Bản án số 311/2026/HS-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 311/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 311/2026/HS-PT ngày 27/10/2026 của TAND TP. Hải Phòng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 311/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Xuân C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2026/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 311/2026/HS-PT Bản án số 311/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 311/2026/HS-PT Bản án số 311/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 311/2026/HS-PT
Ngày 27-10-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Giang
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Minh Tân
Bà Trần Minh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Hồng Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân
thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Trương Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường Tòa án nhân
dân thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 - Công an
thành phố Đ, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử trực tuyến phúc thẩm
công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 274/2026/TLPT-HS ngày 01 tháng 10
năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 273/2026/QĐXXPT-HS ngày 13
tháng 10 năm 2026 đối với bị cáo Đồng Xuân C, do có kháng cáo của bị cáo đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số: 196/2026/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đồng Xuân C, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1971 tại Hải Phòng; Số CCCD:
************; nơi cư trú: Số A đường Đ, phường N, thành phố Hải Phòng; nghề
nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Xuân Ư (đã chết) và bà Trần
Thị S; có vợ là Đào Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản
án số 26/2025/HS-PT ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
xử phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 27/3/2025, bị Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành
vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình
2
sự, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo Lệnh tạm giam của Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ; có mặt;
- Bị hại:
+ Bà Vũ Thị M, sinh năm 1963; Số CCCD: ************; nơi cư trú: Tổ dân
phố Đ, phường P, thành phố Hải Phòng; có mặt;
+ Anh Nguyễn Kim Đ, sinh năm 1981; Số CCCD: ************; nơi cư trú:
Thôn C, xã V, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền chi tiêu nên trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 đến
tháng 4/2023, Đồng Xuân C đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài
sản của người khác thông qua việc hứa hẹn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và có khả năng tác động, can thiệp vào giải quyết vụ án để bị hại trong vụ án đó
được hưởng số tiền nhiều nhất, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Đồng Xuân C có quen biết xã hội với ông Hoàng Văn H1. Quá
trình quen biết để tạo niềm tin với ông H1, C đưa ra thông tin giả hiện C là Công an
đang công tác tại Bộ C2 và có nhiều mối quan hệ có thể lo chạy án, làm giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Trước đó vào năm 2019, em rể của ông H1 là anh Nguyễn
Cao T có mua thửa đất của bà Vũ Thị M (chồng bà M đã chết năm 2015). Do thửa
đất của bà M chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa tách được
sổ cho anh T. Bà M có nhờ anh T tìm người để làm bìa đỏ cho bà M để tách thửa
nên anh T có giới thiệu bà M với anh H1, sau đó anh H1 giới thiệu bà M cho C.
Khoảng tháng 5/2021, bà M và con trai là anh Ngô H2 có liên hệ với C để làm
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích 1.398m
2
của bà M.
C đồng ý và thông báo chi phí làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
500.000.000 đồng, làm xong thủ tục trong thời gian 06 tháng. C yêu cầu bà M phải
chuyển trước số tiền 250.000.000 đồng để làm hồ sơ, đến khi nhận được giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì bà M mới phải đưa nốt số tiền còn lại cho C. Bà M đồng
ý. Đến khoảng tháng 8/2021, bà M có liên lạc với C để đưa số tiền 250.000.000 đồng
cho C nhưng C nói bận công việc nên bảo bà M đưa cho anh H1 để anh H1 đưa lại
cho C. Ngày 16/8/2021, bà M cùng em chồng là anh Ngô Văn Q và anh T mang số
tiền 250.000.000 đồng cùng các loại giấy tờ C yêu cầu để làm giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đến nhà giao cho anh H1. Ngày 17/8/2021, anh H1 cầm số tiền
250.000.000 đồng cùng các loại giấy tờ do bà M giao đưa lại cho C. Sau đó C có
liên hệ với anh Đào Trọng H3 là cán bộ Thanh tra của quận K, thành phố Hải Phòng
3
(thời điểm trước đó là chuyên viên Phòng Tài nguyên môi trường quận K) nhờ xuống
nhà bà M để khảo sát đo diện tích đất và kiểm tra hồ sơ quản lý đất của bà M giúp
C. Anh H3 đồng ý và rủ anh Nguyễn Quang L là viên chức Trung tâm phát triển quỹ
đất quận K, thành phố Hải Phòng xuống nhà bà M khảo sát đo diện tích đất và kiểm
tra hồ sơ quản lý đất của bà M. Sau khi kiểm tra xong, anh H3 có thông báo kết quả
lại cho anh H2 và C. Sau 06 tháng bà M chưa nhận được giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nên anh H2 có liên lạc với C thì C đưa ra nhiều lý do để trì hoãn, kéo dài
thời gian nhằm chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng của bà M. Đến đầu năm 2025,
khi vẫn không nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ C, anh H2 đã nhiều
lần liên hệ yêu cầu C hoàn trả lại số tiền 250.000.000 đồng nhưng C không trả, không
liên hệ làm thủ tục, hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã hứa và cắt
liên lạc với bà M. Số tiền trên C đã chi tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng tháng 8/2022, anh Trần Đình C1 và em rể là anh Nguyễn
Văn H4 có gặp và ăn cơm cùng C ở tổ dân phố Đ, phường P, thành phố Hải Phòng.
Quá trình ăn cơm anh H4 có nói chuyện với C về việc em trai anh H4 là anh Nguyễn
Kim Đ bị Nguyễn Văn H5, sinh năm 1992, trú tại: xã V, thành phố Hải Phòng đánh
gây thương tích, vụ án đang được Công an huyện V, thành phố Hải Phòng (cũ) thụ
lý điều tra. Sau khi nghe xong, C có đưa ra thông tin giả C hiện là Công an công tác
tại Hà Nội, có nhiều quan hệ có thể can thiệp vụ án của anh Đ để anh Đ là bị hại sẽ
được bồi thường số tiền nhiều nhất. Tin lời C nói, anh H4 có trao đổi lại nội dung
trên cho anh Đ biết, anh Đ đồng ý. Sau đó, anh Đ nhờ anh H4 liên lạc với C giúp,
anh H4 đồng ý.
Ngày 20/8/2022, anh H4 có liên lạc nhờ C can thiệp giúp công việc của anh
Đ, C đồng ý và yêu cầu anh H4 chuyển trước số tiền 20.000.000 đồng để C đi quan
hệ tác động can thiệp vào vụ án của anh Đ. Anh H4 báo cho anh Đ là C bảo cần số
tiền 20.000.000 đồng để lo Công an. Anh Đ đồng ý và bảo anh H4 vay tiền của anh
Vũ Hoàng M1 và nhờ anh M1 chuyển tiền hộ. Anh M1 đồng ý và chuyển số tiền
20.000.000 đồng từ tài khoản 19035714361014 tại Ngân hàng N (T2) mang tên Vu
Hoang M2 đến số tài khoản 22010000721100 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần
Đ1 (B1) của C. Khi nhận được tiền Chiến đang ở thành phố Hồ Chí Minh, C không
nhờ ai tác động can thiệp vào vụ án liên quan đến anh Đ mà đã chuyển 20.000.000
đồng trên đến số tài khoản 11318007 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (A) của
anh Phạm Ngọc H6, sinh năm 1987, nơi ở hiện tại: Số G Đ, phường B, thành phố
Hồ Chí Minh để đổi lấy tiền mặt và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Tiếp đến khoảng đầu tháng 9/2022, C và anh C1 có đến Bệnh viện Đ2 thăm
anh Đ. Tại đây, C giới thiệu với anh Đ hiện C là Công an thành phố H có nhiều mối
quan hệ với anh em làm Công an thành phố Hải Phòng có thể can thiệp giúp anh Đ.
Sau đó vài ngày, C liên lạc với anh H4 và yêu cầu chuyển tiếp số tiền 20.000.000
4
đồng để C lo chi phí giải quyết vụ án. Anh H4 báo cho anh Đ là C bảo cần số tiền
20.000.000 đồng để lo Công an. Anh Đ đồng ý và bảo anh H4 tiếp tục vay tiền của
anh Vũ Hoàng M1 và nhờ anh M1 chuyển tiền hộ. Ngày 08/9/2022, anh M1 chuyển
khoản số tiền 20.000.000 đồng cho C như lần trước đó. Sau khi nhận tiền, C chuyển
số tiền 20.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng B1 của mình đến số tài khoản
0531002514716 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 (V) của chị Đồng Thị M3,
sinh năm 1991, trú tại: Số B đường B, khu phố A, phường P, thành phố Hồ Chí Minh
để trả tiền mua vé máy bay.
Đến khoảng đầu năm 2023, C gọi anh Đ đến quán ăn Đ3 thuộc phường K,
thành phố Hải Phòng. Tại đây C tiếp tục yêu cầu anh Đ đưa cho C số tiền 10.000.000
đồng để lo giải quyết vụ án và bảo anh Đ cứ lên làm việc với Công an huyện V, C
đã nhờ người gọi điện can thiệp rồi. Anh Đ đồng ý và đưa cho C thêm số tiền
10.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền này C đã sử dụng để chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 13/4/2023, C liên lạc với anh Đ và yêu cầu anh Đ đưa thêm số tiền
30.000.000 đồng để anh C đi lo việc. Anh Đ đồng ý. Sau đó anh Đ hỏi vay anh Bùi
Đức H7 và nhờ anh H7 chuyển số tiền 22.000.000 đồng từ số tài khoản
555562655555 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (M4) của anh H7 vào tài
khoản Ngân hàng B1 của C, còn số tiền 8.000.000 đồng anh Đ chuyển từ số tài khoản
329329168 tại Ngân hàng M4 của anh Đ vào tài khoản Ngân hàng B1 của C. Toàn
bộ số tiền nhận được trong tài khoản lần này C đã dùng để trả nợ và chi tiêu cá nhân
hết. Sau đó cắt đứt liên lạc với anh Đ. Quá trình điều tra C khai Chiến có liên lạc với
một người tên Thanh T1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) để nhờ tác động can thiệp giúp
anh Đ.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Đối với 04 USB và 01
đĩa DVD ghi nhận nội dung trao đổi các tin nhắn của C để lừa đảo các bị hại được
đánh số thứ tự chuyển theo hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Vũ Thị M yêu cầu bị cáo C trả lại số tiền
250.000.000 đồng, anh Nguyễn Kim Đ yêu cầu bị cáo C trả lại số tiền 80.000.000
đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSKV5 ngày 08 tháng 6 năm 2026 của Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đồng Xuân C về tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2026/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự;
5
Tuyên bố bị cáo Đồng Xuân C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Đồng Xuân C 10 (Mười) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (B) năm
tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 26/2025/HS-PT ngày
28/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành
tổng cộng là 17 (Mười bảy) năm tù. Trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày
02/7/2024 đến ngày 05/7/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp
hành án.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng
cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đồng Xuân C kháng cáo đề nghị xin được giảm
nhẹ hình phạt. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo Đồng Xuân C không cung cấp
thêm được tài liệu, chứng cứ mới làm căn cứ để HĐXX xem xét kháng cáo của mình.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đồng Xuân C đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo do mức án Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với
bị cáo là quá nặng. Bị cáo trình bày do hiện nay bị cáo đang bị giam tại Trại giam
S1 - Công an thành phố Đ nên bị cáo chưa liên lạc với gia đình để bồi thường cho
phía bị hại được nên đề nghị HĐXX xem xét hoãn phiên tòa ngày hôm nay để bị cáo
có thêm thời gian khắc phục bồi thường cho phía bị hại. Ngoài ra, đề nghị HĐXX
xem xét nhập vụ án này với vụ án hiện bị cáo đang bị truy tố tại Viện Kiểm sát nhân
dân thành phố Đồng Nai cũng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” để xét xử một lần
tại Toà án nhân dân thành phố Đồng Nai.
Kiểm sát viên trình bày ý kiến về việc giải quyết kháng cáo như sau:
Bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định, đúng thủ tục nên đơn kháng cáo
của bị cáo Đồng Xuân C là hợp pháp, được chấp nhận. Nội dung kháng cáo của bị
cáo là đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét
thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi phạm tội,
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đã tuyên đối với
bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại giai đoạn xét xử
phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới làm căn cứ để Hội
đồng xét xử xem xét kháng cáo của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận yêu cầu xin nhập vụ án này với vụ án hiện bị cáo đang bị truy tố tại Viện Kiểm
sát nhân dân thành phố Đồng Nai cũng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản để xét xử
một lần tại Toà án nhân dân thành phố Đồng Nai của bị cáo Đồng Xuân C. Đề nghị
Hội đồng xét xử, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình
sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Xuân C, giữ nguyên bản án hình
sự sơ thẩm về hình phạt đối với với bị cáo C.
6
Về án phí: Bị cáo Đồng Xuân C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí
hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Ngoài ra, bị cáo còn phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu đòi bồi thường của bị hại được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Đồng Xuân C đã đúng thủ tục, trong thời hạn
luật định, đúng với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình
sự nên đơn kháng cáo của bị cáo là hợp pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Xét kháng cáo của bị cáo Đồng Xuân C:
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021
đến khoảng tháng 4/2023, Đồng Xuân C đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa
ra thông tin không đúng sự thật để chiếm đoạt của bị hại bà Vũ Thị M số tiền
250.000.000 đồng; chiếm đoạt của bị hại anh Nguyễn Kim Đ số tiền 80.000.000
đồng. Như vậy, hành vi của bị cáo Đồng Xuân C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa
đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo đã thực hiện hành vi chiếm đoạt
của các bị hại tổng số tiền là 330.000.000 đồng. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết
định khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới
500.000.000 đồng” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[4] Về nhân thân: Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa có tiền
án, tiền sự. Ngày 28/02/2025, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử
phạt 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 26/2025/HS-PT
và hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Đ để
điều tra về hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn thành phố Đ nên cần xem
xét, đánh giá khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi chiếm
đoạt tài sản của bị hại bà Vũ Thị M số tiền 250.000.000 đồng, chiếm đoạt tài sản của
bị hại anh Nguyễn Kim Đ lần thứ nhất 20.000.000 đồng, lần thứ hai 20.000.000
đồng, lần thứ ba 10.000.000 đồng và lần thứ tư 30.000.000 đồng. Như vậy, bị cáo
thực hiện hành vi chiếm đoạt nhiều lần, mỗi lần chiếm đoạt đều trên 2.000.000 đồng
nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở
lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại quá trình điều tra và tại
phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố mẹ bị cáo đều là người
7
có công với cách mạng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại
điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về mức hình phạt đối với bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài
sản của cá nhân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần trong thời gian dài. Vì
vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, buộc bị cáo cách ly khỏi đời
sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe,
phòng ngừa tội phạm.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo kháng cáo đề nghị Toà án cấp phúc
thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng không cung cấp thêm được tài
liệu, chứng cứ gì mới để làm căn cứ xét kháng cáo cho mình. Mặt khác, tại phiên toà
phúc thẩm bị cáo đề nghị được nhập vụ án này với cùng vụ án về hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản của bị cáo hiện đang bị truy tố tại Viện Kiểm sát nhân dân thành
phố Đồng Nai nhưng Hội đồng xét xử nhận thấy không có căn cứ nên không chấp
nhận. Xét thấy, mức hình phạt của Tòa án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo C là phù
hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên căn cứ điểm a khoản 1
Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Đồng Xuân C; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2026/HS-ST ngày 21
tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng về hình phạt đối với
bị cáo.
[8] Về tổng hợp hình phạt: Tại Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 28/02/2025,
bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt bị cáo Đồng Xuân C mức
hình phạt là 07 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng bị cáo chưa chấp
hành án. Vì vậy, cần phải tổng hợp hình phạt của bản án trên với hình phạt của bản
án mới theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Vũ Thị M yêu cầu bị cáo trả lại số tiền
250.000.000 đồng, anh Nguyễn Kim Đ yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 80.000.000
đồng, hiện bị cáo chưa bồi thường. Xét yêu cầu của bị hại là chính đáng nên cần căn
cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 579, 580 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo
phải trả lại cho bà Vũ Thị M số tiền 250.000.000 đồng, anh Nguyễn Kim Đ số tiền
80.000.000 đồng.
[10] Về án phí: Bị cáo Đồng Xuân C phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình
sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 330.000.000 đồng x 5% = 16.500.000
đồng.
Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án
phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự;
điểm a, c khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
8
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đồng Xuân C; giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 196/2026/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 - Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo C.
2. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Đồng Xuân C phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Đồng Xuân C 10 (Mười) năm tù. Tổng hợp với hình phạt 07 (B) năm
tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Bản án số 26/2025/HS-PT ngày 28/02/2025
của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, buộc bị cáo phải chấp hành tổng cộng là
17 (Mười bảy) năm tù. Trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 02/7/2024 đến ngày
05/7/2024. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi chấp hành án.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các điều 579, 580 Bộ luật Dân sự:
Buộc bị cáo Đồng Xuân C phải trả lại cho bị hại bà Vũ Thị M số tiền 250.000.000
(Hai trăm năm mươi triệu) đồng, trả lại cho anh Nguyễn Kim Đ số tiền 80.000.000
(Tám mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật
Dân sự.
4. Về án phí:
Bị cáo Đồng Xuân C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (Hai
trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 16.500.000 (Mười sáu triệu
năm trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Đồng Xuân C phải nộp án phí hình sự phúc thẩm số tiền là 200.000
(Hai trăm nghìn) đồng.
9
5. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 196/2026/HS-ST ngày
21 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng không có kháng
cáo, kháng nghị nên có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án
dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại;
- VKSND TP Hải Phòng;
- THADS TP Hải Phòng;
- Trại tạm giam số 1 - CATP Đồng Nai;
- VKSND khu vực 5 - Hải Phòng;
- PV06 Công an TP Hải Phòng;
- Cơ quan THAHS CATP HP;
- Phòng THADS khu vực 5 - Hải Phòng;
- TAND khu vực 5 - Hải Phòng;
- Phòng KTNV và THA;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Hồng Giang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 311/2026/HS-PT Bản án số 311/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 311/2026/HS-PT Bản án số 311/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất