Bản án số 323/2026/HS-PT ngày 03/11/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 323/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 323/2026/HS-PT ngày 03/11/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 323/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/11/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đào Quang K, Lương Xuân Q - Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 323/2026/HS-PT Bản án số 323/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 323/2026/HS-PT Bản án số 323/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 323/2026/HS-PT
Ngày 03-11-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Giang và bà Vũ Thị Bích Diệp.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Toà án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 289/2026/TLPT-HS,
ngày 05 tháng 10 năm 2026 đối với bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q do có
kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2026/HS-ST,
ngày 28/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
1. Bị cáo có kháng cáo:
1.1. Đào Quang K, sinh ngày 10/7 /1986 tại Hải Phòng; số căn cước công
dân: ************; nơi cư trú: Thôn G, xã N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp:
Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không;
quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Quang T (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ
là Mai Thị H3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày
06/02/2026; tạm giam ngày 10/02/2026 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành
phố H; có mặt.
1.2. Lương Xuân Q, sinh ngày 29/10/1979 tại Hải Phòng; số căn cước công
dân: ************; nơi cư trú: Số A C, tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải
Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xuân T1 (đã chết)
và bà Phạm Thị T2; có vợ là Nguyễn Thị T3 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;
bị bắt tạm giữ ngày 07/02/2026; tạm giam ngày 10/02/2026 tại Trại tạm giam số
2 - Công an thành phố H; có mặt.
2. Bị cáo không kháng cáo:
2
2.1. Vũ Hữu Q1, sinh ngày 11/6/1974 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn B G, đặc
khu C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do.
2.2. Trương Tiến H, sinh ngày 24/5/1971 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số
B H, phường L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Số A Chợ H, phường L,
thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không.
2.3. Đỗ Công B1, sinh ngày 03/01/1985 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn D, xã N,
thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không.
2.4. Nguyễn Văn D, sinh ngày 19/02/1979 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn E, đặc
khu C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 04/02/2026, tại đường T, thuộc phường K,
thành phố Hải Phòng, Tổ công tác Phòng C Công an thành phố H kiểm tra xe ô tô
BKS 15H-106.83 do Hoàng Đức H1 điều khiển, trên xe có Phạm Thị Trúc Q2,
sinh năm 1969, ở số A Trại C, Hồ N, Hải Phòng và Lê Minh T4, sinh năm 1971,
hiện ở số A L, L, Hải Phòng, phát hiện, thu giữ trong túi xách của Q2: 01 khẩu
súng nhãn hiệu EKOL Majör, số hiệu Emi3-1/120172; 01 ống giảm thanh; 20 viên
đạn cỡ 9 mm (gồm 07 viên được ký hiệu A3 và 13 viên ký hiệu A4) cùng 01 hộp
đựng súng có tài liệu hướng dẫn sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 554 ngày 05/02/2026 của Phòng C Công an thành
phố H kết luận: 07 viên đạn của mẫu A3 là đạn tự chế cỡ 9 mm, thuộc vũ khí quân
dụng; khẩu súng EKOL Majör, ống giảm thanh và 13 viên đạn còn lại thuộc danh
mục công cụ hỗ trợ.
Quá trình điều tra xác định toàn bộ số súng, đạn nêu trên do Phạm Thị Trúc
Q2 mua của Hoàng S, sinh năm 1966, trú tại số B P, K, Hải Phòng vào ngày
04/02/2026 với giá 33.000.000 đồng. Ngoài ra, Q2 và S còn nhiều lần mua bán vũ
khí quân dụng với các đối tượng Đào Quang K, Đỗ Công B1, Lương Xuân Q,
Nguyễn Văn D, Vũ Hữu Q1 và Trương Tiến H, cụ thể:
1. Hành vi của bị cáo Đào Quang K và Đỗ Công B1: Khoảng năm 2016,
Đào Quang K mua qua mạng xã hội 01 khẩu súng hơi với giá 7.300.000 đồng để
bắn chim. Đến đầu năm 2025, K nhặt được 01 ống giảm thanh và lắp vào khẩu
súng đang sử dụng.
Khoảng tháng 3/2025 và tháng 9/2025, qua giới thiệu của một người tên
H2, K đã hai lần mua của Phạm Thị Trúc Q2, mỗi lần 0,5 kg đạn chì với giá
300.000 đồng. Lê Minh T4 là người trực tiếp giao đạn cho K. Sau khi mua được
đạn, K nhiều lần sử dụng súng đi bắn chim tại khu vực bờ đê sông V thuộc xã N,
thành phố Hải Phòng, trong đó có một lần sử dụng cùng Đỗ Công B1. Đến lần
mua đạn thứ hai, do bình hơi của súng bị hỏng nên K vứt bỏ số đạn, tháo rời khẩu
súng và giao cho B1 cất giấu tại nhà của B1. Sau đó, B1 vứt khẩu súng xuống ao
nhà B1 để tránh bị phát hiện. Ngày 06/02/2026, Đào Quang K đến Cơ quan điều
3
tra đầu thú và khai nơi cất giấu khẩu súng. Đỗ Công B1 được triệu tập đến Cơ
quan điều tra làm việc và giao nộp 01 khẩu súng hơi cùng các bộ phận liên quan.
Theo Kết luận giám định số 578 ngày 06/02/2026, số 1050 ngày 16/3/2026
và Công văn số 141 ngày 10/02/2026 của Phòng C Công an thành phố H kết luận:
Các bộ phận thân súng, bộ phận cò là linh kiện cơ bản của súng nén hơi, nén khí,
là vũ khí quân dụng; bình nén hơi không phải là vũ khí quân dụng.
2. Hành vi của bị cáo Lương Xuân Q: Sau khi ông Nguyễn Ngọc T5 (là bố
vợ của Q) chết năm 2009, Lương Xuân Q cất giấu và sử dụng 01 khẩu súng bắn
đạn ghém cùng các vỏ đạn của ông T5 để bắn chim. Khoảng tháng 3/2023, Q mua
đạn chì, thuốc súng của Q2 với số tiền 900.000 đồng. Sau đó, Q tìm hiểu trên
mạng Internet cách nhồi thuốc súng, đạn chì vào vỏ đạn để chế tạo thành đạn
ghém và sử dụng khẩu súng để bắn thử tại cánh đồng gần nhà. Khoảng tháng
4/2025, Q tiếp tục mua của Q2 0,5 kg đạn chì và 0,1 kg thuốc súng với giá 250.000
đồng, sau đó chế tạo được 06 viên đạn ghém và tiếp tục sử dụng khẩu súng bắn
chim. Số thuốc súng và đạn chì còn lại bị ẩm nên Q đã vứt xuống ao gần nhà. Đến
ngày 07/02/2026, Q đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp 01 khẩu súng bắn
đạn ghém và 07 vỏ đạn, đạn ghém tự chế.
Theo Kết luận giám định số 581 ngày 08/02/2026 của Phòng C Công an
thành phố H: Khẩu súng giao nộp là súng bắn đạn ghém không tự động, thuộc
danh mục vũ khí quân dụng. Các vỏ đạn, đạn ghém tự chế không thuộc danh mục
vũ khí, công cụ hỗ trợ.
3. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D và Vũ Hữu Q1: Khoảng tháng 7/2025,
Vũ Hữu Q1 nhặt được 01 khẩu súng hơi màu đen mang về cất giấu tại khu vực
Áng Nứa thuộc thôn B G, đặc khu C, thành phố Hải Phòng. Do cần đạn để bắn
chim, Q1 nhờ Nguyễn Văn D mua hộ. Qua giới thiệu của một người tên T6,
khoảng tháng 9/2025, D liên hệ mua của Phạm Thị Trúc Q2 02 hộp đạn chì hình
nấm với giá 1.400.000 đồng. Lê Minh T4 là người trực tiếp giao đạn; D thanh
toán bằng chuyển khoản ngân hàng rồi mang toàn bộ số đạn giao lại cho Q1. Quấn
đã sử dụng một phần số đạn để bắn chim, còn lại 40 viên. Ngày 07/02/2026, Vũ
Hữu Q1 và Nguyễn Văn D đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp: 01 khẩu
súng hơi và 40 viên đạn chì.
Theo Kết luận giám định số 582 ngày 08/02/2026 của Phòng C Công an
thành phố H: 40 viên đạn chì hình nấm cỡ 5,5 mm và khẩu súng nén hơi đều thuộc
danh mục vũ khí quân dụng.
4. Hành vi của bị cáo Trương Tiến H: Cuối tháng 01/2026, Trương Tiến H
biết Hoàng S có 01 khẩu súng ngắn cần bán nên cả hai thỏa thuận mua bán khẩu
súng trên cùng 05 viên đạn với giá 45.000.000 đồng, giao dịch tại nhà của H ở số
A Chợ Hàng, L, Hải Phòng. Sau đó, H nhờ em trai là Trương Tuấn A chuyển
khoản số tiền trên từ tài khoản V số 0009988887459 của Tuấn A đến tài khoản M
số 6662683689999 của Mai Thị Thanh H3 (vợ của Hoàng S). Tuấn A và H3 đều
không biết số tiền này là tiền mua bán súng, đạn. Sau khi nhận súng và đạn, H
đem cất giấu trong tủ đồ cá nhân tại phòng ngủ. Ngày 06/02/2026, Trương Tiến
H đầu thú và giao nộp vật chứng.
4
Kết luận giám định số 575 ngày 06/02/2026 của Phòng C Công an thành
phố H: Khẩu súng là súng tự chế cỡ nòng 6,35 mm, thuộc vũ khí quân dụng; 05
viên đạn cỡ 6,35 x 15,5 mm thuộc vũ khí quân dụng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2026/HS-ST ngày 28/8/2026 của Toà
án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm
s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58
Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Đào Quang K phạm tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán
trái phép vũ khí quân dụng”. Xử phạt bị cáo Đào Quang K 15 (mười lăm) tháng
tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/02/2026.
Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản
1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lương Xuân Q. Tuyên bố bị
cáo Lương Xuân Q phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”. Xử
phạt bị cáo Lương Xuân Q 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày 07/02/2026.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về tội danh, mức hình phạt đối với các bị cáo
khác, về án phí, xử lý vật chứng, quyền kháng cáo của các bị cáo.
Ngày 02/9/2026 bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q giữ nguyên
nội dung kháng, đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt. Gia đình các bị
cáo nộp các giấy xác nhận về việc tham gia các phong trào thiện nguyện, có người
thân được tặng thưởng huân, huy chương, biên lai thu tiền án phí sơ thẩm (bản
sao không có công chứng).
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm: Đề
nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa Bản án hình sự
sơ thẩm số 206/2026/HS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu
vực 5 - Hải Phòng về phần hình phạt. Đề nghị xử phạt bị cáo Đào Quang K 12
tháng tù, bị cáo Lương Xuân Q 12 tháng tù. Về án phí: Các bị cáo không phải
chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các bị cáo kháng cáo trong thời hạn quy định của Bộ luật
Tố tụng hình sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan
điều tra, phiên tòa sơ thẩm và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án,
nên đủ cơ sở kết luận: Năm 2016 bị cáo Đào Quang K có hành vi mua bán qua
mạng xã hội 01 khẩu súng hơi về cất giấu và bị cáo 02 lần mua đạn về để sử dụng
để đi bắn chim. Khẩu súng hơi là vũ khí thuộc danh mục vũ khí quân dụng. Bị cáo
K là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của
mình là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của bị cáo đủ yếu
5
tố cấu thành tội “Tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng”. Từ năm
2009 đến tháng 02/2026, bị cáo Lương Xuân Q có hành vi cất giấu, sử dụng 01
khẩu súng bắn đạn ghém thuộc danh mục vũ khí quân dụng tại nhà ở phường H,
thành phố Hải Phòng để bắn chim. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm
hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực
hiện, nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép
vũ khí quân dụng”. Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội danh và khung
hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Về
tội danh, các bị cáo không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên HĐXX
không xem xét.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, HĐXX xét thấy: Mỗi bị cáo thực hiện hành
vi độc lập, do vậy giữa các bị cáo Q và K không đồng phạm. Tại cơ quan điều tra
và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội, các
bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra
đầu thú; bị cáo Lương Xuân Q từng tham gia quân ngũ và gia đình có tham gia
cách mạng được bảng vàng danh dự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
Hình sự. Các bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q nhiều lần có hành vi sử dụng
súng thuộc danh mục vũ khí quân dụng nên các bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều
52 Bộ luật Hình sự. Về nhân thân, các bị cáo đều là người có nhân thân tốt, chưa
có tiền án, tiền sự. Như vậy, cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành
vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.
Tại cấp phúc thẩm, gia đình bị cáo K, Q cung cấp bản sao các huân, huy chương
của người thân các bị cáo, các bị cáo tích cực tham gia các phong trào thiện nguyện
tại địa phương, tự nguyện nộp tiền án phí trước quyết định thi hành án thể hiện ý
thức chấp hành tốt pháp luật, nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định
tại khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với cả hai bị cáo. Từ phân tích trên, HĐXX
căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng
hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm
206/2026/HS-ST ngày 28/8/2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng về
phần hình phạt đối với bị cáo K, Q.
[4] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu
án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố
tụng hình sự; Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
6
Xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q. Sửa
Bản án hình sự sơ thẩm số 206/2026/HS-ST ngày 28/8/2026 của Toà án nhân dân
khu vực 5 - Hải Phòng đối với các bị cáo về phần hình phạt.
1. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 304, Điều 38; điểm s khoản 1, khoản
2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đào Quang
K, Lương Xuân Q.
Xử phạt bị cáo Đào Quang K 12 (Mười hai) tháng tù, về tội Tàng trữ, sử
dụng, mua bán trái phép vũ khí quân dụng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính
từ ngày tạm giữ 06/02/2026.
Xử phạt bị cáo Lương Xuân Q 12 (Mười hai) tháng tù, về tội Tàng trữ, sử
dụng trái phép vũ khí quân dụng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
07/02/2026.
2. Về án phí: Các bị cáo Đào Quang K, Lương Xuân Q không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- Thi hành án dân sự TP Hải Phòng;
- PV 06, Công an TP Hải Phòng;
- Trại tạm giam số 2, Công an TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 - Hải Phòng;
- VKSND khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA TAND
TP Hải Phòng;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ sơ, HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Tân
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 323/2026/HS-PT Bản án số 323/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 323/2026/HS-PT Bản án số 323/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất