); vết thương mặt trước đốt 2 ngón IV bàn tay
trái (kích thước 2.5x0.1cm). Tỷ lệ % tổn thương cơ thể do sẹo vết thương khe ngón
III, IV bàn tay trái gây nên là 02%; do sẹo thương mặt trước đốt 2 ngón IV bàn tay
trái gây nên là 01%. Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của ông B tại thời điểm giám
định là 03%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác
động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
705/2025/KLTTCT-TTPYHP ngày 05 tháng 11 năm 2025 của Trung tâm P kết
luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Thị G do chấn động não gây nên
tại thời điểm giám định là 02%. Riêng ổ tổn thương não cũ vùng thái dương đỉnh
phải không liên quan với thời điểm xảy ra chấn thương ngày 27 tháng 8 năm 2025
nên không đánh giá tỷ lệ % tổn thương cơ thể. Các thương tích trên có đặc điểm do
vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên.
Tại Công văn số 109 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Trung tâm P trả lời:
Thương tích của bà Bùi Thị G theo Kết luận giám định số 705/2025/KLTTCT-
TTPYHP ngày 05 tháng 11 năm 2025 có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh
3
cứng tác động trực tiếp gây nên. Nắm đấm hoặc bàn tay người cũng được coi là vật
tày có góc cạnh cứng và hoàn toàn có thể gây nên được những thương tích nêu
trong kết luận giám định pháp y đối với bà Bùi Thị G.
Tại Công văn số 109 ngày 29 tháng 01 năm 2026 của Phòng K Công an
thành phố H trả lời: 01 chiếc búa rìu dài 35,7cm, có lưỡi bằng kim loại, một đầu có
lưỡi sắc bản rộng 07cm, đầu còn lại dạng búa nhổ đinh không thuộc danh mục
“Dao có tính sát thương cao” quy định tại Thông tư số 75/2024/TT-BCA ngày 15
tháng 11 năm 2024 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí,
vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Ngày 02 tháng 9 năm 2025, ông Nguyễn Bùi B có đơn yêu cầu khởi tố vụ án
hình sự, khởi tố bị can đối với Bùi Thị G.
Ngày 29 tháng 4 năm 2026, Công an phường T, thành phố Hải Phòng ra
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC đối với ông Nguyễn Bùi
B với số tiền phạt là 7.500.000 đồng do hành vi Cố ý gây thương tích.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2026/HS-ST ngày 21
tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng đã quyết định căn
cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Thị G phạm tội “Cố ý gây
thương tích”; xử phạt bị cáo Bùi Thị G 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày
bắt giam thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 590 của Bộ luật Dân sự: Bị cáo Bùi
Thị G phải bồi thường cho ông Nguyễn Bùi B số tiền 50.500.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, xử lý vật chứng,
nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 22 tháng 8 năm 2026, bị cáo Bùi Thị G có đơn
kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo
được hưởng án treo.
Ngày 26 tháng 8 năm 2026, bị hại Nguyễn Bùi B có đơn kháng cáo đề nghị
Toà án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng
cáo. Người bào chữa của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt, xử phạt bị cáo 06 tháng tù và cho bị cáo được hưởng án treo.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai, là
vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho
bị cáo được hưởng án treo.
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên toà:
4
Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi Thị G về tội Cố ý gây thương tích theo
điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo và bị hại: Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và
nhân thân của bị cáo Bùi Thị G để xử phạt bị cáo mức hình phạt 09 tháng tù là có
căn cứ. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại không xuất trình được tài liệu, chứng cứ
nào khác là cơ sở để xem xét tăng nặng hình phạt đối với bị cáo. Sau khi xét xử sơ
thẩm, bị cáo đã nộp số tiền bồi thường theo quyết định của bản án sơ thẩm tại cơ
quan thi hành án dân sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ba tình tiết giảm
nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; nhân thân chưa có tiền
án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và
điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử
không chấp nhận kháng cáo của bị hại và chấp nhận một phần kháng cáo của bị
cáo, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Về án phí: Bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ngày 21 tháng 8 năm 2026, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải
Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên tòa bị cáo Bùi Thị G và bị hại Nguyễn Bùi B
đều có mặt. Vì vậy, ngày 22 tháng 8 năm 2026, bị cáo có đơn kháng cáo và ngày
26 tháng 8 năm 2026, bị hại có đơn kháng cáo là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo
quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh và khung hình phạt: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Bùi
Thị G về tội Cố ý gây thương tích theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình
sự (thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm) là đúng với hành vi của bị cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo và bị hại không kháng cáo về tội danh và khung
hình phạt; bị cáo kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình
phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; bị hại kháng cáo để nghị Toà án cấp phúc
thẩm xét xử lại vụ án theo hướng tăng mức hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Bùi Thị G và bị hại Nguyễn Bùi B: Khoảng 17
giờ 20 phút ngày 27 tháng 8 năm 2025, xuất phát từ việc tranh chấp về đất đai,
giữa bị cáo và bị hại Nguyễn Bùi B đã xảy ra mâu thuẫn, cãi vã. Sau khi bị ông B
dùng tay đấm vào đầu; bị cáo đã dùng 01 chiếc búa rìu chém vào tay trái của ông
B, hậu quả làm ông B bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 3%. Toà án cấp
sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo mức hình phạt
5
09 tháng tù là có căn cứ. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị hại Nguyễn Bùi B không xuất
trình được tài liệu, chứng cứ nào khác là cơ sở để xem xét tăng nặng hình phạt đối
với bị cáo.
[4] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đã chuẩn bị tiền để bồi thường thiệt hại
theo yêu cầu của bị hại nhưng bị hại chưa nhận số tiền này; mặc dù vậy, Toà án
cấp sơ thẩm vẫn cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b
khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã nộp toàn
bộ tiền bồi thường thiệt hại theo quyết định của bản án sơ thẩm là 50.500.000 đồng
theo Biên lai số 0001520 ngày 06 tháng 10 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành
phố Hải Phòng. Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có
nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ba tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự (theo các điểm b, i, s); bị cáo có nơi
cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; đủ điều kiện được hưởng án treo
theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật
Hình sự về án treo. Mặt khác, trong vụ án này, bị cáo và bị hại là chị em ruột, bị
hại là người tấn công bị cáo trước dẫn đến việc bị cáo dùng búa rìu chém bị hại;
bản thân bị cáo là người cao tuổi, cũng bị thương tích do hành vi của bị hại gây ra.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, là vi
phạm pháp luật, bị cáo đã xin lỗi bị hại và tỏ ra ăn năn, hối cải về hành vi của
mình. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã
hội, cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ sức răn đe.
[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
của bị hại Nguyễn Bùi B; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Thị G, sửa
bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án
treo.
[6] Về án phí phúc thẩm: Bản án sơ thẩm bị sửa nên bị cáo Bùi Thị G và bị
hại Nguyễn Bùi B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[7] Về việc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn: Do bị cáo Bùi Thị G bị xử hình
phạt tù nhưng cho hưởng án treo. Vì vậy, căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của
Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi
nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Thị G.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự:
6
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Bùi B.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Bùi Thị G: Sửa bản án sơ thẩm
về phần hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s
khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị
cáo Bùi Thị G phạm tội Cố ý gây thương tích; xử phạt bị cáo Bùi Thị G 09 (chín)
tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng kể từ
ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Bùi Thị G cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Hải Phòng
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo
thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Bùi Thị G kể từ ngày
tuyên án phúc thẩm (ngày 27 tháng 10 năm 2026).
4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a
khoản 1 và khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Bị cáo Bùi Thị G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm và không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị hại Nguyễn Bùi B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- CQTHAHS - CATP Hải Phòng;
- CQCSĐT - CATP Hải Phòng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
- THADS thành phố Hải Phòng;
- VKSND khu vực 1 - Hải Phòng;
- TAND khu vực 1 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Hải Phòng;
- UBND phường Thuỷ Nguyên, TP. Hải Phòng;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.
Vũ Thị Bích Diệp
8
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 313/2026/HS-PT Bản án số 313/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 313/2026/HS-PT Bản án số 313/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất