Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 59/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 59/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/10/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ly hôn tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 59/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 27-10-2026
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CsHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuyến, bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Mùi Nái - Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Ông Nguyễn
Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải
Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số
65/2026/TLPT-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2026 về việc ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn; do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 93/2026/HNGĐ-
ST ngày 03 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng bị
kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2026/QĐ-PT
ngày 12 tháng 10 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1997; căn cước số:
************; nơi thường trú: Tổ dân phố H, phường A, thành phố Hải Phòng;
có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Bùi
Thiên Ẩ - Công ty L - Chi nhánh C; địa chỉ: Số B Đ, phường Đ, thành phố Hà
Nội; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng Phi H, sinh năm 1994; căn cước công dân số:
************; nơi đăng ký thường trú: C Xóm T, phường G, thành phố Hải
Phòng; nơi ở hiện nay: Số B B, phường H, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Nguyễn Hoàng Phi H.
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Hoàng Phi H
đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, thành phố Hải Phòng (nay
là Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Hải Phòng) ngày 18/4/2022. Sau khi kết
hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh H (nhà mẹ anh H đi thuê, gia
đình anh H không có nhà riêng). Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường
xuyên phát sinh mâu thuẫn. Theo chị T trình bày: Nguyên nhân mâu thuẫn vợ
chồng do bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã.
Khi chị T sinh con lần hai, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, gia đình chồng không
quan tâm, để chị một mình chăm các con nên chị đã đưa cả 03 con chung về nhà
bố mẹ đẻ sinh sống để được hỗ trợ chăm sóc. Theo anh H, nguyên nhân mâu thuẫn
vợ chồng là do khó khăn về kinh tế, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm,
không còn sự thấu hiểu. Chị T nhiều lần có lời nói xúc phạm anh và gia đình anh,
đồng thời thường xuyên đề cập đến việc ly hôn. Thậm chí anh H còn bị bố chị T
và chị T đánh, bạo hành. Từ tháng 5/2025 hai anh chị đã ly thân, mỗi người sống
một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc, thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng đối với
nhau. Gia đình hai bên có hòa giải nhưng không thành. Chị T xác định tình cảm
vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn, anh H đồng ý.
2. Về quan hệ con chung: Chị T và anh H có ba con chung gồm: Nguyễn
Hoàng Minh K, sinh ngày 05/10/2023; Nguyễn Bảo V, sinh ngày 04/3/2025 và
Nguyễn Bảo N, sinh ngày 04/3/2025. Từ khi vợ chồng ly thân, cả ba con đều đang
sinh sống cùng chị T.
Theo chị T trình bày: Trong thời gian sinh sống, anh H không quan tâm đến
chị và các con. Bố mẹ anh H đều đã lớn tuổi, sức khỏe hạn chế nên không có điều
kiện chăm sóc các cháu. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay, anh H không thực hiện
việc cấp dưỡng, không thường xuyên thăm nom, chăm sóc các con. Hiện tại, chị
có đủ thời gian và tài chính để nuôi cả ba con bởi lẽ, chị hiện làm việc tại Công ty
TNHH T1, địa chỉ tại Lô B, Tổ dân phố H, phường A, thành phố Hải Phòng, với
mức thu nhập khoảng 15.000.000 đồng/tháng, được thanh toán qua tài khoản ngân
hàng; do có con nhỏ, công ty tạo điều kiện cho chị làm việc trong giờ hành chính,
không phải tăng ca; ngoài thu nhập từ tiền lương, chị còn được bố mẹ đẻ hỗ trợ
với tổng số tiền là 7.500.000 đồng/tháng để nuôi các con. Mẹ chị còn tặng cho chị
một sổ tiết kiệm có kỳ hạn số AC00051491801 do Ngân hàng N1 - Chi nhánh H1
theo Hợp đồng tặng cho tài sản ngày 22/5/2026 với số tiền 200.000.000 đồng (hai
trăm triệu đồng). Ngoài ra bố mẹ chị còn tặng cho chị quyền sử dụng đất theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DO 870777, số vào sổ CN01035 do Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện A cấp ngày 17/4/2024. Chị xác định đây
là tài sản riêng của mình. Trong thời gian đi làm, chị có thuê chị Nguyễn Thị X,
sinh năm 1982, trú tại Tổ dân phố B, phường A, thành phố Hải Phòng đến nhà bố
mẹ chị chăm sóc hai cháu Nguyễn Bảo V và Nguyễn Bảo N từ 07 giờ đến 17 giờ
hằng ngày. Bố mẹ chị cũng thường xuyên hỗ trợ chăm sóc các cháu và đưa đón
cháu Nguyễn Hoàng Minh K đi học tại trường mầm non gần nhà. Chị T xác định
chị T có đủ điều kiện kinh tế, thời gian chăm sóc để trực tiếp nuôi dưỡng cả ba
con chung. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án giao cả ba con chung cho chị trực tiếp trông
nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các con thành niên hoặc có sự thay đổi
3
theo quy định của pháp luật. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con.
Theo anh H trình bày: Trước khi ly thân, khi chị T sinh cháu Nguyễn Hoàng
Minh K thì toàn bộ chi phí sinh hoạt của gia đình và chi phí nuôi cháu Nguyễn
Hoàng Minh K chủ yếu do anh đảm nhận, ngoài ra cũng có hỗ trợ của chị T. Từ
ngày 16/5/2025, chị T đưa các con về nhà bố mẹ đẻ sinh sống tại Tổ dân phố H,
phường A, thành phố Hải Phòng. Anh H vẫn nhiều lần đến thăm con nhưng chị T
không đồng ý cho gặp. Ngày 11/02/2026, anh H cùng bố đẻ mang số tiền
10.000.000 đồng đến nhà chị T để thăm và đón các con về chơi Tết nhưng chị T
không nhận và cũng không đồng ý cho anh H đón các con về; sau đó anh H đã
nhờ người thân của chị T chuyển giúp nhưng chị T vẫn từ chối. Anh H thừa nhận
từ khi ly thân đến nay chưa thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con. Theo anh, nguyên
nhân là do anh phải thanh toán khoản nợ phát sinh từ thẻ tín dụng của Ngân hàng
TMCP V2 (V3), thẻ này được sử dụng để chi trả viện phí khoảng 25.000.000 đồng
khi chị T sinh hai con (sinh đôi) vào tháng 3/2025. Hằng tháng anh phải thanh
toán cho ngân hàng khoảng hơn 1.000.000 đồng và chi trả tiền thuê nhà 3.500.000
đồng, phần thu nhập còn lại dùng để trang trải sinh hoạt cá nhân. Hiện anh H làm
việc tại Công ty TNHH A2, làm nhiệm vụ quản lý hình ảnh tại các siêu thị điện
máy trên địa bàn thành phố Hải Phòng, không làm ở địa điểm cố định, thời gian
làm việc từ 08 giờ đến 17 giờ hằng ngày, không phải đi công tác ngoài địa phương,
thu nhập khoảng 11.000.000 đồng/tháng và không có nguồn thu nhập nào khác.
Anh H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Minh K, bố mẹ
anh sẽ hỗ trợ việc chăm sóc cháu K nếu anh được giao nuôi dưỡng. Hiện nay bố
mẹ anh đang ở nhà tập thể tại số I lô E phường A, thành phố Hải Phòng, diện tích
48 m
2
, một mặt sàn và có 02 phòng ngủ, đây là nhà của ông bà ngoại anh, hiện
ông bà ngoại đã mất. Nếu cháu K ở với anh anh sẽ về ở cùng bố mẹ và cơi nới
thêm nhà để sử dụng và có thể anh sẽ tìm thêm việc làm để kiếm thêm thu nhập.
Anh H đề nghị Tòa án giao hai cháu Nguyễn Bảo V và Nguyễn Bảo N cho chị T
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu thành niên hoặc có sự thay đổi
theo quy định của pháp luật. Mặc dù chị T không yêu cầu anh phải cấp dưỡng
nuôi con nhưng anh vẫn tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cho chị T đối với hai cháu
Nguyễn Bảo V và Nguyễn Bảo N với mức cấp dưỡng từ 3.000.000 đồng đến
4.000.000 đồng.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh H không có tài sản chung,
không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 93/2026/HNGĐ-ST ngày
03/8/2026, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng quyết định:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn
Hoàng Phi H.
Về con chung: Giao 03 con chung là Nguyễn Hoàng Minh K, sinh ngày
05/10/2023; Nguyễn Bảo V và Nguyễn Bảo N, cùng sinh ngày 04/3/2025 cho chị
Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc
có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp
4
nhận sự tự nguyện của anh H cấp dưỡng nuôi con chung Nguyễn Bảo N và
Nguyễn Bảo V cho chị T với mức 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ tháng 9/2026
đến khi mỗi con đủ 18 tuổi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có
quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy
định.
5. Ngày 17/8/2026, anh Nguyễn Hoàng Phi H kháng cáo yêu cầu được trực
tiếp nuôi con chung là Nguyễn Hoàng Minh K.
Tại phiên tòa:
Chị Thu G nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Anh H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm giao con chung Nguyễn Hoàng Minh K cho anh trực tiếp nuôi dưỡng,
không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi dưỡng con chung Minh K và tự nguyện cấp
dưỡng nuôi hai con chung Bảo V và Bảo N mỗi tháng 3.000.000đồng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc
anh H phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của anh H trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng
án phí nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Chị T và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có
đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Hai anh chị có thời gian
sinh sống hạnh phúc, từ 5/2025 anh chị mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân,
không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Tại cấp sơ thẩm anh chị đã thỏa thuận ly
hôn, Tòa án cấp sơ thẩm công nhận sự thuận tình ly hôn của anh chị là phù hợp,
cả hai anh chị đều không kháng cáo về nội dung này.
[2.2] Xét kháng cáo về quan hệ con chung của anh H: Các con chung của
anh chị là Bảo V1 và Bảo N cùng sinh ngày 04/3/2025, con chung là Minh K tại
thời điểm xét xử sơ thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi, cấp sơ thẩm giao cả ba con cho
chị T nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia
đình.
Tại thời điểm xét xử phúc thẩm, con chung Minh K đã đủ 36 tháng tuổi; cả
anh H và chị T đều có công việc và thu nhập ổn định, đều có sự hỗ trợ của gia
đình trong việc chăm sóc con. Hội đồng xét xử thấy rằng nếu tiếp tục giao cả ba
con cho chị Lan A nuôi dưỡng sẽ khó khăn cho chị Lan A trong việc đảm bảo
nuôi dưỡng, chăm sóc các con khi các con của anh chị ngày một lớn. Do vậy, Hội
đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh H giao con chung Minh K cho
5
anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi con tròn 18 tuổi hoặc có các điều
kiện khác thay đổi việc nuôi con.
Về việc cấp dưỡng: Anh H tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi
con chung Minh K; chị T không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con Bảo V và Bảo
A1 nhưng anh H tự nguyện cấp dưỡng cho hai con số tiền 3.000.000đ/tháng nên
cần ghi nhận sự tự nguyện của anh H.
[3] Về án phí phúc thẩm: Anh H kháng cáo được chấp nên không phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Hoàng Phi H. Sửa Bản án hôn
nhân và gia đình sơ thẩm số 93/2026/HNGĐ-ST ngày 03 tháng 8 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hải Phòng về quan hệ con chung như sau:
Giao con chung Nguyễn Hoàng Minh K, sinh ngày 05/10/2023 cho anh
Nguyễn Hoàng Phi H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh H về
việc không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Giao các con chung Nguyễn Bảo V và Nguyễn Bảo N, cùng sinh ngày
04/3/2025 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi mỗi con chung
đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận sự tự
nguyện của anh H về việc cấp dưỡng nuôi hai con chung Nguyễn Bảo N và
Nguyễn Bảo V cho chị T với mức 3.000.000 đồng/tháng, bắt đầu từ tháng 9/2026
đến khi mỗi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Anh Nguyễn Hoàng Phi H và chị Nguyễn Thị T có quyền thăm nom, chăm
sóc con chung sau khi ly hôn, không ai được cản trở.
2. Hoàn trả anh Nguyễn Hoàng Phi H số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng
án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001446 ngày 17
tháng 8 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Hải Phòng;
- TAND khu vực 3 - Hải Phòng;
- Phòng THADS KV3- Hải Phòng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hữu Hiệu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT Bản án số 59/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất