Bản án số 167/2026/HS-PT ngày 22/10/2026 của TAND tỉnh Cà Mau

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 167/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 167/2026/HS-PT ngày 22/10/2026 của TAND tỉnh Cà Mau
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 167/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 167/2026/HS-PT Bản án số 167/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 167/2026/HS-PT Bản án số 167/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà
Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông
Quách Lý Hoàng Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 154/2026/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2026
đối với bị cáo Nguyễn Tuấn L và 02 bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo L đối với Bản
án hình sự sơ thẩm số 159/2026/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 1 - Cà Mau.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Tuấn L (họ và tên gọi khác là Phan Tuấn L1; tên gọi khác: T, T1, H), sinh
ngày 15/4/1994, tại Cà Mau; số CCCD: ************; nơi cư trú: Khóm D, phường
L, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Bán vé số; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn
L2 và bà Huỳnh Thị T2; vợ tên Phạm Bé Q (là bị cáo trong cùng vụ án), chưa có con;
tiền án: Có 01 tiền án (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2021/HS-ST ngày 07/6/2021,
Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày
20/01/2025, chưa chấp hành phần án phí và trách nhiệm bồi thường); tiền sự: Không;
nhân thân:
(1) Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 42/2011/HS-PT ngày 27/4/2011, Tòa án
nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, theo điểm
d khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Hình sự năm 1999, đã nộp án phí hình sự sơ thẩm,
phúc thẩm ngày 28/8/2012.
(2) Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 116/2011/HS-PT ngày 01/9/2011, Tòa án
nhân dân tỉnh Cà Mau xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo điểm d
khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt với Bản án
hình sự phúc thẩm số 42/2011/HS-PT ngày 27/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 08 năm 01 tháng
09 ngày tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2019, đã nộp án phí hình sự sơ
thẩm, phúc thẩm ngày 03/8/2015.
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 167/2026/HS-PT
Ngày: 22-10-2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Ông Nguyễn Trọng Quế
Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Trần Minh Tấn
2
(3) Bị cáo đang chấp hành hình phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy
định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo Bản án hình sự sơ thẩm
số 56/2026/HS-ST ngày 19/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau.
Bị cáo có mặt.
- Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo và không bị kháng nghị
(Toà án không triệu tập): Phạm Bé Q và Lê Thị C.
- Bị hại (không được Toà án triệu tập): Công ty Cổ phần Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 02 giờ 00 phút, ngày 10/7/2025 Nguyễn Tuấn L điều khiển xe mô
tô biển số 69B1- 305.64 của Phạm Bé Q, kéo theo xe kéo tự chế của Lê Thị C, chở
theo C và Q chạy quanh khu vực phường A để nhặt phế liệu. Khi đến Trung tâm T3,
Q phát hiện một động cơ tải thực nâng (động cơ tang quấn) loại tải trọng 300kg, hiệu
Mitsubishi (cục sắt) đang để trước cửa trung tâm không có người trông coi nên cả
nhóm nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Q kêu L dừng xe mô tô lại, đẩy
xe kéo lên vĩa hè nơi để động cơ tải thực nâng, rồi cả ba người cùng nhau khiêng
động cơ để lên xe kéo chở đi. Sau khi lấy được tài sản, L điều khiển xe chạy đến
cống Cà Mau và về nhà ngủ, còn Q và C đem động cơ thực nâng trên đến vựa phế
liệu ở khóm E, phường T bán cho ông Lê Không Q1 được 1.500.000 đồng. Q chia cho
C 300.000 đồng, số tiền còn lại cùng Linh chi xài cá nhân.
Tại kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG, ngày 03/02/2026 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Cà Mau, kết luận: 01 tải động cơ thực nâng
(động cơ tang quấn) loại tải trọng 300kg, hiệu M đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày
10/7/2025 là 35.000.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2026/HS-ST ngày 25/8/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Cà Mau đã quyết định: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s
khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn L 03
(ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ
thẩm số 56/2026/HS-ST ngày 19/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau,
buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (sáu) năm tù. Ngoài ra, cấp sơ
thẩm còn xử phạt đối với các bị cáo còn lại, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm,
quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 03/9/2026, bị cáo Nguyễn Tuấn L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Đề nghị áp dụng
điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 159/2026/HS-ST ngày
25/8/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau về phần hình phạt.
3
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ
hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tuấn L khai nhận hành vi phạm tội
là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Cụ thể: Vào khoảng 02 giờ 05 phút,
ngày 10/7/2025 tại Trung tâm T3, thuộc khóm A, phường A, tỉnh Cà Mau, Nguyễn Tuấn
L, Phạm Bé Q và Lê Thị C có hành vi lén lút lấy trộm tài sản là một tải động cơ thực
nâng (động cơ tang quấn) loại tải trọng 300kg, hiệu Mitsubishi trị giá 35.000.000
đồng của Công ty Cổ phần Đ1 đem bán phế liệu được 1.500.000 đồng chia nhau tiêu
xài cá nhân. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau đã xét xử
các bị cáo L, Q và C cùng về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong đó, bị cáo L đã tái phạm
nay lại tiếp tục phạm tội, nên bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử theo điểm g khoản 2 Điều
173, xét xử các bị cáo Q và C theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn
cứ.
[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trong đó, hành vi phạm tội
của bị cáo L thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị
cáo Q và C thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản
của bị hại, gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Các bị cáo chiếm đoạt tài sản của
người khác vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì bị xử lý và phải chịu hình phạt
theo quy định.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo L:
Khi xét xử, Toà án cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất của
vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho bị cáo. Bị cáo có nhân thân không tốt, năm 2011,
bị cáo có 02 lần bị xử phạt tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Cướp tài sản” đã được
xoá; năm 2021 bị phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xoá và đang
chấp hành bản án 03 năm tù cũng về tội “Trộm cắp tài sản”. Theo đó, ở lần xét xử
này, Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 03 năm tù là phù hợp. Bị cáo kháng cáo xin
giảm nhẹ hình phạt với lý do có cha ruột tham gia chiến tranh Bảo vệ Tổ quốc và
làm nhiệm vụ quốc tế sau ngày 30/4/1975. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ mới này
cũng không làm thay đổi mức hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối
với bị cáo.
[4] Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Cà Mau được chấp nhận.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự
phúc thẩm.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã
có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật
Tố tụng hình sự; Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 56 của
Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn L, giữ nguyên Bản án
hình sự sơ thẩm số 159/2026/HS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 1 - Cà Mau về phần hình phạt.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn L 03 (ba) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng
hợp hình phạt với Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2026/HS-ST ngày 19 tháng 3 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Cà Mau, buộc bị cáo phải chấp hành hình
phạt chung của 02 bản án là 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng
9 năm 2025.
3. Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có
hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Công an tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1-CM;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-CM;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-CM;
- Công an phường Lý Văn Lâm, tỉnh Cà Mau;
- Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa HS, án văn, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trọng Quế
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 167/2026/HS-PT Bản án số 167/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 167/2026/HS-PT Bản án số 167/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất