Bản án số 153/2026/HS-PT ngày 29/10/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 153/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 153/2026/HS-PT ngày 29/10/2026 của TAND tỉnh Gia Lai về phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tội danh: 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 153/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Phạm Nhật Hưng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 153/2026/HS-PT Bản án số 153/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 153/2026/HS-PT Bản án số 153/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 153/2026/HS-PT
Ngày 29 - 10 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên
Bà Cao Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ
Thị Hòa – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 228/2026/TLPT-HS ngày 07 tháng 10 năm
2026 đối với bị cáo Phạm Nhật H do có kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp
pháp của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 99/2026/HS-ST ngày 03 tháng 9
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
Phạm Nhật H, sinh ngày 06/11/1992 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai);
số căn cước công dân: XXXXXX; nơi cư trú: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thanh T, sinh năm: 1963 và bà
Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1965; vợ: Bùi Thị Thu H, sinh năm 1992; con: Có 02
con sinh năm 2018 và sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo:
Bị hại: Bà Thái Thị Hồng T, sinh năm: 1983; cư trú tại: Thôn C, xã D, tỉnh Gia
Lai (chết)
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Phạm Thị T, sinh năm: 1953; cư trú tại: Thôn C, xã D, tỉnh Gia Lai.
2. Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1979;
3. Chị Nguyễn Thị Thái T, sinh năm: 2004;
2
4. Chị Nguyễn Thái M, sinh năm: 2007;
5. Cháu Nguyễn Thái Quỳnh A, sinh năm: 2017;
Ông Toàn, chị Tuyền, chị Mỹ và cháu A đồng cư trú tại: Thôn T, xã D, tỉnh
Gia Lai.
Người đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của bị hại:
Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm: 1979; cư trú tại: Thôn T, xã D, tỉnh Gia Lai là người
đại diện theo ủy quyền của bà T, chị T và chị M (theo văn bản ủy quyền ngày
07/4/2026) (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 13/02/2026, Phạm Nhật H (có giấy phép lái xe hạng B2 theo
quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 77A-051.XX lưu thông theo hướng Đông
- Tây trên làn đường sát dải phân cách cố định ở giữa đường ở phần đường phía Bắc
đường nối Tỉnh lộ 633 - Tỉnh lộ 639 để về nhà. Đến khoảng 18 giờ 16 phút cùng ngày,
H điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường gần khu vực ngã tư giao nhau giữa đường nối
Tỉnh lộ 633 - Tỉnh lộ 639 với đường bê tông liên thôn Ngãi An (nay là thôn Cát
Khánh), xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai với vận tốc khoảng 55km/h đến 60km/h.
Đường nối Tỉnh lộ 633 - Tỉnh lộ 639 được trải nhựa tương đối bằng phẳng, là
đường đôi có dải phân cách cố định giữa để phân chia thành 02 phần đường xe chạy
ngược chiều riêng biệt, phần đường phía Bắc dành cho các phương tiện lưu thông hướng
Đông - Tây rộng 8,8m, tại dải phân cách cố định có kẻ vạch sơn giới hạn làn xe rộng
0,4m, trên phần đường có kẻ vạch sơn nét đứt màu trắng chia thành 02 làn xe tính từ
Bắc sang Nam rộng lần lượt là 4,77m và 3,63m; đoạn mở giữa 02 đầu dải phân cách cố
định rộng 70,3m; cách đầu điểm mở bên hướng Đông 46,8m và 19,2m lần lượt có biển
báo giao nhau với đường không ưu tiên và biển báo người đi bộ qua đường; trên mặt
đường có kẻ vạch sơn gờ giảm tốc, tại hai đầu điểm mở có kẻ vạch sơn dành cho người
đi bộ qua đường. Đường bê tông liên thôn được trải nhựa tương đối bằng phẳng lòng
đường rộng 6,1m, trục đường theo hướng Bắc – Nam, giữa tim đường có kẻ vạch sơn
nét đứt để chia thành 02 phần đường xe chạy ngược chiều, trước khi vào ngã tư có biển
báo nguy hiểm giao nhau với đường ưu tiên và vạch sơn gờ giảm tốc.
Mặc dù trên đường có vạch sơn gờ giảm tốc độ, biển báo hiệu nguy hiểm “Giao
nhau đường không ưu tiên” và biển báo người đi bộ qua đường nH do quan sát thấy
phía trước khu vực ngã tư không có phương tiện tham gia giao thông nên H chủ quan
không giảm tốc độ xe ô tô. Cùng lúc này, bà Thái Thị Hồng T (không có giấy phép lái
xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79L4-83XX (xe do bà T mua lại
nH chưa làm thủ tục sang tên) lưu thông trên đường bê tông liên thôn theo hướng Bắc
- Nam. Khi xe ô tô 77A-051.XX bắt đầu chuẩn bị vào khu vực ngã tư giao nhau theo
hướng Đông - Tây (vị trí vạch sơn màu trắng dành cho người đi bộ qua đường) thì H
nhìn thấy xe mô tô 79L4-83XX do bà T điều khiển đang lưu thông trên đường bê tông
3
liên thôn theo hướng Bắc - Nam đi vào giao lộ ngã tư; H quan sát thấy bà T nhưng chủ
quan nghĩ bà T sẽ nhường đường nên không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn mà chỉ ấn
còi cảnh báo rồi điều khiển xe ô tô đi thẳng về phía trước. Bà T không nhường đường
mà tiếp tục đi thẳng vào giao lộ ngã tư đến phía trước đầu xe ô tô của H, lúc này H mới
xử lý dậm phanh nH do khoảng cách gần nên không tránh kịp, đã để phần giữa đầu nắp
ca pô xe ô tô 77A-051.61 va chạm với phần đầu tay lái và thân xe bên trái xe mô tô
79L4-8344 của bà T. Hậu quả, bà T bị thương và chết trên đường đưa đi cấp cứu; 02
phương tiện bị hư hỏng.
Tại Kết luận giám định tử thi số 19A/KLGĐTT-PYGL ngày 05/03/2026, Trung
tâm pháp y tỉnh Gia Lai kết luận: Nguyên nhân chết của bà Thái Thị Hồng T là do
suy hô hấp, suy tuần hoàn cấp do chấn thương gây gãy cột sống cổ chèn ép tủy + đa
chấn thương.
Kết quả xét nghiệm vào lúc 01 giờ 37 phút ngày 14/02/2026 tại Trung tâm y tế
Phù Cát đối với Phạm Nhật H: Nồng độ cồn trong máu là 0.0 mg/dL, âm tính với ma
túy; nạn nhân Thái Thị Hồng T không xét nghiệm được lý do: Máu đóng cục không ly
tâm được.
Vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu thập dữ liệu camera ghi lại diễn biến
vụ tai nạn từ nhà anh Lê Đình Bảo (nơi hiện trường xảy ra vụ tai nạn) vào trong 01
thẻ nhớ. Tại Kết luận giám định số 515/KL-KTHS ngày 06/04/2026, Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa
nội dung hình ảnh trong 01 file video gửi giám định, đã được đóng gói, niêm phong
chuyển cùng hồ sơ vụ án.
Cơ quan điều tra đã tạm giữ và xử lý trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp
pháp: 01 xe mô tô 79L4-83xx và 01 xe ô tô 77A-051.xx, nhãn hiệu: FORD, số loại:
EVEREST, màu sơn: Ghi Vàng Đen; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 008763
của phương tiện biển số 77A-051.xx; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật
và bảo vệ môi trường xe cơ giới số VA 1934191 của phương tiện biển số 77A-051.xx.
Phạm Nhật H đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại tổng số tiền
200.000.000 đồng và đại diện gia đình bị hại không có yêu cầu gì khác, có đơn bãi
nại và đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2026/HS-ST ngày 03/9/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Gia Lai đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, các điểm b, s khoản 1
và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo H 12 tháng tù về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm
còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11/9/2026, bị cáo Phạm Nhật H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin
được hưởng hưởng án treo; người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Xuân
Tkháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo H giữ nguyên kháng cáo nêu trên.
Theo đơn xét xử vắng mặt đề ngày 25/10/2026, ông T giữ nguyên kháng cáo
xin cho bị cáo được hưởng án treo.
4
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự do tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo nộp một số tài liệu mới; căn cứ điểm b
khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không
chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và chấp nhận kháng cáo xin được hưởng
án treo của bị cáo H, chấp nhận kháng cáo xin cho bị cáo H được hưởng án treo của
ông T, sửa bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo H, xử phạt bị
cáo H 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy
định; về án phí hình sự phúc thẩm thì bị cáo H và ông T không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 26/10/2026, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai nhận được đơn xin xét xử vắng
mặt của người kháng cáo ông Nguyễn Xuân T.
Xét thấy, ông T đã có bản khai cụ thể, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án và đơn
xin xét xử vắng mặt của ông cũng đã thể hiện đầy đủ yêu cầu kháng cáo của ông nên
việc vắng mặt của ông T không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, giải quyết vụ án.
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì Hội đồng xét xử
vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Ttheo quy định.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Vào khoảng 18 giờ ngày 13/02/2026 tại ngã tư giao nhau giữa đường nối Tỉnh
lộ 633 - 639 với đường bê tông liên thôn thuộc Km 1+600, thôn Ngãi An (nay là thôn
Cát Khánh), xã Đề Gi, tỉnh Gia Lai đã xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ giữa
xe ô tô biển kiểm soát 77A-051.xx do Phạm Nhật H (có giấy phép lái xe hạng B2 theo
quy định) điều khiển với xe mô tô biển kiểm soát 79L4-83xx do bà Thái Thị Hồng T
(không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển làm bà T bị thương và chết trên
đường đưa đi cấp cứu.
Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do H điều khiển xe thiếu chú ý quan sát, không
giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong trường hợp có báo hiệu cảnh
báo nguy hiểm (vạch sơn giảm tốc và biển báo hiệu nguy hiểm) và nơi đường bộ
giao nhau.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Phạm Nhật H về
tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung
“Làm chết người” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ,
gây thiệt hại về tính mạng cho người khác nên cần phải xử lý nghiêm nhằm phòng
ngừa, giảm thiểu tai nạn giao thông.
5
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng hưởng án treo của
bị cáo H, kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo của người đại diện hợp pháp
của bị hại ông Nguyễn Xuân T; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại và đại diện
hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm
nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại
các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới là đơn xin xác
nhận hoàn cảnh gia đình có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Phù Mỹ, tỉnh Gia Lai,
theo đơn thể hiện bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo có thu nhập
không ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình, 02 con của bị cáo còn đang
trong độ tuổi đi học, ông nội bị cáo là Liệt sĩ Phạm Thế Vinh và gia đình bị cáo đang
thờ cúng Liệt sĩ. Sau khi xét xử sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của bị hại ông T
có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo và tại cấp phúc thẩm, ông T
còn cung cấp thêm giấy xác nhận thể hiện là sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã bồi
thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 30.000.000 đồng.
Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và
các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H 12 tháng tù,
mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp, có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo
nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại các khoản 1,
2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và tại cấp phúc thẩm phát sinh thêm nhiều tình tiết
giảm nhẹ mới. Trong vụ án này, bị hại bà T cũng có một phần lỗi là không có giấy
phép lái xe theo quy định, thiếu chú ý quan sát, điều khiển xe lưu thông không đúng
quy định. Sau khi xét xử sơ thẩm, gia đình bị hại tiếp tục có đơn kháng cáo xin cho
bị cáo được hưởng án treo và tại cấp phúc thẩm, bị cáo tiếp tục bồi thường thêm cho
gia đình bị hại cho thấy ý thức, thái độ của bị cáo rất ăn năn hối cải, hối hận về hành
vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo phạm tội do lỗi vô ý, phạm tội lần đầu và có
nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo
hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt và chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo H, chấp
nhận kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo của người đại diện hợp pháp của
bị hại ông T, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt, cho bị cáo H được hưởng án
treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe
bị cáo và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[5] Bà Thái Thị Hồng T có mẹ ruột là bà Phạm Thị T, chồng là Nguyễn Xuân
T và các con là Nguyễn Thị Thái T, Nguyễn Thái M, Nguyễn Thái Quỳnh A. Căn
cứ điểm a khoản 1 Điều 651 của Bộ luật Dân sự thì hàng thừa kế thứ nhất của bà T
là bà T, ông T, chị T, chị M và cháu A.
6
Tại bản án sơ thẩm, khi liệt kê người đại diện hợp pháp của bà T, Tòa án cấp
sơ thẩm chỉ nêu tên một mình ông T, thiếu tên của bà T, chị T, chị M và cháu A là
thiếu sót, sẽ ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của họ (nếu có). Tuy nhiên, theo văn
bản ủy quyền ngày 07/4/2026, ông T là người đại diện theo ủy quyền của bà T, chị
T và chị M; sau khi xét xử sơ thẩm, ông T có kháng cáo về phần hình phạt đối với
bị cáo và đồng thời trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có ai có ý
kiến khiếu nại gì, cá nhân bị cáo cũng đã bồi thường xong cho gia đình bị hại, phía
bị hại cũng đã có đơn bãi nại, không yêu cầu bồi thường gì thêm và xin giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo.
Do đó, mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm có sai sót nhưng việc bỏ sót người tham gia
tố tụng trên không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án cấp sơ
thẩm cần phải rút kinh nghiệm cho những lần xét xử tiếp theo.
[6] Bị cáo H và ông T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 2 Điều 23
của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và chấp nhận kháng cáo
xin được hưởng án treo của bị cáo Phạm Nhật H.
Chấp nhận kháng cáo xin cho bị cáo Phạm Nhật H được hưởng án treo của
người đại diện hợp pháp của bị hại ông Nguyễn Xuân T.
Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 99/2026/HS-ST ngày 03/9/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Gia Lai về phần hình phạt đối với bị cáo Phạm Nhật H.
3. Tuyên bố bị cáo Phạm Nhật H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao
thông đường bộ”.
4. Xử phạt bị cáo Phạm Nhật H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm
(ngày 29/10/2026).
Giao bị cáo Phạm Nhật H cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai và Công an
xã Phù Mỹ, tỉnh Gia Lai quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người
7
được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định
buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng
án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp
hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy
định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Phạm Nhật H và ông Nguyễn Xuân T
không phải chịu.
6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 3 – Gia Lai;
- VKSND khu vực 3, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 3, tỉnh Gia Lai;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu: Tòa Hình sự; Phòng GĐ, KT, TT và THA;
HCTP; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Tiến Sỹ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 153/2026/HS-PT Bản án số 153/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 153/2026/HS-PT Bản án số 153/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất