Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 26/10/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 66/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 66/2026/DS-PT ngày 26/10/2026 của TAND tỉnh Tuyên Quang về tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tuyên Quang
Số hiệu: 66/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/10/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm do phát sinh tình tiết mới
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TUYÊN QUANG
Bản án số: 66 /2026/DS-PT
Ngày 26/10/2026
“V/v: Yêu cầu huỷ kết quả trúng đấu
giá, hủy hợp đồng mua bán và yêu cầu
bồi thường thiệt hại về tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Chương.
Các Thẩm phán: Ông Ma Hồng Thắng, ông Triệu Ngọc Thức.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Nam, bà Mồng Thu Hường - Thư
ký Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa:
Bà Ma Thị Thắm - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 22, 23 và 26 tháng 10 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân
tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân s thụ lý số
21/2026/TLPT-DS ngày 14 tháng 7 năm 2026 về việc “Yêu cầu huỷ kết quả trúng
đấu giá, hủy hợp đồng mua bán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST, ngày 23 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2026/QĐ-PT, ngày
17 tháng 8 năm 2026 giữa các đương s:
1. Nguyên đơn:
- Công ty Cổ phần G;
Địa chỉ: Số A, đường V, tổ dân phố H (nay là tổ dân phố I), phường A, tỉnh
Tuyên Quang;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phương N - Chức vụ: Tổng
Giám đốc; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Nguyễn Hữu T - Chức vụ: Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh T;
có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
Địa chỉ: Tổ dân phố P (nay là tổ dân phố P), phường M, tỉnh Tuyên Quang;
+ Ông Triệu Quang N1, sinh năm 1959; có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố T (nay là tổ dân phố T), phường M, tỉnh Tuyên Quang.
- Ông Lại Hoài Q, sinh năm 1980; có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường N, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lại Hoài Q: Bà Phạm Thị
Thanh N2 - Luật sư thuộc Công ty L - Đoàn luật sư thành phố H; vắng mặt không
có lí do.
2
Địa chỉ: Số A, ngõ B, phường H, thành phố Hà Nội.
2. Bị đơn:
- Trung tâm D;
Địa chỉ: Số F, đường C, tổ dân phố T (nay là tổ dân phố A), phường M, tỉnh
Tuyên Quang.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Đoàn Diệu T1 - Chức vụ: Giám đốc; có
mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án.
- Ngân hàng thương mại Cổ phần C2 (V);
Địa chỉ: Số A T, phường C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Minh B - Chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng quản trị; vắng mặt, có người đại diện theo ủy quyền.
Người đại diện theo ủy quyền:
+ Ông Dương Tuấn N3; Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng thương mại Cổ
phần C2 - Chi nhánh T5; có mặt.
+ Ông Nguyễn Thành H; Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng thương mại
Cổ phần C2 - Chi nhánh T5; có mặt.
+ Ông Trần Tuấn A; Chức vụ: Chuyên viên cao cấp phòng xử lý nợ - Trung
tâm quản lý và xử lý nợ Ngân hàng thương mại Cổ phần C2; có mặt tại phiên tòa,
vắng mặt khi tuyên án.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH V1;
Địa chỉ trụ sở: Tầng F, Tòa nhà V, số I, phố D, phường D, quận C, Thành
phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Văn T2 - Chức vụ: Giám đốc; vắng
mặt không có lý do;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Công ty Cổ phần G (gọi tắt là Công ty G) trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) chi nhánh T5 (gọi tắt là Ngân hàng
V) là tổ chức có tài sản bán đấu giá: Toàn bộ d án nhà máy G1 tại huyện Q, tỉnh
Hà Giang do Công ty TNHH V1 (viết tắt là Công ty V1) là tổ chức có tài sản thế
chấp (thế chấp tài sản hình thành trong tương lai) để vay vốn Ngân hàng V (Có danh
mục tài sản hình thành trong tương lai kèm theo d án thế chấp); khi các khoản vay
của Công ty V1 tại Ngân hàng V chuyển sang nợ quá hạn, không có khả năng thanh
toán nợ đã ủy quyền cho Ngân hàng V phát mại tài sản thế chấp để thu hồi công nợ
(theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHKD ngày 05/11/2020 và số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHKD ngày 05/11/2020).
Trung tâm D (gọi tắt là Trung tâm D) là đơn vị thc hiện ký hợp đồng bán
đấu giá tài sản với Ngân hàng V (theo Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-
DVĐGTS ngày 05/9/2022 trong đó có nêu các điều kiện để bán đấu giá tại Điều 2
là d án đầu tư và các giấy tờ liên quan đến dán đầu tư). Công ty G là đơn vị trúng
đấu giá tài sản, công khai ngay tình:
Theo Quy chế số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 của Trung tâm đấu giá
về việc “Đấu giá tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng V do Trung tâm đấu giá
3
tổ chức ngày 31/5/2023 (lần 5)” người đăng ký tham gia phải đáp ứng điều kiện tại
Điều 3 đối tượng đăng ký tham gia đấu giá: “1.1. Doanh nghiệp được thành lập
theo quy định của pháp luật có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong đó có
đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với dán đầu tư thuộc đối tượng được
mua tài sản gắn liền với đất thuê của Nhà nước theo quy định tại Điều 189 Luật Đất
đai 2013, có nhu cầu sử dụng đất để tiếp tục thc hiện D án Nhà máy gạch Tuynel
T” và phải có đủ các điều kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 189 Luật đất đai năm
2013 thì người trúng đấu giá tài sản sẽ được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất trong
thời hạn sử dụng còn lại theo giá đất cụ thể, sử dụng đất đúng mục đích để tiếp tục
thc hiện D án Nhà máy gạch Tuynel T theo quy định tại khoản 3 Điều 189 Luật
Đất đai năm 2013.
Tại Thông báo số 28/TB-TTDVBĐGTS ngày 16/5/2023 về việc đấu giá tài
sản (Lần 5) của Trung tâm đấu giá, Công ty G đã đăng ký, nộp hồ sơ tham gia đấu
giá và trúng đấu giá tài sản được ghi nhận tại Biên bản bán tài sản đấu giá số 19/BB-
ĐGTS ngày 31/5/2023 là “Tài sản bảo đảm tiền vay của V Chi nhánh tỉnh T5 là
toàn bộ D án Nhà máy G1” theo Thông báo số 28/TB- TTDVĐGTS ngày
16/5/2023 nói trên do Công ty V1 uỷ quyền cho Ngân hàng V bán.
Theo kết quả trúng đấu giá Công ty G đã ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu
giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/6/2023 với Ngân hàng V, tại Đ. khoản 2 Điều 7
Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/6/2023 đã ghi
rõ: “2.2. Đã xem xét kỹ, biết rõ về hiện trạng tài sản là Toàn bộ d án Nhà máy G1
nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này và các giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
tài sản gắn liền với đất”; ngày 12/8/2023 ba bên gồm: Ngân hàng V, Công ty V1 và
Công ty G đã lập Biên bản bàn giao tài sản đấu giá thuộc D án Nhà máy G1 là:
“Tài sản đảm bảo tiền vay của V là toàn bộ d án Nhà máy G1, nguyên trạng tài sản
tại thời điểm bàn giao …”. Sau khi mua được tài sản đấu giá Công ty G đã đầu tư
số tiền là: 25.611.319.950đ (Hai mươi lăm tỷ, sáu trăm mười một triệu, ba trăm
mười chín nghìn, chín trăm năm mươi đồng) vào việc sửa chữa, cải tạo, bổ sung
máy móc, thiết bị của nhà máy.
Ngày 31/10/2023 Công ty G nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh D án đầu tư (lần
1) được ký với Ngân hàng V đến Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh H (Sở K) theo quy
định Điều 49 Nghị định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ về điều
chỉnh D án đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng D án đầu tư
là tài sản bảo đảm. Ngày 15/11/2023 Công ty G nhận được Văn bản số
2649/SKHĐT-QLĐT đề ngày 10/11/2023 của Sở K thông báo chưa có đủ cơ sở để
xem xét, giải quyết hồ sơ của Công ty G. Sau đó Công ty G đã cung cấp đầy đủ các
tài liệu chứng minh Công ty trúng đấu giá tài sản là D án đầu tư.
Ngày 08/10/2024 Công ty G tiếp tục nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh D án đầu
tư (lần 2) thì được biết Sở K đã chấm dứt d án đầu tư tại Thông báo số 1461/TB-
SKHĐT ngày 23/7/2024 trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Công ty V1 và do Công ty V1
trong quá trình thc hiện d án đã vi phạm các nguyên tắc, điều kiện đối với nhà
đầu tư khi thc hiện d án trong Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư cụ thể: “Triển khai đầu tư xây dng các hạng mục công
trình nhưng chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, dẫn đến việc đầu tư xây dng các hạng
mục công trình của dán (hình thành tài sản trên đất) không đúng quy định của
4
pháp luật về quy hoạch, đầu tư xây dng, chưa đủ điều kiện để hoạt động sản xuất,
kinh doanh; đồng thời đã sử dụng đất không đúng phạm vi, ranh giới khu đất được
UBND tỉnh cho thuê đất, xây dng không đúng quy hoạch chi tiết đã được phê
duyệt; không đáp ứng điều kiện về thế chấp quyền sử dụng đất đối với trường hợp
thuê đất trả tiền hàng năm theo quy định của Luật Đất đai năm 2013”.
Ngày 09/10/2024 bộ phận một cửa Sở KH&ĐT đã có phiếu từ chối tiếp nhận
giải quyết hồ sơ với lý do d án xây dng nhà máy G1 đã được Sở KH&ĐT ban
hành Thông báo số 1461/TB-SKHĐT ngày 23/7/2024 về việc chấm dứt hoạt động
của D án đầu tư trên cơ sở hồ sơ đề nghị và thông báo chấm dứt hoạt động d án
của Công ty V1.
Tại Biên bản họp liên ngành giải quyết vướng mắc đối với d án đầu tư xây
dng nhà máy G1, huyện Q và các Sở liên ngành tỉnh Hà Giang ngày 21/11/2024
đã nêu: “D án Đầu tư xây dng Nhà máy G1 của Công ty V1 chưa đáp ứng đầy đủ
các quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, môi trường, xây dng, quy hoạch,
chuyển giao công nghệ, PCCC ... và Công ty V1 đã bị xử lý vi phạm hành chính về
lĩnh vc xây dng nhưng không thc hiện các biện pháp để khắc phục”.
Ngày 30/10/2024, Công ty G có Công văn số 181/CV-CT V/v mua đấu giá
tài sản bảo đảm là dự án đầu tư gửi Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang; ngày 07/11/2024
Sở Tư pháp có Giấy mời họp số 1804/STP-TTr về việc xem xét kiến nghị của Công
ty về tài sản trúng đấu giá vào hồi 14 giờ ngày 09/11/2024 gồm các thành phần chủ
trì cuộc họp do Giám đốc và Phó Giám đốc Sở chủ trì cùng với đại diện Trung tâm
đấu giá, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh T, Ngân hàng V và Công ty G; tại cuộc họp nêu
trên cả Ngân hàng V và Trung tâm đấu giá đều khẳng định tài sản bảo đảm mà Công
ty G trúng đấu giá là tài sản gắn liền với đất không phải là d án đầu tư.
Ngày 04/11/2024 tại trụ sở Hội sở chính của Ngân hàng thương mại cổ phần
C2 (viết tắt là Ngân hàng V) tại thành phố Hà Nội gồm có đại diện Ngân hàng V,
Công ty G, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh T và Ngân hàng V cùng làm việc về tài sản
bảo đảm mà Công ty G trúng đấu giá; tại buổi làm việc đại diện Ngân hàng V đã có
ý kiến khẳng định là tài sản bảo đảm mà Công ty G trúng đấu giá là tài sản gắn liền
với đất không phải là d án đầu tư rất mâu thuẫn với hồ sơ Công ty G tham gia mua
đấu giá tài sản lại nêu là d án đầu tư (Tài sản đảm bảo không đúng với hồ sơ đấu
giá) cho thấy Ngân hàng V có s gian dối khi ký Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản
số 90/HĐ-DVĐGTS ngày 05/9/2022 đã “biến tướng làm sai lệch thông tin tài sản
đấu giá là tài sản gắn liền với đất trở thành d án đầu tư”; đồng thời cũng chính
Ngân hàng V đưa “tài sản gắn liền với đất đang vi phạm do tạo lập bất hợp pháp”
để bán đấu giá là d án đầu tư để từ đó Trung tâm đấu giá ban hành Quy chế đấu
giá, Thông báo bán đấu giá tài sản … khiến Công ty bị lừa dối khi mua đấu giá “tài
sản bảo đảm là dán đầu tư” dẫn đến không thể điều chỉnh chủ trương đầu tư để
tiếp tục được thc hiện dán mà ngược lại d án bị Sở KH&ĐT H đã ra Thông báo
chấm dứt hoạt động gây thiệt hại nặng nề cho Công ty.
Ngày 11/11/2024, Công ty G có Công văn số 190/CV-CT gửi Ngân hàng V
và số 191/CV-CT gửi Trung tâm D đề nghị có ý kiến về bán đấu giá tài sản bảo
đảm mà Công ty trúng đấu giá (lần thứ 2) đề nghị trả lời cụ thể, rõ ràng, minh bạch
tài sản đảm bảo do Công ty TNHH V1 thế chấp tại Ngân hàng V là d án đầu tư
hay là tài sản gắn liền với đất (nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản của dự án đầu
5
tư,...) để Công ty giải quyết dứt điểm việc vướng mắc trên nhưng đến nay cả hai
đơn vị đều chưa có văn bản trả lời.
Công ty G là người thứ ba ngay tình theo quy định tại điều 133 Bộ luật Dân
s năm 2015 và người trúng đấu giá ngay tình Điều 7 Luật Đấu giá tài sản năm 2016
được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo đảm việc thc hiện quyền, lợi ích hợp
pháp. Công ty đã đầu tư mua tài sản đấu giá và đầu tư sửa chữa nhà máy X, việc
càng kéo dài thời gian vì lý do trên đã khiến Công ty tiếp tục thiệt hại hàng chục tỷ
đồng dẫn đến Công ty đang bị đứng bên bờ vc phá sản nên Công ty G đã khởi kiện
vụ án đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
1) Tuyên hủy kết quả trúng đấu giá tài sản theo: Biên bản bán tài sản đấu giá
số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023.
2) Tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày
05/06/2023 giữa Công ty G và Ngân hàng V.
3) Buộc Ngân hàng V trả lại Công ty cổ phần G số tiền đã nhận theo Hợp
đồng mua bán tài sản trúng đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/06/2023 là
50.000.000.000đồng (Năm mươi tỷ đồng);
4) Buộc V phải bồi hoàn lại cho Công ty G số tiền Công ty đã đầu tư chi phí
vào việc sửa chữa, cải tạo, bổ sung máy móc, thiết bị, khôi phục lại nhà máy từ
hoang tàn đổ nát xuống cấp nghiêm trọng, hao mòn t nhiên với số tiền là:
25.611.319.950đ (Hai mươi lăm tỷ, sáu trăm mười một triệu, ba trăm mười chín
nghìn, chín trăm năm mươi đồng) nhưng đã bị Sở K chấm dứt d án.
5) Buộc V phải trả cho Công ty G khoản tiền lãi suất theo lãi vay của Ngân
hàng V số tiền đã chi từ khi trúng đấu giá tài sản tính đến ngày xét xử (tạm tính đến
ngày nộp đơn khởi kiện 18/11/2024) là: 9.015.434.965đ (Chín tỷ, không trăm mười
lăm triệu, bốn trăm ba mươi tư nghìn, chín trăm sáu mươi lăm đồng).
Sau đó, tại phiên tòa ngày 15/4/2026 Công ty G đã thay đổi một phần yêu cầu
khởi kiện về yêu cầu khoản tiền bồi thường thiệt hại thc tế đã phát sinh, gồm: Số
tiền chi phí đầu tư mua mới, xây dng mới, sửa chữa, cải tạo 21.622.736.470 đồng;
chi phí quản lý, duy trì, bảo vệ 934.161.349 đồng và chi phí lãi vay vốn đầu tư và
sửa chữa, cải tạo Nhà máy thc tế phát sinh đến 28/02/2026 là 12.189.442.843 đồng.
Tổng chi phí mà Công ty G yêu cầu bồi thường là 34.746.340.662đ (Ba mươi tư tỷ,
bảy trăm bốn mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi nghìn, sáu trăm sáu mươi hai đồng).
Hợp đồng cho thuê khoán nhà máy số 02 ngày 02/01/2023 được ký giữa Công
ty TNHH V1 và Công ty TNHH N5 về việc cho thuê để khai thác Nhà máy gạch
Tuynel T là không đúng vì: Trong thời gian tài sản đã được thẩm định giá và đang
được rao bán đấu giá, tài sản vẫn bị cho thuê khoán để khai thác, vận hành, sửa
chữa, cải tạo. Điều này làm phát sinh một mâu thuẫn rất lớn về tính trung thc của
hiện trạng tài sản và độ tin cậy của kết quả thẩm định giá. Bởi lẽ, tài sản đã được
định giá tại một thời điểm xác định nhưng trong thời gian sau đó lại tiếp tục bị khai
thác, vận hành, hao mòn, thay đổi hiện trạng, thậm chí được sửa chữa, cải tạo, thì
giá trị thc tế của tài sản tại thời điểm bán đấu giá đương nhiên có khả năng thay
đổi đáng kể so với thời điểm thẩm định giá. Tài sản đã được định giá, đã rao bán
nhưng vẫn đang cho thuê khoán, khai thác, vận hành, sửa chữa, cải tạo mà Ngân
hàng V không yêu cầu thẩm định lại, không cập nhật lại hồ sơ pháp lý và không
công bố trung thc cho người tham gia đấu giá, thì đây là thêm một căn cứ chứng
6
minh quy trình bán đấu giá đã không còn trung thc, khách quan, minh bạch theo
Điều 6 Luật Đấu giá tài sản và không tuân thủ theo Điều 320, Điều 321, Điều 323
Bộ luật Dân s và Điều 20 Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính
phủ.
Về việc sử dụng Chứng thư thẩm định giá số 377/2022/CT-VPG được lập ngày
23/8/2022 cho phiên đấu giá thành ngày 31/5/2023, tức đã vượt quá 06 tháng. Bởi
vậy, tại thời điểm bán đấu giá, chứng thư này đã hết thời hạn hiệu lc tối đa theo
pháp luật về giá đang áp dụng tại thời điểm đó là vi phạm Luật Giá số 11/2012/QH13
và hệ thống Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam ban hành kèm theo Thông tư số
28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015 của Bộ T6. Khoản 3 Điều 32 Luật Giá năm 2012
quy định kết quả thẩm định giá chỉ được sử dụng trong thời hạn có hiệu lc được
ghi trong Báo cáo kết quả thẩm định giá và Chứng thư thẩm định giá. Tiêu chuẩn
thẩm định giá Việt Nam số 06 ban hành kèm Thông tư số 28/2015/TT-BTC quy
định thời hạn có hiệu lc của kết quả thẩm định giá tối đa không quá 06 tháng kể từ
thời điểm chứng thư có hiệu lc. Sai phạm này làm suy giảm nghiêm trọng tính hợp
pháp, tính tin cậy của toàn bộ quy trình đấu giá; đồng thời kết hợp với các sai lệch
về bản chất pháp lý của tài sản, càng làm rõ rằng kết quả trúng đấu giá, Hợp đồng
mua bán tài sản đấu giá và Phụ lục hợp đồng đều không thể tiếp tục được pháp luật
bảo vệ.
* Nguyên đơn ông Lại Hoài Q và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
cho ông Q trình bày: Ông Q là thành viên góp vốn trong Công ty TNHH V1 - Chủ
đầu tư d án Nhà máy G1 (có địa chỉ tại thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang).
Trong quá trình thc hiện D án, Công ty TNHH V1 có ký kết hợp đồng tín dụng
số 668/2020 ngày 25/8/2020 và số 68/2021 ngày 01/9/2021 với Ngân hàng TMCP
C2 - Chi nhánh T5. Tài sản thế chấp là các hạng mục công trình và hệ thống máy
móc thiết bị thuộc D án Nhà máy G1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành
trong tương lai số 99/2020 và số 100/2020 ngày 05/11/2020; cùng một số tài sản thế
chấp của bên thứ 3 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản vay của Công ty TNHH V1.
Do thời điểm thc hiện D án bị ảnh hưởng của dịch bệnh Covid nên Công
ty TNHH V1 gặp khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng.
Ngày 01/6/2022, Công ty TNHH V1 họp Hội đồng thành viên thống nhất bán toàn
bộ tài sản của D án để trả nợ vay tại Ngân hàng V. Ngày 22/8/2022, Công ty V1
và V - Tuyên Quang đã ký kết Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm. Nội dung
ủy quyền: Ngoài việc (i) thuê Công ty thẩm định giá để xác định giá trị tài sản làm
căn cứ xác định giá khởi điểm, (ii) thuê đơn vị đấu giá tài sản thì chỉ được (iii) ký
Hợp đồng chuyển nhượng tài sản cho khách hàng trúng đấu giá hợp lệ. Vietinbak -
Tuyên Quang có nghĩa vụ thc hiện công việc theo đúng nội dung Công ty V1 đã
ủy quyền và có các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật. Theo đó, Công ty
V1 chỉ ủy quyền cho Ngân hàng bán tài sản của D án, ký Hợp đồng chuyển nhượng
tài sản cho khách hàng trúng đấu giá hợp lệ, không ủy quyền cho V - Tuyên Quang
được đại diện ký Phụ lục Hợp đồng với khách hàng trúng đấu giá. Do vậy, V -
Tuyên Quang t ý ký Phụ lục Hợp đồng mua bán với khách hàng là thc hiện công
việc vượt quá phạm vi ủy quyền.
Ngân hàng V cũng không thc hiện đúng trách nhiệm của bên nhận ủy quyền,
không giám sát quy trình bán đấu giá tài sản để đảm bảo việc bán đấu giá tuân thủ
7
đúng quy định của pháp luật, không thc hiện công việc đại diện vì lợi ích của Công
ty V1 như quy định tại Điều 134 BLDS:“1. Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân
(sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc
pháp nhân khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự.”. Cụ thể,
Trong lần bán đấu giá thứ 5, Trung tâm D có văn bản số 53 ngày 30/5/2023
thông báo chỉ có 01 khách hàng nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, nộp phiếu trả
giá và nộp đủ tiền đặt trước. “Theo quy định tại điểm 4.2, khoản 4, Điều 7 Quy chế
số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản thì
01 khách hàng đã đủ điều kiện tham gia buổi công bố giá”. Trung tâm D đề nghị V
- Tuyên Quang cho ý kiến bằng văn bản về việc có bán tài sản cho 01 người tham
gia đấu giá nêu trên không. Ngày 30/5/2023, V - Tuyên Quang có văn băn số 304
đồng ý bán tài sản cho 01 khách hàng đã nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, nộp
phiếu trả giá và nộp đủ tiền đặt trước theo quy định.
Việc chấp nhận bán đấu giá như trên của Ngân hàng V là không đúng quy
định vì theo khoản 2 Điều 6 Quy chế số 26 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản
thì trường hợp 01 khách hàng nêu trên không đủ điều kiện tham gia buổi công bố
giá. Ngoài ra trong Quy chế số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 không có điểm
4.2, khoản 4, Điều 7 như trong văn bản của Trung tâm DV ĐGTS đưa ra để cho
rằng 01 khách hàng đã đủ điều kiện tham gia buổi công bố.
Mặt khác, V - Tuyên Quang chỉ là bên đại diện cho chủ sở hữu là Công ty V1
để bán tài sản nhưng Ngân hàng không hỏi ý kiến của chủ tài sản trong trường hợp
này mà t ý ra văn bản đồng ý, bán tài sản khi chỉ có 01 khách hàng là không đảm
bảo lợi ích tối đa cho chủ tài sản - bên ủy quyền như quy định tại Điều 134 BLDS.
Ngoài ra, V - Tuyên Quang đã không bảm bảo tính độc lập, khách quan theo
quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Đấu giá tài sản khi vừa đại diện cho Công ty V1
bán tài sản, lại vừa có văn bản cam kết cung cấp tài chính cho Công ty G để tham
gia đấu giá tài sản, cũng lại đồng ý bán tài sản khi chỉ có 01 khách hàng là Công ty
G tham gia đấu giá: “2. Bảo đảm tính độc lập, trung thực, công khai, minh bạch,
công bằng, khách quan”. Theo đó, Ngân hàng V đã không thc hiện đúng nội dung
ủy quyền, trách nhiệm của bên nhận ủy quyền, không vì lợi ích của bên ủy quyền,
không đảm bảo tính độc lập, khách quan khi bán đấu giá.
Trung tâm Đấu giá tài sản bán đấu giá trái quy định: Theo Điều 2 Quy chế 26
ngày 16/5/2023 do Trung tâm Đấu giá tài sản tổ chức ngày 31/5/2023 thì:“Điều 2:
Nguyên tắc đấu giá:
2. Buổi công bố giá lần đầu chỉ được tiến hành khi có đầy đủ các điều kiện
sau:
- Có ít nhất 02 đối tượng đăng ký tham gia đấu giá trở lên;
- Có ít nhất 02 người tham gia trả giá có phiếu trả giá hợp lệ;
- Có ít nhất 02 người nộp tiền đặt trước.
Từ buổi công bố giá lần thứ hai được thực hiện theo quy định tại khoản 1
Điều 14 của Quy chế này.”
- Theo quy định trên thì tại buổi công bố giá ngày 31/5/2023 là buổi công bố
giá lần đầu khi chỉ có 01 khách hàng đăng ký tham gia nhưng Trung tâm Đấu giá
tài sản vẫn tiến hành buổi công bố giá là vi phạm quy định của Quy chế 26.
8
- Mặt khác theo quy định tại Điều 6 Quy chế 26 thì “1. Thời gian địa điểm
xem tài sản: Xem tài sản ngày 22/5/2023 và ngày 23/5/2023 tại nơi có tài sản đấu
giá”. Tuy nhiên theo Phiếu đăng ký xem tài sản của Công ty G thì thời gian xem tài
sản lại là ngày 17/5/2023, trước cả thời điểm bán hồ sơ, đăng ký đấu giá là vi phạm
Quy chế 26 của Trung tâm Đấu giá tài sản.
- Ngoài ra, theo Điều 7 Quy chế 26 thì: “3. Điều kiện tham gia trả giá, tham
gia buổi công bố giá: 3.2. Người đủ điều kiện tham gia buổi công bố giá là người
đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và điểm 4.1 khoản 4 của Điều này, nộp phiếu trả
giá, nộp đủ tiền đặt trước quy định tại khoản 3 Điều 5 Quy chế này nhưng không
thuộc trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 14 của Quy chế này.” Thc tế tại Điều
7 của Quy chế 26 không có quy định điểm 4.1 khoản 4 và trường hợp đấu giá khi
chỉ có 01 khách hàng ngày 31/5/2023 là thuộc trường hợp không đủ điều kiện tham
gia buổi công bố giá.
- Theo Điều 21 Quy chế 26 quy định về điều khoản thi hành thì: “1. Quy chế
này được áp dụng trong phạm vi cuộc đấu giá tài sản bảo đảm tiền vay của V chi
nhánh tỉnh T5 do Trung tâm Dịch vụ Đấu giá tài sản tổ chức ngày 31/5/2023. 2.
Viên chức, người lao động của Trung tâm; người tham gia đấu giá tài sản có trách
nhiệm thực hiện nghiêm các quy định của Quy chế này”. Theo đó, Quy chế 26 là
Quy chế được áp dụng riêng cho cuộc đấu giá tài sản bảo đảm tiền vay của V do
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tổ chức ngày 31/5/2023 và những người liên quan
có trách nhiệm thc hiện nghiêm các quy định của Quy chế này.
- Do đó, Trung tâm Đấu giá tài sản vi phạm về nguyên tắc đấu giá, tiến hành
buổi công bố giá khi không đủ điều kiện; trích dẫn căn cứ không có trong Quy chế
26 để ban hành văn bản số 53 ngày 30/5/2023 thông báo 01 khách hàng đã đủ điều
kiện tham gia buổi công bố giá là không đúng quy định; vi phạm các quy định trong
Quy chế 26 do chính Trung tâm Đấu giá tài sản ban hành và có trách nhiệm phải
thc hiện nghiêm các quy định của Quy chế này.
Ngân hàng V và Trung tâm D đưa ra thông tin về tài sản bán đấu giá chưa rõ
ràng, có s sai lệch về thông tin tài sản đấu giá gây nhầm lẫn cho người mua, cụ thể:
Các tài liệu thể hiện tài sản bán đấu giá là tài sản của/thuộc D án gồm có:
+ Chứng thư thẩm định giá tài sản số 377/2022 ngày 23/8/2022 thì tài sản
thẩm định giá là tài sản gắn liền với đất và máy móc thiết bị của Nhà máy G1.
+ Thông báo về việc bán đấu giá tài sản số 28 ngày 16/5/2022 thì tài sản đấu
giá là tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng V, bao gồm toàn bộ các hạng mục
công trình, hệ thống máy móc thiết bị thuộc D án.
+ Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 690, tại Điều 1 ghi: Tài sản đấu
giá bao gồm: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình
được xây dng của D án và toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị, linh kiện, phụ tùng
… thuộc D án.
+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 563429 thì ngày 10/11/2020,
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh H đăng ký thế chấp bằng tài sản gắn liền với đất
hình thành trong tương lai.
Các tài liệu thể hiện tài sản bán đấu giá là D án đầu tư gồm có:
+ Biên bản bán tài sản đấu giá số 19 ngày 31/5/2023, tại mục 1 Phần 2 Tài
sản đấu giá gồm: “Tài sản bảo đảm tiền vay của V là toàn bộ dự án đầu tư xây dựng
9
nhà máy G1 theo Thông báo số 28 ngày 16/5/2023 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá
tài sản”.
+ Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 690 ngày 05/6/2023, tại mục 2.2
khoản 2 Điều 7 Bên mua tài sản đấu giá cam đoan: “Đã xem xét kỹ, biết rõ về hiện
trạng tài sản là toàn bộ dự án Nhà máy G1 nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này và các
giấy tờ về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất”.
+ Biên bản bàn giao tài sản đấu giá, tại mục 1 có ghi: “Bên bán đã giao, bên
mua đã nhận tài sản trúng đấu giá là: Tài sản đảm bảo tiền vay của V là toàn bộ
dự án Nhà máy G1….”.
+ Báo cáo số 42 ngày 13/11/2023 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản, tại
tiêu đề có ghi: “Về các nội dung, trình tự, thủ tục đấu giá tài sản bảo đảm tiền vay
Ngân hàng V chi nhánh T5 là dự án Nhà máy G1…”.
- Căn cứ các tài liệu trên thì thấy các thông tin về tài sản bán đấu giá được ghi
không rõ ràng, có văn bản thì thể hiện tài sản bán đấu giá là các tài sản gắn liền với
đất và máy móc thiết bị của D án, có văn bản lại thể hiện tài sản BĐG là toàn bộ
D án đầu tư, thậm chí trên cùng một văn bản cũng ghi không thống nhất về tài sản
bán đấu giá.
- Ngân hàng V và Trung tâm D thông tin về tài sản bán đấu giá không rõ ràng,
có s sai lệch về tài sản bán đấu giá gây nhầm lẫn cho người tham gia đấu giá và
người mua tài sản bán đấu giá. Hiện Công ty G là đơn vị trúng đấu giá tài sản luôn
khẳng định công ty mua D án đầu tư, không mua tài sản của D án. Nếu công ty
biết tài sản bán đấu giá là tài sản của D án, không phải là D án đầu tư thì họ không
tham gia đấu giá. Thc tế Công ty G đã bị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền từ chối
hồ sơ điều chỉnh d án đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng d
án đầu tư là tài sản bảo đảm.
- Do vậy, có căn cứ để xác định quá trình bán đấu giá tài sản bảo đảm của
Ngân hàng V và Trung tâm D không đảm bảo tính trung thc, minh bạch, khách
quan được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Đấu giá tài sản 2016; làm cho người
mua tài sản không đạt được mục đích khi tham gia giao dịch theo quy định tại Điều
118 BLDS 2015: “Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn
đạt được khi xác lập giao dịch đó”; có dấu hiệu làm sai lệch thông tin tài sản đấu
giá là căn cứ để hủy kết quả đấu giá tài sản theo quy định tại khoản 4 Điều 72 Luật
Đấu giá tài sản 2016.
Tài sản đấu giá không đủ điều kiện để bán/chuyển nhượng: Căn cứ các văn
bản, báo cáo kiểm tra của các cơ quan Nhà nước đối với D án Nhà máy G1, Quyết
định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPVPHC ngày 24/5/2021 của Sở Xây
dng… thì thấy các hạng mục công trình của d án được xây dng khi chủ đầu tư
chưa lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi; lập, thẩm định và phê
duyệt thiết kế xây dng triển khai sau thiết kế cơ sở; chưa được cơ quan quản lý nhà
nước cấp phép xây dng; xây dng nhà cấp IV và dây chuyển sản xuất gạch có một
phần diện tích nằm ngoài phạm vi ranh giới được UBND tỉnh cho thuê đất, xây dng
không đúng quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt, không đúng tiến độ đã được
UBND tỉnh chấp thuận.
Do Chủ đầu tư đã vi phạm các quy định của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây
dng, quy hoạch … nên theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai 2013 và
10
khoản 1 Điều 46 Luật Đầu tư 2020 thì Ngân hàng V chưa đủ điều kiện để bán tài
sản gắn liền với đất thuê của Nhà nước là các hạng mục công trình của D án; cũng
như chưa đủ điều kiện để chuyển nhượng D án đầu tư. Các hạng mục công trình
của D án Nhà máy G1 được xây dng trên đất thuê của Nhà nước chưa đáp ứng
đủ điều kiện để được bán, tài sản không được phép giao dịch theo quy định của pháp
luật nên không được đủ điều kiện để xác định là tài sản đấu giá theo quy định tại
khoản 11 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản 2016:“11. Tài sản đấu giá là tài sản được
phép giao dịch theo quy định của pháp luật”.
Theo đó, quá trình bán đấu giá Ngân hàng V và Trung tâm D đã không thc
hiện đúng quy định của pháp luật trong quá trình bán đấu giá tài sản, không đăng
thông báo đấu giá công khai và niêm yết việc đấu giá theo quy định tại Điều 35 và
Điều 57 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 nên không có người đăng ký tham gia đấu
giá. Việc này đã làm cho tài sản đấu giá phải hạ giá 4 lần (từ 71 tỷ đồng giá khởi
điểm ban đầu phải hạ giá xuống còn 50 tỷ đồng) và phải qua 5 lần bán đấu giá mới
có người mua. Mặt khác, trong quá trình bán đấu giá tài sản của Công ty TNHH V1,
Vietinbank Tuyên Q1 đã bán đấu giá cả tài sản thuộc sở hữu cá nhân của ông Q1.
Cụ thể, hạng mục Nhà điều hành do ông Q1 trc tiếp ký với đơn vị thi công là Công
ty TNHH M1 (có địa chỉ tại Cụm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình) theo Hợp đồng
kinh tế số 30012021/HDKT/MD-LHQ ngày 30/01/2021 để thi công xây dng công
trình. Ông Q1 cũng là người ký xác nhận giá trị khối lượng công việc hoàn thành
và trc tiếp thanh toán cho Công ty TNHH M1 bằng tiền cá nhân. Ngoài ra các tài
sản khác như máy móc, vật tư, công cụ, dụng cụ của D án Nhà máy G1 cũng là tài
sản do ông Q1 mua và thanh toán bằng nguồn tiền cá nhân. Các tài sản trên không
thuộc sở hữu của Công ty TNHH V1, không phải là tài sản thế chấp, không có trong
Biên bản định giá tài sản bảo đảm của V. Tuy nhiên, các tài sản này đã bị V bán đấu
giá cùng với các tài sản khác của Công ty TNHH V1. Hiện các tài sản của ông Q1
đã bị V bàn giao cho Công ty cổ phần G quản lý, sử dụng do đơn vị này đã trúng
đấu giá tài sản.
Hợp đồng Mua bán tài sản đấu giá giữa V và Công ty G ký vi phạm thời hạn
công chứng, có dấu hiệu hợp thức thủ tục công chứng khi công chứng viên xác nhận:
“Các bên giao kết đã tự đọc lại đồng ý toàn bộ nội dung và ký vào từng trang của
Hợp đồng này trước mặt tôi…” trong khi Hợp đồng được ký kết ngày 05/6/2023,
còn công chứng viên công chứng ngày 03/8/2023, sau khi các bên đã ký kết gần 02
tháng, vi phạm thời hạn công chứng theo khoản 2 Điều 43 : “2. Thời hạn công
chứng không quá 02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch có nội dung phức
tạp thì thời hạn công chứng có thể kéo dài hơn nhưng không quá 10 ngày làm việc”.
Phụ lục hợp đồng số 01, sửa đổi bổ sung thời hạn thanh toán tiền mua tài sản là:
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ khi người trúng đấu giá ký Phụ lục Hợp
đồng Mua bán tài sản đấu giá. Căn cứ các nội dung thỏa thuận nêu trên thì thấy
người trúng đấu giá đã vi phạm nghiêm trọng thời hạn thanh toán tiền mua tài sản,
được xác định là đã từ chối mua tài sản khi không nộp đủ tiền trong thời hạn quy
định và số tiền đặt trước thuộc về đơn vị có tài sản là Công ty V1. Ngoài ra, tài sản
đấu giá là đối tượng của Hợp đồng MBTSĐG ngày 05/6/2023 nhưng không đủ điều
kiện tham gia giao dịch mua bán theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai
2013 hay khoản 1 Điều 46 Luật Đầu tư 2020, là tài sản chưa được phép giao dịch
11
nên Hợp đồng mua bán tài đấu giá ngày 05/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng ngày
03/8/2023 vô hiệu toàn bộ.
Tuy nhiên V với tư cách là đại diện cho Chủ tài sản là Công ty V1 nhưng
không vì lợi ích cho người đại diện, đã thc hiện công việc vượt quá phạm vi ủy
quyền khi t ý ký Phụ lục hợp đồng để gia hạn thời gian thanh toán cho người trúng
đấu giá, là vi phạm nghiêm trọng các nội dung đã thỏa thuận trong Hợp đồng ủy
quyền và quy định của pháp luật về người đại diện.
Do đó, ông Q1 khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá ngày 05/6/5023 và Phụ
lục hợp đồng ngày 03/8/2023 về việc mua bán tài sản đấu giá giữa Ngân hàng V -
Chi nhánh T5 và Công ty CP G.
- Buộc Ngân hàng V - Chi nhánh T5 và Công ty cổ phần G trả lại các tài sản
thuộc sở hữu của ông Q1 đã bị bán đấu giá trái quy định của pháp luật.
* Bị dơn Ngân hàng V chi nhánh T5 trình bày:
+ Ngày 25/08/2020, V và Bên vay là Công ty TNHH V1 ký kết Hợp đồng
tín dụng số 668/2020-HĐCVDADT/NHCT174- CONG TY TNHH VINH HOA cụ
thể như sau: Số tiền cho vay d án: 55.000 triệu đồng, dư nợ gốc hiện tại: 0 đồng.
Mục đích sử dung vốn vay: Cho vay thanh toán các chi phí hợp lý, hợp lệ để thc
hiện đầu tư D án Nhà máy G1.
+ Ngày 01/09/2021, V và Bên vay tiếp tục ký kết Hợp đồng tín dụng số
68/2021-HĐCVHM /NHCT174 – C3, cụ thể như sau: Số tiền cho vay: 7.000 triệu
đồng, dư nợ gốc hiện tại: không đồng. Mục đích sử dung vốn vay: Bổ sung vốn lưu
động phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy G1.
- Các khoản vay trên được bảo đảm bằng 06 (sáu) tài sản và 01 thư cam kết
thanh toán, trong đó có 02 tài sản theo các HĐTC sau:
+ HĐTC tài sản hình thành trong tương lai số
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 giữa V và Công ty TNHH
V1.
Tài sản thế chấp là Toàn bộ tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai
là toàn bộ các hạng mục công trình của D án Nhà máy gạch Tuynel T, công suất
75 triệu viên/năm, được xây dng tại thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất số CN 563429, số vào sổ cấp GCN CT00446 do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh H cấp ngày 4/9/2018 cho dù tài sản đó đang được Bên Thế Chấp sở hữu
hay sẽ sở hữu trong tương lai và cho dù tài sản đó đang tồn tại hoặc sẽ hình thành
trong tương lai.
Nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản là: Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và
đúng hạn bao gồm: gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài
chính khác của Bên vay theo các Hợp đồng cấp tín dụng mà Bên vay ký với N6
trước, trong và sau thời điểm xác lập các HĐTC.
+ HĐTC tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 giữa V và Công ty TNHH
V1.
12
Tài sản thế chấp là Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc D án Nhà máy
gạch Tuynel T, công suất 75 triệu viên/năm, được xây dng tại thôn N, xã T, huyện
Q, tỉnh Hà Giang bao gồm nhưng không giới hạn các tài sản sau:
(i) Các tài sản là toàn bộ động sản hình thành thuộc D án (bao gồm: Dây
chuyền sản xuất gạch Tuynel, hệ Robot xếp mộc, thiết bị hầm lò Tuynel di dộng,
trạm biến áp, thiết bị cơ giới và các động sản khác thuộc d án;
(ii) Tất cả các quyền tài sản (Bao gồm: quyền thụ hưởng, số tiền bảo hiểm,
lợi ích, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán khác liên quan đến tài sản (i).
Nghĩa vụ được bảo đảm bằng tài sản là: Toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và
đúng hạn bao gồm: gốc, lãi, phí, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ tài
chính khác của Bên vay theo các Hợp đồng cấp tín dụng mà Bên vay ký với N6
trước, trong và sau thời điểm xác lập các HĐTC.
Kể từ khi khoản vay của Công ty TNHH V1 tại Chi nhánh chuyển sang nợ
quá hạn, V đã nhiều lần gửi các văn bản và làm việc với Công ty TNHH V1, Công
ty CP T7 và bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu thc hiện nghĩa vụ.
Ngày 01/06/2022, Hội đồng thành viên Công ty TNHH V1 đã thông qua biên
bản: (i) Bán toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và các hạng mục công trình xây dng,
dây chuyền máy móc thiết bị, các công trình phụ trợ và tài sản khác cho dù tài sản
đó đang được Công ty TNHH V1 sở hữu hay sẽ sở hữu trong tương lai và cho dù
tài sản đó đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai thuộc Dán Nhà máy G1;
(ii) Ủy quyền cho V thc hiện các thủ tục đấu giá qua Trung tâm dịch vụ đấu giá tài
sản tỉnh Tuyên Quang và ký Hợp đồng chuyển nhượng tài sản và (iii) Giao cho ông
Lê Văn T2 - Giám đốc Công ty Đ ký kết Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá với đại
diện V.
Ngày 03/06/2022, V, Công ty TNHH V1 và Công ty CP T7 đã có biên bản
làm việc về việc thu hồi nợ xấu Công ty TNHH V1; theo đó các bên thống nhất chấp
thuận để Công ty TNHH V1 t bán TSBĐ với giá bán tối thiểu bằng dư nợ gốc và
lãi phát sinh nhưng không thấp hơn số tiền 57,5 tỷ đồng trong thời gian từ ngày
03/06/2022 đến hết ngày 05/08/2022.
Ngày 11/08/2022, V, Công ty TNHH V1 và Công ty CP T7 đã có biên bản
làm việc về thu hồi nợ xấu Công ty TNHH V1; theo đó các bên thống nhất xác nhận
rằng đến nay Công ty TNHH V1 không bán được tài sản để trả nợ; đồng thời Công
ty TNHH V1 cam kết hoàn thiện hồ sơ ủy quyền bán đấu giá TSBĐ là toàn bộ hệ
thống máy móc thiết bị, các hạng mục công trình thuộc D án nhà máy G1 trong
vòng 10 ngày kể từ ngày 11/8/2022 đến hết ngày 21/8/2022 qua Trung tâm dịch vụ
đấu giá tài sản tỉnh D hoặc doanh nghiệp đấu giá tài sản được thành lập theo quy
định của pháp luật để thu hồi nợ theo trình t, thủ tục và mức giá do V quyết định.
Căn cứ các biên bản làm việc trước đó, ngày 22/8/2022 Công ty TNHH V1
đã ký Hợp đồng ủy quyền xử lý TSBĐ; theo đó Công ty ủy quyền cho V thuê thẩm
định giá độc lập, thuê Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh Tuyên Quang, ký hợp
đồng chuyển nhượng tài sản đối với toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất, toàn bộ các
hạng mục công trình xây dng, dây chuyền máy móc thiết bị, các công trình phụ trợ
và tài sản khác cho dù tài sản đó đang được Công ty TNHH V1 sở hữu hay sẽ sở
hữu trong tương lai và cho dù tài sản đó đang tồn tại hoạc sẽ hình thành trong tương
lai thuộc D án Nhà máy G1.
13
Từ ngày 22/8/2022 đến ngày 29/8/2022, V tổ chức la chọn tổ chức đấu giá
tài sản; theo đó V đã đánh giá và la chọn tổ chức đấu giá tài sản là Trung tâm dịch
vụ đấu giá tài sản thuộc Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang. Mọi thủ tục, trình t đánh
giá và la chọn tổ chức đấu giá tài sản được V thc hiện theo đúng quy định của
pháp luật.
Căn cứ kết quả la chọn tổ chức đấu giá tài sản, ngày 30/08/2022, V đã có
Văn bản số 521/CV-CNTQ-PTH về việc bán đấu giá tài sản gửi Trung tâm D. Theo
đó, V. Theo yêu cầu của Trung tâm D, V đã cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin,
giấy tờ có liên quan đến tài sản đấu giá mà V có được, trong đó có:
- Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bán đấu giá tài
sản được ký kết giữa Công ty TNHH V1 và V;
- Chứng thư thẩm định giá số: 377/2022/CT-VPG ngày 23/08/2022 của Công
ty TNHH T8;
- Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số:
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN được ký kết ngày 05/11/2020 giữa V và Công
ty TNHH V1;
- Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số:
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN được ký kết ngày 05/11/2020 giữa V và Công
ty TNHH V1;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số CN 563429 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp ngày
04/09/2018;
- Giấy chứng nhận đầu tư số: 6022305725 do Sở Kế hoạch và Đầu tư –
UBND tỉnh H chứng nhận lần đầu ngày 18/01/2017, chứng nhận thay đổi lần 2 ngày
10/02/2020.
Ngày 05/09/2022, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D đã ký kết Hợp
đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS với V. Tại Điều 1 của Hợp đồng
dịch vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS ngày 05/09/2022 có ghi rõ: Tài sản đấu
giá là tài sản bảo đảm tiền vay của V – Chi nhánh T5, bao gồm:
- Toàn bộ tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là toàn bộ các
hạng mục công trình của Dự án Nhà máy gạch G1…
- Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc Dự án Nhà máy G1…
Trong quá trình thc hiện hoạt động đấu giá tài sản, Trung tâm dịch vụ đấu
giá tài sản tỉnh D đã tổ chức đấu giá công khai, minh bạch và tuân thủ theo đúng
trình t, thủ tục của Luật đấu giá tài sản; tổng số lần đấu giá là 05 lần đấu giá (trong
đó 04 lần tổ chức đấu giá không thành, 01 lần tổ chức đấu giá thành).
Trung tâm đã ban hành thông báo, niêm yết công khai thông báo đấu giá tài
sản theo quy định của pháp luật tại: B1, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, UBND
xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, gửi cho Công ty TNHH V1; đăng tải trên trang Quản
lý phần mềm về đấu giá tài sản của Bộ Tư pháp, cụ thể các lần sau: Lần 1 ngày
07/09/2022, lần 2 ngày 04/10/2022, lần 3 ngày 26/10/2022, lần 4 ngày 24/11/2022,
lần 5 ngày 15/05/2023.
Ngày 16/05/2023, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D đã có thông báo
số 28/TB-TTDVĐGTS và Quy chế đấu giá số 26/QC-TTDVĐGTS ngày
16/05/2023 với giá khởi điểm là 50.000 triệu đồng.
14
Tại Thông báo về việc bán đấu giá tài sản số 28/TB/TTDVĐGTS ngày
16/05/2023 và Điều 5 Quy chế số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/05/2023 của Trung
tâm D có ghi rõ:
“1. Tài sản đấu giá: Tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng TMCP C2 -
Chi nhánh T5 gồm:
- Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình của Dự
án Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm được xây dựng tại thôn N, xã T, huyện
Q, tỉnh Hà Giang ….
- Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc Dự án Nhà máy G1 …
(Theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai ... được ký kết
giữa V và Công ty TNHH V1)”.
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D đã niêm yết công khai trên B1 (quảng
cáo ngày 18/05/2023), niêm yết công khai tại UBND xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang
từ ngày 18/05/2023 và gửi thông báo trên cho Công ty TNHH V1 nắm được.
Ngày 30/05/2023, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D đã có thông báo
số 206/TTDVĐGTS về việc bán tài sản đấu giá trong trường hợp có 01 người.
Ngày 31/05/2023, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D đã ra Biên bản
đấu giá và Văn bản số 54/TTDVĐGTS; theo đó Công ty CP G là đơn vị trúng đấu
giá với giá trúng là 50.000 triệu đồng.
Ngày 05/06/2023, V, Công ty TNHH V1 và Công ty CP G không thể tiến
hành bàn giao tài sản được do một số đối tác cung cấp mà Công ty TNHH V1 còn
nợ tiền đã đến cản trở. Cùng ngày 05/06/2023, V đã có văn bản số 317/CNTQ-TH
ngày 05/06/2023 về việc báo cáo Lãnh đạo UBND tỉnh H về việc đề nghị hỗ trợ
doanh nghiệp trong việc bàn giao tài sản trúng đấu giá; theo đó V báo cáo có gần
30 người dân đã đến cản trở không cho các bên vào kiểm kê tài sản và đại diện Công
ty TNHH V1 đã đứng ra lập danh sách và có cam kết trong tháng 06/2023 sẽ thanh
toán toàn bộ số tiền còn nợ công nhân và các khoản công nợ khác khi được xác định
rõ căn cứ. Sau ngày 05/06/2023, Công ty TNHH V1 có buổi làm việc trc tiếp với
các nhà cung cấp để thu thập, rà soát hồ sơ chứng từ, các biên bản đối chiếu công
nợ để có cơ sở thống nhất số tiền và phương thức thanh toán công nợ cho các nhà
cung cấp; ngày 09/06/2023, Công ty TNHH V1 có văn bản số 230609.01/CV-VH
gửi các đối tác nhà cung cấp về việc thông báo rà soát hồ sơ, thanh toán công nợ tồn
đọng.
Ngày 14/06/2023, UBND tỉnh H có văn bản số 1772/UBND – KTTH gửi
UBND huyện Q, tỉnh Hà Giang về việc chỉ đạo Chủ tịch UBND huyện Q có trách
nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn và UBND xã T phối hợp hỗ trợ V trong việc
kiểm kê và bàn giao tài sản Nhà máy G1 thuộc huyện Q cho đơn vị trúng đấu giá.
Ngày 23/06/2023, Công ty TNHH V1 có văn bản số 230623.01/CV-VH gửi
UBND huyện Q, UBND xã T về việc báo cáo và đề nghị hỗ trợ công tác bàn giao
nhà máy G1.
Ngày 29/06/2023, V, Công ty TNHH V1 và Công ty CP G tiếp tục tổ chức
bàn giao tài sản tuy nhiên đã không thc hiện được do một số đối tác cung cấp mà
Công ty TNHH V1 còn nợ tiền đã đến cản trở.
Ngày 24/07/2023, V đã có văn bản số 431/CV-CNTQ-TH ngày 24/07/2023
gửi UBND huyện Q, tỉnh Hà Giang; theo đó V báo cáo tình hình Công ty TNHH
15
V1 thanh toán công nợ cho các bên có liên quan và đề nghị UBND huyện Q xem
xét chỉ đạo các cơ quan chức năng phối hợp, hỗ trợ V đảm bảo an ninh trật t để
việc kiểm kê và bàn giao tài sản trúng giá cho Đơn vị mua được thuận lợi, sớm đưa
Nhà máy G1 vào hoạt động.
Ngày 03/08/2023, V đã ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-
MBTSĐG với Công ty CP G với giá bán là 50 tỷ đồng.
Tại Điều 1 của Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG cũng
xác định: Tài sản đấu giá là tài sản bảo đảm tiền vay của V - Chi nhánh T5, bao
gồm:
- Toàn bộ tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai là toàn bộ các
hạng mục công trình của Dự án Nhà máy gạch G1…
- Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc Dự án Nhà máy G1…
Ngày 12/08/2023 tại Nhà máy G1 tại thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang,
V cùng Công ty TNHH V1 và Công ty CP G đã tiến hành bàn giao tài sản cho đơn
vị trúng giá.
Về Căn cứ pháp lý khẳng định V thc hiện xử lý Tài sản bảo đảm thuộc Nhà
máy G1 là phù hợp theo quy định của pháp luật:
- Một là, Tài sản thế chấp đã được đăng ký thế chấp theo quy đúng quy định
của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm: Đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng
ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H ngày 10/11/0020 thể hiện tại
trang bổ sung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 563429: “Thế chấp bằng
tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai tại Ngân hàng TMCP C2 Chi
nhánh T5 theo Hồ sơ số 000.00.06.H22-201109- 002/TNHS”. Văn bản chứng nhận
đăng ký biện pháp bảo đảm ngày 16/11/2020, Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản
tại thành phố Hà Nội chứng nhận đối với tài sản là toàn bộ hệ thống máy móc thiết
bị thuộc D án Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm, được xây dng tại thôn
N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang hình thành trong tương lai.
Công ty TNHH V1 không thc hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn
đã cam kết nên V hoàn toàn có quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ thông qua
bán đấu giá tài sản trên cơ sở các quy định của pháp luật và các thỏa thuận tại các
Hợp đồng thế chấp tài sản. Do vậy, viêc bán toàn bộ tài sản bảo đảm được nêu trong
02 Hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi nợ là đúng quy định của pháp luật và theo
đúng thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký kết giữa các bên tham gia.
- Hai là, Tài sản bảo đảm của Công ty TNHH V1 mà V nhận, xử lý qua đấu
giá là tài sản hình thành trong tương lai, chưa được đăng ký quyền sở hữu đối với
tài sản gắn liền với đất; Là tài sản gắn liền với đất (nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài
sản của/thuộc dự án đầu tư), không phải là d án đầu tư.
Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 295 Bộ Luật dân s năm 2015 quy
định về tài sản bảo đảm: “Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình
thành trong tương lai”.
Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/2/2012 sửa
đổi bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao
dịch bảo đảm thì: “2. Tài sản hình thành trong tương lai gồm:….b) Tài sản đang
trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết
giao dịch bảo đảm;….”.
16
Theo quy định tại Điều 55. Nghị định số 21/2021/NĐ-CP (thay thế Nghị định
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006) cũng có quy định : “ Xử lý tài sản bảo đảm là
tài sản hình thành trong tương lai”:
Việc xử lý tài sản bảo đảm là tài sản hình thành trong tương lai thực hiện
theo thỏa thuận của các bên. Thỏa thuận này có thể có các nội dung sau đây:
1. Trường hợp tài sản bảo đảm chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng
chưa được cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thuộc đối tượng phải đăng ký
theo quy định của pháp luật thì bên nhận bảo đảm có thể chuyển nhượng hợp đồng
mua bán tài sản, hợp đồng khác về xác lập quyền đối với tài sản hình thành trong
tương lai, nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được
bảo đảm hoặc bán tài sản hình thành trong tương lai theo quy định của pháp luật;
Căn cứ theo các quy định trên, việc Bên thế chấp là Công ty TNHH V1 đã
thế chấp toàn bộ tài sản gắn liền với đất và máy móc thiết bị thuộc D án nhà máy
G1 (đang sở hữu hoặc sẽ sở hữu trong tương lai và cho dù tài sản đó đang tồn tại
hoặc sẽ hình thành trong tương lai) theo các Hợp đồng thế chấp số
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 và Hợp đồng thế chấp số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 là đúng quy định của pháp
luật về dân s và pháp luật về giao dịch bảo đảm.
Theo Hợp đồng thế chấp tài sản, V chỉ nhận tài sản bảo đảm là tài sản gắn
liền với đất (nhà xưởng, máy móc thiết bị, tài sản của d án đầu tư, không phải là
d án đầu tư). Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, thông báo đấu giá và quy chế đấu
giá tài sản đều đã ghi rõ. Như vậy, V bán đấu giá là “tài sản” chứ không phải là “d
án”.
- Ba là, Các giấy tờ có liên quan đến tài sản đấu giá mà V có được đã được
cung cấp đầy đủ cho Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản theo yêu cầu.
Tại Khoản 4.04 Điều 4 “Quyền, trách nhiệm của Bên thế chấp của Hợp đồng
thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN
có quy định: Đối với Giấy Tờ Tài Sản Thế Chấp, Bên Thế Chấp bảo đảm và cam
kết rằng: (i) bản gốc các giấy tờ bàn giao cho Bên Nhận Thế Chấp là bản gốc duy
nhất mà Bên Thế Chấp có; (ii) cung cấp ngay cho Bên Nhận Thế Chấp bản gốc của
bất kỳ giấy tờ liên quan tới Tài Sản T mà Bên Thế Chấp có được sau thời điểm ký
Hợp đồng; …..). Các hồ sơ/tài liệu liên quan đến phạt vi phạm hành chính/kiểm tra
d án mà Công ty CP G có nêu trong hồ sơ khởi kiện, V không nhận được và các
hồ sơ (biên bản, báo cáo, văn bản) của Đoàn kiểm tra liên ngành, Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh H được thc hiện và phát sinh sau thời điểm V bàn giao tài sản đấu giá
cho Nguyên đơn.
- Bốn là: Trong quá trình thc hiện hoạt động đấu giá tài sản, Trung tâm dịch
vụ đấu giá tài sản đã tổ chức đấu giá công khai, minh bạch và tuân thủ theo đúng
trình t, thủ tục của Luật đấu giá tài sản; tổng số lần đấu giá là 05 lần đấu giá từ
7/9/2022 đến ngày 16/5/2023 (trong đó 04 lần tổ chức đấu giá không thành, 01 lần
tổ chức đấu giá thành). Trung tâm đã ban hành thông báo, niêm yết công khai thông
báo đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật tại: B1, Trung tâm dịch vụ đấu giá
tài sản, UBND xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang, gửi cho Công ty TNHH V1; đăng tải
trên trang Quản lý phần mềm về đấu giá tài sản của Bộ Tư pháp. Ngoài ra, thông tin
đấu giá tài sản được đăng tải trên nhiều trang Web liên quan khác.
17
Như vậy, các thông tin tài sản đấu giá được hoàn toàn công khai, minh bạch
từ khi Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tổ chức từ lần 1 ngày 7/9/2022 đến lần 5
ngày 16/5/2023; tài sản đấu giá đều ghi rõ là tài sản thuộc/của D án Nhà máy G1.
Tại Phiếu đăng ký đấu giá ngày 18/05/2023 của Công ty CP G (nay là Công
ty CP G) có nêu rõ: “Sau khi nghiên cứu Quy chế đấu giá số 26/QC-TTDVĐGTS
ngày 16/5/2023 của Trung tâm D - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang, và xem kỹ tài sản
đấu giá, cũng như căn cứ pháp lý tài sản.
Đơn vị chúng tôi đăng ký đấu giá: Tài sản bảo đảm tiền vay của V Chi nhánh
T5, bao gồm: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình
của Dự án Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm được xây dựng tại thôn N, xã
T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Các quyền, lợi ích, khoản thanh toán mà Công ty TNHH
V1 có thể nhận được liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
thuộc Dự án Nhà máy G1; Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc Dự án Nhà máy
G1; Các thiết bị, linh kiện, phụ tùng, phụ kiện, thiết bị liên lạc, thiết bị định vị, các
thiết bị khác được lắp đặt cho và gắn liền vào tài sản thuộc Dự án; Các quyền, lợi
ích, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán mà Công ty TNHH V1 có thể nhận
được liên quan đến bất kỳ tài sản nào thuộc Dự án Nhà máy G1.”.
Tại Phiếu đăng ký xem tài sản ngày 18/5/2023, theo đó Công ty CP G đã xác
nhận: Đã xem tài sản.
Công ty CP G đã xem kỹ tài sản đấu giá cũng như hồ sơ pháp lý d án, đã
xem thc tế tài sản và tài sản đấu giá được Công ty CP G xác định rõ là tài sản
thuộc/của D án Nhà máy G1 chứ không phải là Dán đầu tư. Tại Phiếu trả giá
gián tiếp ngày 29/05/2023.
- Năm là, Ngày 18/08/2023, Công ty CP G (nay là Công ty cổ phần G) đã ký
Hợp đồng thế chấp tài sản số: 88.03/2023/HĐMB/NHCT174-KHDN-CTCP VLXD
VIÊN CHÂU. Theo Khoản 2.04 của Điều 2 Hợp đồng thế chấp nêu trên, các vật
phụ, trạng thiết bị, tài sản đầu tư, lắp thêm cho và/hoặc gắn liền với Tài sản thế chấp
đều thuộc Tài sản thế chấp; Mọi tài sản gắn liền và/hoặc phục vụ cho việc vận hành,
khai thác, sử dụng Tài sản thế chấp trước và trong quá trình xử lý Tài sản thế chấp
đều thuộc Tài sản Thế Chấp và V là Bên nhận thế chấp được quyền xử lý, cho dù
tài sản đó tồn tại trước hay sau thời điểm ký kết Hợp đồng này, cho dù tài sản đó do
Công ty CP G đầu tư hay cho phép bên thứ ba đầu tư.
- Sáu là: Trong yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cho rằng, việc bán tài sản
là không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai năm 2013:
“1. Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được bán tài sản gắn liền với đất thuê
của Nhà nước khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Tài sản gắn liền với đất thuê được tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp
luật;
b) Đã hoàn thành việc xây dng theo đúng quy hoạch xây dng chi tiết và d
án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận.”
Về nội dung này: V có quan điểm như sau:
- Điều kiện bán tài sản gắn liền với đất thuê được Nhà nước cho thuê thu tiền
thuê đất hàng năm là “Tài sản gắn liền với đất thuê được tạo lập hợp pháp theo quy
định của pháp luật”. Không như quyền sử dụng đất hay nhà ở, điều kiện để thc
18
hiện chuyển nhượng là phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Điều kiện bán tài sản gắn liền với đất trong
trường hợp này chỉ yêu cầu là “được tạo lập hợp pháp” mà không yêu cầu phải được
ghi nhận quyền sở hữu vào Giấy chứng nhận - V và Trung tâm đấu giá đã đáp ứng
điều kiện này trong toàn bộ quá trình bán đấu giá.
- Điều kiện bán tài sản gắn liền với đất thuê được Nhà nước cho thuê thu tiền
thuê đất hàng năm là tài sản “đã hoàn thành việc xây dng theo đúng quy hoạch xây
dng chi tiết và d án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận”. Trong toàn bộ hồ sơ
vụ việc không có căn cứ, tài liệu xác định, kết luận cụ thể Công ty TNHH V1 không
thc hiện đúng hay vi phạm điều kiện đã hoàn thành việc xây dng theo đúng quy
hoạch xây dng chi tiết và d án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận. Nguyên đơn
có viện dẫn văn bản 2274/BC-SKHĐT ngày 31/10/2024 của Sở kế hoạch và đầu tư
tỉnh H cùng biên bản làm việc kèm theo; viện dẫn căn cứ Biên bản họp liên ngành
giải quyết vướng mắc đối với d án đầu tư xây dng Nhà máy G1 của các Sở liên
ngành ngày 21/11/2024, tuy nhiên Biên bản này chỉ là ý kiến của các Sở ban ngành,
phần kết luận của biên bản cũng không có kết luận cụ thể, chính xác nội dung vi
phạm của Công ty TNHH V1. Mặt khác, tại văn bản 2535/BC-SKHĐT ngày
29/11/2024 của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh H (sau khi họp các Sở liên ngành) báo
cáo Ủy ban nhân dân tỉnh H cũng không nêu cụ thể vi phạm của Công ty TNHH
V1.
- Bên cạnh đó, tại Văn bản số 2649/SKHĐT-QLĐT ngày 10/11/2023 của Sở
kế hoạch đầu tư tỉnh H gửi Công ty CP G tại phần 3. Nhận xét và kiến nghị (trang
2 văn bản) có nêu rõ: Từ các nội dung trên, Công ty cổ phần G có quyền sở hữu
toàn bộ tài sản gắn liền với đất là các hạng mục công trình và máy móc thiết bị của
dự án nhưng chưa có các văn bản chứng minh được quyền triển khai thực hiện dự
án đầu tư… Rõ ràng nội dung này đã thừa nhận việc Công ty cổ phần G là đơn vị
trúng đấu giá tài sản hợp pháp.
V khẳng định đến thời điểm hiện tại không có một kết luận của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về việc tài sản bảo đảm là không đủ điều kiện được được bán/
chuyển nhượng mà chỉ là ý kiến đánh giá, đề xuất của các sở ban ngành tham mưu
cho Ủy ban nhân dân tỉnh H khi giải quyết vụ việc. Do đó, việc xác định và bổ sung
Ủy ban nhân dân tỉnh T tham gia tố tụng với tư cách là Người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan trong vụ án để có ý kiến cụ thể là cần thiết.
- Bảy là: Căn cứ, lý do chấm dứt hoạt động của d án tại Thông báo số
1461/TB-SKHĐT ngày 23/7/2024 của Sở kế hoạch đầu tư tỉnh H đã nêu rõ là nhà
đầu tư (Công ty V1) t quyết định chấm dứt hoạt động của d án đầu tư theo quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 48 Luật đầu tư chứ không như các căn cứ phía Công
ty G nêu ra.
Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, phía Công ty G có viện dẫn
các Biên bản làm việc, văn bản của các sở ban ngành của tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên,
đề nghị Hội đồng xét xử đánh giá các tài liệu do Công ty G cung cấp để xác định
nguồn chứng cứ, đánh giá chứng cứ theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân s.
- T3 là: Tại phiên tòa ngày 08/9/2025, đại diện theo ủy quyền của V có đề
nghị Hội đồng xét xử xác định và bổ sung thêm UBND tỉnh H (nay là tỉnh Tuyên
Quang) tham gia tố tụng vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
19
là cần thiết vì nhiều tài liệu, văn bản của các sở ban ngành tỉnh H liên quan đến quá
trình giải quyết vụ việc, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong
quá trình tham gia tố tụng. Do đó, UBND tỉnh T có trách nhiệm và nghĩa vụ giải
thích rõ ràng các nội dung của các văn bản liên quan cũng như có ý kiến đối với
việc giải quyết vụ án.
- Chín là, Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lại Hoài Q: Quá trình nhận và
xử lý TSBĐ, Chi nhánh không nhận được bất kỳ văn bản nào của Công ty TNHH
V1 hoặc bên thứ ba thông báo về việc một số tài sản tại Nhà máy G1 thuộc sở hữu
cá nhân của ông Lại Hoài Q - Thành viên góp vốn Công ty.
Tại khoản 2 Điều 20 “Đầu tư tài sản thế chấp” của Nghị định số 21/2021/NĐ-
CP ngày 19/03/2021 của Chính phủ về việc quy định thi hành Bộ luật dân s về bảo
đảm thc hiện nghĩa vụ có quy định:
“1. Trường hợp bên thế chấp thực hiện quyền đầu tư để làm tăng giá trị của
tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 2 Điều 321 của Bộ luật dân sự thì phần giá
trị tăng thêm thuộc tài sản thế chấp.
2. Việc đầu tư vào tài sản thế chấp phải có sự đồng ý của bên nhận thế chấp
trong trường hợp:
a) Bên thứ ba đầu tư vào tài sản thế chấp;
b) Bên thế chấp đầu tư vào tài sản thế chấp làm phát sinh tài sản mới không
thuộc tài sản thế chấp theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp”.
4. Trường hợp bên thế chấp, bên thứ ba đầu tư vào tài sản thế chấp không
tuân thủ quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi
thường cho bên nhận thế chấp.”
Tại khoản 4.03 và 4.04 Điều 4 “Quyền, trách nhiệm của Bên thế chấp” của
Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN và 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN được
công chứng ngày 05/11/2020 được ký kết giữa Chi nhánh và Công ty TNHH V1 có
quy định:
“4.03. Sau thời điểm ký kết Hợp đồng này, Bên thế chấp sẽ chỉ sử dụng tài
sản thế chấp làm đối tượng của bất kỳ giao dịch với tổ chức/cá nhân khác khi được
sự chấp thuận trước bằng văn bản của Bên nhận thế chấp;
4.04. Đối với Giấy Tờ Tài Sản Thế Chấp, Bên Thế Chấp bảo đảm và cam kết
rằng: (i) bản gốc các giấy tờ bàn giao cho Bên Nhận Thế Chấp là bản gốc duy nhất
mà Bên Thế Chấp có; (ii) cung cấp ngay cho Bên Nhận Thế Chấp bản gốc của bất
kỳ giấy tờ liên quan tới Tài Sản T mà Bên Thế Chấp có được sau thời điểm ký Hợp
Đồng; …”
Taị khoản 4.07 Điều 4 “Quyền, trách nhiệm của Bên thế chấp” của Hợp đồng
thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN
được công chứng ngày 05/11/2020 được ký kết giữa Chi nhánh và Công ty TNHH
V1 có quy định:
“4.07. … Bên Thế Chấp cam kết sẽ thông báo cho Bên Nhận Thế Chấp trước
khi có bất kỳ hành động/không hành động nào làm thay đổi, ảnh hưởng đến Tài Sản
Thế Chấp và cung cấp ngay cho Bên Nhận Thế Chấp ngay sau khi Bên Thế Chấp
có được bất kỳ thông tin nào: (i) liên quan đến việc tăng/giảm giá trị, sự dịch chuyển
20
hoặc bất kỳ sự kiện nào có thể ảnh hưởng bất lợi tới Tài Sản Thế Chấp; (ii) liên
quan tới chính Bên Thế Chấp.”
Trong suốt quá trình nhận TSBĐ là Nhà máy G1, Chi nhánh không nhận bất
kỳ văn bản nào của Công ty TNHH V2 thứ ba hoặc của Công ty TNHH V1 xin ý
kiến về việc cho phép bên thứ ba đầu tư tài sản mới không thuộc tài sản thế chấp
theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp.
Từ khi V nhận thế chấp TSBĐ là Nhà máy G1 cho đến khi tổ chức đấu giá
tài sản, kiểm kê và bàn giao tài sản cho đơn vị trúng giá; Chi nhánh chưa tiếp nhận
bất cứ văn bản nào của Công ty TNHH V1 hoặc bên thứ ba thông báo về việc một
số tài sản tại Nhà máy G1 thuộc sở hữu cá nhân của ông Lại Hoài Q - Thành viên
góp vốn Công ty.
Đề nghị Tòa án xem xét đánh giá tư cách đương s của ông Lại Hoài Q có
quyền khởi kiện Trung tâm bán đấu giá, V không? vì ông Q chỉ là thành viên góp
vốn của Công ty V1 - không phải là đại diện theo pháp luật, khi khởi kiện tại Tòa
án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, ông Q không xuất trình/nộp cho Tòa án tài
liệu, hồ sơ xác định/chứng minh liên quan đến tài sản bán đấu giá. V thấy rằng việc
tranh chấp giữa nội bộ của các thành viên Công ty V1 thì phải được xem xét và giải
quyết theo đúng đối tượng, do đó ông Q không có quyền khởi kiện Trung tâm bán
đấu giá và V nên ông Lại Hoài Q không phải là nguyên đơn trong vụ án.
Như vậy từ các căn cứ nêu trên thấy rằng, V thc hiện xử lý TSBĐ của Nhà
máy G1, quá trình bán đấu giá tài sản là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do
đó yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng
xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Công ty cổ
phần G, ông Lại Hoài Q.
- Mười là: Việc sử dụng Chứng thư thẩm định giá tài sản phù hợp với quy
định của pháp luật. Khi ký kết Hợp đồng dịch vụ bán đấu giá tài sản, qua các lần
bán đấu giá thứ 1 đến thứ 4 Chứng thư định giá vẫn trong thời hạn. Do đó, quan
điểm phía Công ty G cho rằng việc bán đấu giá tài sản khi sử dụng Chứng thư đã
hết hạn là không có căn cứ.
Như vậy từ các căn cứ nêu trên thấy rằng, V thc hiện xử lý TSBĐ của Nhà
máy G1, quá trình bán đấu giá tài sản là phù hợp theo quy định của pháp luật. Do
đó, yêu cầu khởi kiện của các Nguyên đơn là không có căn cứ.
* Bị đơn Trung tâm D trình bày:
Ngày 30/8/2022, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản nhận được Công văn số
521/CV-CNTQ-PTH ngày 30/8/2022 của V về việc bán đấu giá tài sản và các tài
liệu liên quan đến nguồn gốc tài sản đấu giá là:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 563429 do Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh H cấp ngày 04/9/2018.
- Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư số 6022305725 do Sở Kế hoạch và Đầu tư
- tỉnh Hà Giang chứng nhận lần đầu ngày 18/01/2017, thay đổi lần thứ 3 ngày
28/9/2020.
- Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 đã ký giữa Công ty TNHH V1
và Vietinbank Tuyên Q1.
21
- Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 đã ký giữa Công ty TNHH
V1 và Vietinbank Tuyên Q1.
- Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản số: 01-2022/HĐUQ-NHCT174 ngày
22/08/2022 giữa Công ty TNHH V1 và Vietinbank Tuyên Q1;
Sau khi nhận được công văn đề nghị và các tài liệu kèm theo, Trung tâm D
đã xem xét, xác định tài sản đấu giá và kiểm tra thông tin về quyền được bán tài
sản của V theo quy định tại Khoản 3 Điều 33 Luật đấu giá tài sản 2016. Theo đó:
Căn cứ Điều 2 của các Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai
số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 và Hợp đồng thế chấp tài
sản hình thành trong tương lai số 100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày
05/11/2020 đã ký giữa Công ty TNHH V1 và Vietinbank Tuyên Q1, tài sản đấu
giá được xác định là tài sản bảo đảm tiền vay của V bao gồm:
- Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình của D án
Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm được xây dng tại thôn N, xã T, huyện
Q, tỉnh Hà Giang ... (Theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai
số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 đã ký giữa Công ty
TNHH V1 và Vietinbank Tuyên Q1).
- Tất cả các quyền, quyền sở hữu và lợi ích của Công ty TNHH V1 đối với toàn bộ
hệ thống máy móc thiết bị thuộc D án Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm
được xây dng tại thôn N xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang (đã, đang và sẽ hình thành
trong tương lai); Các thiết bị, linh kiện, phụ tùng, phụ kiện, thiết bị liên lạc, thiết
bị định vị các thiết bị khác được lắp đặt cho và gắn liền vào tài sản thuộc D án;
Các quyền, lợi ích, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán mà Công ty TNHH
V1 có thể nhận được liên quan đến bất kỳ tài sản nào thuộc D án Nhà máy G1
cho dù những tài sản này đang được công ty TNHH V1 sở hữu hay sẽ sở hữu trong
tương lai và cho dù tài sản đó đang tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai (Theo
Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 đã ký giữa Công ty TNHH
V1 và Vietinbank Tuyên Q1).
Như vậy, tài sản đấu giá là tài sản bảo đảm tiền vay của V, việc bán đấu giá
được thc hiện theo quy định của hợp đồng thế chấp, Luật đấu giá tài sản 2016,
Luật đất đai 2013, Bộ luật dân s 2015 và các văn bản pháp luật liên quan đến xử
lý giao dịch bảo đảm.
Căn cứ Điểm 5.01 Điều 5 của các Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành
trong tương lai số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 và Hợp
đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 giữa Công ty TNHH V1
và Vietinbank Tuyên Q1 quy định về các trường hợp Bên nhận thế chấp
(Vietinbank Tuyên Q1) có quyền xử lý tài sản thế chấp khi xảy ra một trong các
s kiện sau:
“(a) Bên được bảo đảm không thực hiện kịp thời, đầy đủ Nghĩa Vụ Được
Bảo Đảm khi đến hạn (thời điểm đến hạn theo quy định tại Hợp đồng Cấp Tín
Dụng hoặc thời điểm mà Bên Nhận Thế Chấp/Bên Được Bảo Đảm vi phạm Hợp
Đồng Cấp Tín Dụng hoặc Hợp Đồng này).
22
...(c) Bên thế chấp/ Bên được bảo đảm vi phạm các cam kết và nghĩa vụ của
mình theo quy định tại Hợp đồng này hoặc một trong các Hợp đồng Cấp tín dụng
mà không khắc phục vi phạm trong thời hạn mà Bên Nhận thế chấp yêu cầu bằng
văn bản hoặc không thể khắc phục ”
Đồng thời, căn cứ Điều 299 Bộ luật Dân s 2015 quy định về các trường
hợp xử lý tài sản bảo đảm thì bên thế chấp (Công ty TNHH V1) vi phạm nghĩa vụ
được bảo đảm là căn cứ để bên nhận thế chấp (Vietinbank Tuyên Q1) được quyền
xử lý tài sản bảo đảm.
Trong vụ việc này, Công ty TNHH V1 đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ thanh
toán theo hợp đồng cấp tín dụng đã ký với V. Ngày 01/6/2022, Hội đồng thành
viên Công ty TNHH V1 đã thông qua Biên bản họp, quyết định: (i) Bán toàn bộ
giá trị quyền sử dụng đất và các hạng mục công trình xây dựng, dây chuyền máy
móc thiết bị, các công trình phụ trợ và tài sản khác cho dù tài sản đó đang được
Công ty TNHH V1 sở hữu hay sẽ sở hữu trong tương lai và cho dù tài sản đó đang
tồn tại hoặc sẽ hình thành trong tương lai thuộc Dự án Nhà máy G1; (ii) Ủy quyền
cho V thực hiện các thủ tục đấu giá qua Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh
Tuyên Quang và ký Hợp đồng chuyển nhượng tài sản và (iii) Giao cho ông Lê Văn
T2 - Giám đốc Công ty Đ ký kết Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản nêu trên
với đại diện V. Do đó, V được quyền xử lý tài sản bảo đảm.
Căn cứ Điều 303 Bộ luật dân s 2015 quy định về phương thức xử lý tài sản
cầm cố, thế chấp và điểm 1.1.2 Khoản 1.1 Điều 1 Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản
bảo đảm 01-2022/HĐUQ-NHCT174 ngày 22/8/2022 giữa Công ty TNHH V1 và
Vietinbank Tuyên Q1 quy định: “1.1.2. Nội dung ủy quyền: ... Thuê bên thứ 3 là
Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản tỉnh D hoặc Doanh nghiệp đấu giá tài sản được
thực hiện theo quy định của pháp luật thực hiện dấu giá tài sản nêu trên”
Như vậy, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản có đủ thẩm quyền bán đấu giá tài
sản đấu giá là Tài sản bảo đảm tiền vay của V.
Thứ hai: Trung tâm D không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của tài
sản đấu giá.
Sau khi xác định được tài sản đấu giá, Trung tâm đấu giá đã tiến hành các
thủ tục để đấu giá tài sản thông qua việc ký kết Hợp đồng dịch vụ đấu giá số
90/HĐ-DVĐGTS ngày 05/9/2022 giữa Trung tâm D; ban hành các Quy chế; thông
báo đấu giá tài sản (5 lần). Các thông tin về tài sản đều được công bố da trên hồ
sơ do V cung cấp. Trung tâm không có nghĩa vụ phải thẩm định điều kiện chuyển
nhượng của tài sản. Việc này đã được thể hiện rất rõ tại tại Khoản 2, Khoản 3 Điều
33 Luật đấu giá tài sản 2016, điểm 4.2 khoản 4 Điều 9 Hợp đồng dịch vụ đấu giá
tài sản: “Tổ chức đấu giá tài sản không chịu trách nhiệm về giá trị, chất lượng của
tài sản đấu giá” và Điều 5 Quy chế đấu giá tài sản: “... Tình trạng, hiện trạng tài
sản do Ngân hàng TMCP C2 - chi nhánh T5 chịu trách nhiệm và có trách nhiệm
phối hợp với người thế chấp bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá. Trung tâm
D không có trách nhiệm bàn giao tài sản trúng đấu giá”.
Như vậy, Trung tâm dịch vụ đấu giá chỉ là bên trung gian, không phải là chủ
thể trc tiếp bán tài sản. Luật không quy định tổ chức đấu giá phải có trách nhiệm
kiểm tra điều kiện chuyển nhượng của tài sản đấu giá.
23
Căn cứ điểm 1.2 khoản 1 Điều 9 Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản quy định
nghĩa vụ của V như sau: “Chịu trách nhiệm về tình trạng tài sản, nguồn gốc và
tính pháp lý của tài sản đưa ra đấu giá; đối tượng, điều kiện tham gia đấu giá và
niêm yết thông báo đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình”. Như vậy, trách
nhiệm xác minh tình trạng tài sản, khả năng chuyển nhượng thuộc về người có tài
sản đấu giá là V.
Việc Công ty cổ phần G viện dẫn các vướng mắc liên quan đến dán Xây
dng nhà máy G1, Trung tâm dịch vụ đấu giá hoàn toàn không biết và không buộc
phải biết. Toàn bộ hồ sơ liên quan đến tài sản đấu giá đều được công bố công khai,
đúng quy định pháp luật. Do đó, Trung tâm không chịu trách nhiệm về những tài
liệu, chứng cứ liên quan đến tài sản đấu giá mà Trung tâm không biết và không được
cung cấp.
Thứ ba: Trung tâm D đã thc hiện đấu giá tài sản đúng quy trình, thủ tục pháp
luật.
Trong quá trình thc hiện hoạt động đấu giá tài sản, Trung tâm Dịch vụ đấu
giá tài sản đã tổ chức đấu giá công khai, minh bạch và tuân thủ theo đúng trình t,
thủ tục của Luật đấu giá tài sản; tổng số lần tổ chức đấu giá là 05 lần đấu giá (trong
đó có 04 lần tổ chức đấu giá không thành; 01 lần tổ chức đấu giá thành). Trung tâm
đã ban hành thông báo, niêm yết công khai thông báo đấu giá tài sản theo quy định
của pháp luật tại: B1, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản, UBND xã T, huyện Q, tỉnh
Hà Giang, gửi cho Công ty TNHH V1; đăng tải trên trang Quản lý phần mềm về
đấu giá tài sản của Bộ Tư pháp. Hết thời hạn đăng ký tham gia đấu giá theo Thông
báo số 28/TB-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 của Trung tâm D chỉ có duy nhất 01
khách hàng ký và đủ điều kiện tham gia buổi công bố giá là Công ty CP G - nguyên
đơn trong vụ án.
Căn cứ Điều 49, Luật Đấu giá tài sản 2016 và Khoản 1, Điều 14 của Quy
chế số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản.
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã có công văn số 53/TTDVĐGTS ngày
30/5/2023 về việc bán tài sản đáu giá trong trường hợp có 01 người gửi đến V để
xin ý kiến. Ngày 31/5/2023, Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản nhận được Công
văn số 304/CV-CNTQ-TH ngày 30/5/2023 của V về việc bán tài sản đấu giá trong
trường hợp có 01 người, theo đó V đã nhất trí để Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài
sản bán tài sản nêu trên cho 01 khách hàng đã đăng ký tham gia đấu giá, nộp phiếu
trả giá, nộp đủ tiền đặt trước và giả trá ít nhất bằng giá khởi điểm theo quy định
của Luật đấu giá tài sản và Quy chế đấu giá tài sản.
Được s nhất trí về việc bán tài sản của V chi nhánh T5, Trung tâm đã lập
Biên bản bán tài sản đấu giá số 19/BB- ĐGTS ngày 31/5/20203 để công nhận tài
sản được bán cho Công ty cổ phần G với giá đã trả theo Phiếu trả giá ngày 29/5/2023
là 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng). Tại Biên bản bán tài sản đấu giá số
19/BB- ĐGTS ngày 31/5/20203 của Trung tâm D (là Biên bản ghi nhận lại quá
trình tổ chức buổi công bố giá đối với tài sản đấu giá đã được trả giá và thông báo
công khai trước đó) đã ghi nhận tài sản đấu giá là Tài sản bảo đảm tiền vay của V
chi nhánh thành phố T5 đã được nêu rõ ràng tại Thông báo số 28/TB-TTDVĐGTS
ngày 16/5/2023 về việc đấu giá tài sản và đã được Trung tâm tổ chức đấu giá, thông
báo và niêm yết công khai trước đó; đồng thời tài sản đấu giá này cũng đã được nêu
24
rõ tại Quy chế đấu giá số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 và Hợp đồng Dịch
vụ đấu giá số 90/HĐ-DVĐGTS ngày 05/9/2022 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài
sản.
Sau khi kết thúc buổi công bố giá, Trung tâm dịch vụ đấu giá đã hoàn tất các
trình t thủ tục đấu giá tài sản và phát hành Công văn số 54/TTDVĐGTS ngày
31/5/2023 về việc tổ chức đấu giá thành tài sản gửi đến V và tổ chức thanh lý Hợp
đồng Dịch vụ đấu giá tài sản theo đúng quy định của pháp luật.
Trên cơ sở hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm số 01-2022/HĐUQ –
NHCT174 ngày 22/8/2022 và hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS
ngày 05/9/2022, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã tiến hành bán đấu giá tài sản
đúng trình t, thủ tục quy định tại Điều 35, Điều 53, Điều 57 của Luật Đấu giá tài
sản năm 2016 và quy định pháp luật về đấu giá tài sản có liên quan. Do đó, có căn
cứ kết luận việc bán đấu giá tài sản được thc hiện đúng theo quy định của pháp
luật.
Việc đăng ký tham gia đấu giá và mua tài sản đấu giá của Công ty cổ phần G
hoàn toàn trên cơ sở t nguyện, bình đẳng, không có bất kỳ s ép buộc, đe dọa hay
cưỡng ép nào từ phía Trung tâm dịch vụ đấu giá hoặc người có tài sản. Cụ thể:
Tại Phiếu đăng ký đấu giá ngày 18/05/2023 của Công ty CP G (nay là Công
ty CP G) có nêu rõ:
“Sau khi nghiên cứu Quy chế đấu giá số 26/QC-TTDVĐGTS ngày 16/5/2023
của Trung tâm D – Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang, và xem kỹ tài sản đấu giá, cũng
như căn cứ pháp lý tài sản.
Đơn vị chúng tôi đăng ký đấu giá: Tài sản bảo đảm tiền vay của V Chi nhánh
T5, bao gồm: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình
của Dự án Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm được xây dựng tại thôn N, xã
T, huyện Q, tỉnh Hà Giang; Các quyền, lợi ích, khoản thanh toán mà Công ty
TNHH V1 có thể nhận được liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất thuộc Dự án Nhà máy G1; Toàn bộ hệ thống máy móc thiết bị thuộc Dự án
Nhà máy G1; Các thiết bị, linh kiện, phụ tùng, phụ kiện, thiết bị liên lạc, thiết bị
định vị, các thiết bị khác được lắp đặt cho và gắn liền vào tài sản thuộc Dự án;
Các quyền, lợi ích, các khoản bồi hoàn và các khoản thanh toán mà Công ty TNHH
V1 có thể nhận được liên quan đến bất kỳ tài sản nào thuộc Dự án Nhà máy G1”.
Tại Phiếu trả giá gián tiếp ngày 29/5/2023 của Công ty cổ phần G; cũng đã
trả giá cho tài sản là: Tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng V chi nhánh T5 theo
Thông báo số 28/TB - TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 của Trung tâm D. (Bao gồm:
Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là toàn bộ các hạng mục công trình của Dự án
Nhà máy G1, công suất 75 triệu viên/năm được xây dựng tại thôn N, xã T, huyện
Q, tỉnh Hà Giang......); Giá khởi điểm: 50.000.000.000đồng (Năm mươi tỷ đồng);
M trả giá mua tài sản: 50.000.000.000đồng (Năm mươi tỷ đồng).
Tại Phiếu đăng ký xem tài sản ngày 18/5/2023 của Công ty Cổ phần G cũng
khẳng định đã xem kỹ tài sản đấu giá sau khi xem xét Thông báo số 28/TB -
TTDVĐGTS ngày 16/5/2023 và Quy chế đấu giá số 26/QC-TTDVĐGTS ngày
16/5/2023 của Trung tâm Dịch vụ đấu giá tài sản
Như vậy, khi xác định đăng ký tham gia đấu giá và mua tài sản đấu giá,
người đăng ký tham gia đấu giá hoàn toàn nắm rõ các thông tin về tài sản đấu giá,
25
các căn cứ pháp lý và nguồn gốc của tài sản đấu giá (bao gồm các Hợp đồng thế
chấp, chứng thư thẩm định giá; hoá đơn, chứng từ liên quan đến tài sản ...), đã
được xem tài sản đấu giá trước khi đăng ký tham gia đấu giá và tài sản được xác
định rõ ràng là tài sản bảo đảm tiền vay của V chi nhánh T5 là Toàn bộ tài sản gắn
liền với đất và các hạng mục công trình ..... thuộc D án Nhà máy G1.
Tại Điều 8 Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày
05/6/2023 với V, Công ty cổ phần G cam kết:
“...2.2. Đã xem xét kỹ, biết rõ về hiện trạng tài sản là Toàn bộ Dự án Nhà
máy G1 nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này và các giấy tờ về quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
2.3 Việc giao kết Hợp đồng này hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa đối,
không bị ép buộc”.
Như vậy, Công ty CP G đã xem kỹ tài sản đấu giá cũng như hồ sơ pháp lý
d án, đã xem thc tế tài sản và tài sản đấu giá được Công ty CP G xác định rõ là
tài sản bảo đảm tiền vay của Ngân hàng V - chi nhánh T5. Việc đăng ký tham gia
đấu giá và trả giá của Công ty cổ phần G hoàn toàn trên cơ sở t nguyện, bình
đẳng, không có bất kỳ s ép buộc, đe dọa hay cưỡng ép nào. Do đó, Trung tâm
dịch vụ đấu giá không phải chịu trách nhiệm từ s t nguyện này, không thể lấy lý
do Trung tâm đấu giá làm sai lệch thông tin đấu giá để đẩy trách nhiệm cho Trung
tâm dịch vụ đấu giá.
Thứ tư: Liên quan đến việc xác định điều kiện để đăng ký tham gia đấu giá
khi mua tài sản gắn liền với đất thuê (thu tiền thuê đất hàng năm) theo quy định
của khoản 2 Điều 189 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ tại khoản 3 Điều 189 Luật Đất đai năm 2013 có quy định rõ về việc
người sử dụng đất khi nhận chuyển nhượng tài sản gắn liền với đất thuê phải sử
dụng đất đúng mục đích đã được xác định trong d án trước đó: "3. Người mua tài
sản được Nhà nước tiếp tục cho thuê đất trong thời hạn sử dụng đất còn lại theo
giá đất cụ thể, sử dụng đất đúng mục đích đã được xác định trong dự án....".
Do vậy, sau khi trúng đấu giá tài sản gắn liền với đất, người trúng đấu giá
chỉ được sử dụng đất để thc hiện D án đầu tư Nhà máy G1. Để tiếp tục sử dụng
đất đúng mục đích là thc hiện d án đầu tư Nhà máy G1 thì người trúng đấu giá
phải thc hiện các trình t thủ tục theo quy định của pháp Luật Đầu tư sau khi
trúng đấu giá tài sản gắn liền với đất.
Trên cơ sở quy định trên. Trung tâm đấu giá đã xác định rõ ràng điều kiện
đăng ký tham gia đấu giá trong Hợp đồng Dịch vụ đấu giá và Quy chế đấu giá tài
sản.
Tại Quy chế đấu giá đã xác định đối tượng được đăng ký tham gia đấu là: Doanh
nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật có Giấy chứng nhận đăng ký
doanh nghiệp, trong đó có đăng ký ngành nghề kinh doanh phù hợp với d án đầu
tư thuộc đối tượng được mua tài sản gắn liền với đất thuê của Nhà nước theo khoản
2 Điều 189 Luật Đất đai 2013 quy định về Điều kiện mua tài sản gắn liền với đất
được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm:
"...2. Người mua tài sản gắn liền với đất thuê phải bảo đảm các điều kiện
sau đây:
a) Có năng lực tài chính để thực hiện dự án đầu tư;
26
b) Có ngành nghề kinh doanh phù hợp với dự án đầu tư;
c) Không vi phạm quy định của pháp luật về đất đai đối với trường hợp đã
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án trước đó".
Căn cứ theo quy định trên thì trước hết người mua tài sản gắn liền với đất
phải đáp ứng các điều kiện cơ bản theo quy định của pháp luật đất đai để sau khi
trúng đấu giá có thể thc hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đảm
bảo sử dụng đất đúng mục đích, đúng quy hoạch đã được phê duyệt theo quy định
tại khoản 3 điều 189 Luật Đất đai 2013: "3. Người mua tài sản được Nhà nước
tiếp tục cho thuê đất trong thời hạn sử dụng đất còn lại theo giá đất cụ thể, sử
dụng đất đúng mục đích đã được xác định trong dự án".
Do vậy, để mua tài sản gắn liền với đất thuê thì người mua phải có năng lc
tài chính và ngành nghề kinh doanh phù hợp với D án Nhà máy G1 (Theo quy
định tại Điều 189 Luật Đất đai năm 2013). Đây là một trong những điều kiện ban
đầu để người trúng đấu giá tài sản gắn liền với đất thuê cụ thể là Công ty cổ phần
G có thể tiếp tục thc hiện D án đầu tư là Nhà máy G1 theo quy định của pháp
luật đầu tư.
Như vậy, việc Trung tâm quy định rõ đối tượng được đăng ký tham gia đấu
giá là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật đất đai, đảm bảo s đồng bộ,
thống nhất giữa pháp luật đất đai và pháp luật đầu tư; tạo điều kiện thuận lợi cho
người trúng đấu giá thc hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật đầu tư để
tiếp tục thc hiện d án đầu tư sau khi trúng tài sản gắn liền với đất thuê của nhà
nước.
Việc nguyên đơn căn cứ vào việc Trung tâm đấu giá quy định đối tượng và
điều kiện đăng ký mua tài sản gắn liền với đất thuê theo quy định của Điều 189
Luật Đất đai năm 2013 để xác định Trung tâm đấu giá đang bán D án đầu tư Nhà
máy G1 là không cơ sở.
Thứ năm: Không có căn cứ hủy kết quả đấu giá.
Căn cứ Điều 72 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định về các trường hợp
hủy kết quả đấu giá tài sản thì kết quả đấu giá theo Biên bản bán tài sản đấu giá số
19/BB- ĐGTS ngày 31/5/2023 không thuộc trường hợp bị hủy.
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản khẳng định, trình t thủ tục bán đấu giá tài
sản là tài sản bảo đảm tiền vay của V là đúng quy định của pháp luật. Giữa người
có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản và người trúng đấu giá không có thỏa
thuận về việc hủy kết quả đấu giá tài sản hoặc giữa người có tài sản đấu giá và người
trúng đấu giá về việc hủy giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy bỏ hợp
đồng mua bán tài sản đấu giá.
Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá không
bị vô hiệu, không có căn cứ hủy bỏ theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 9 và
khoản 6 Điều 33 của Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài
sản không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại khoản 6
Điều 33 Luật Đấu giá tài sản 2016.
Đồng thời, không có căn cứ cho rằng giữa người có tài sản đấu giá, người
tham gia đấu giá, người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản, đấu giá viên có hành
vi thông đồng, móc nối, dìm giá trong quá trình tham gia đấu giá dẫn đến làm sai
27
lệch thông tin tài sản đấu giá hoặc hồ sơ tham gia đấu giá hoặc kết quả đấu giá tài
sản. Do đó, không có căn cứ để hủy kết quả bán đấu giá tài sản.
Thứ sáu: Về yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá và bồi thường
thiệt hại.
Trong giao dịch mua bán tài sản đấu giá giữa V và Công ty CP G, quyền và
nghĩa vụ/trách nhiệm của các bên được xác lập, điều chỉnh theo thỏa thuận tại Hợp
đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ- MBTSĐG ngày 05/6/2023. Theo đó, tại
Điều 8 Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, quy định trách nhiệm do vi phạm nghĩa
vụ của các bên như sau:
“3. Các bên phải thực hiện nghiêm túc theo hợp đồng đã ký kết nếu bên nào
vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bên vi phạm cam kết
trong hợp đồng, gây thiệt hại cho bên còn lại thì phải bồi thường các thiệt hại phát
sinh theo quy định của pháp luật”.
Như vậy, hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa V và Công ty
CP G. Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản chỉ là đơn vị trung gian, không phải chủ
sở hữu tài sản, không tham gia ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá.
Do đó, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản không có bất kỳ quyền, nghĩa vụ và trách
nhiệm nào trong trường hợp hợp đồng mua bán tài sản đấu giá bị hủy.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lại Hoài Quang
Như trên đã phân tích, trên cơ sở Hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm
số 01- 2022/HĐUQ - NHCT174 ngày 22/8/2022 giữa Công ty TNHH V1 và V -
Chi nhánh T5 và Hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS ngày
05/9/2022, Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã tiến hành bán đấu giá tài sản theo
đúng trình t, thủ tục pháp luật. Toàn bộ hồ sơ liên quan đến tài sản đấu giá đều
được công bố công khai, đúng quy định pháp luật. Trung tâm không chịu trách
nhiệm về tình trạng tài sản, nguồn gốc và tính pháp lý của tài sản đưa ra đấu giá.
Trong suốt quá trình niêm yết tài sản bán đấu giá, ông Lại Hoài Q (thành
viên góp vốn trong Công ty TNHH V1) mặc dù biết nhưng cũng không có bất kỳ
khiếu nại hay ý kiến nào liên quan đến tài sản đấu giá.
Hơn nữa, ngày 01/6/2022, Hội đồng thành viên Công ty TNHH V1 đã thông
qua Biên bản họp Hội đồng thành viên, quyết định (i) Bán toàn bộ giá trị quyền sử
dụng đất và các hạng mục công trình xây dựng, dây chuyền máy móc thiết bị, các
công trình phụ trợ và tài sản khác cho dù tài sản đó đang được Công ty TNHH V1
sở hữu hay sẽ sở hữu trong tương lai và cho dù tài sản đó đang tồn tại hoặc sẽ
hình thành trong tương lai thuộc Dự án Nhà máy G1.
Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 55 Luật doanh nghiệp 2020 thì Hội đồng thành
viên Công ty TNHH V1 thông qua việc bán toàn bộ tài sản thế chấp là đúng quy
định pháp luật. Ông Q cũng đã tham gia họp và nhất trí thông qua, ký tên vào Biên
bản họp này.
Việc ông Lại Hoài Q cho rằng, tài sản bán đấu giá là tài sản thuộc sở hữu của
ông thì đây là tranh chấp giữa Công ty TNHH V1 và ông Q là thành viên công ty.
Nhưng ông Q lại khởi kiện Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản và V - Chi nhánh T5
là xác định sai đối tượng khởi kiện. Do đó, yêu cầu khởi kiện buộc V và Trung tâm
D phải trả lại các tài sản thuộc sở hữu của ông bị bán đấu giá là không có căn cứ.
28
Trung tâm D khẳng định rằng:
Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản đã thc hiện đúng quy trình, thủ tục pháp
luật về đấu giá tài sản;
Trong suốt quá trình đấu giá tài sản không có khiếu nại, khiếu kiện của các
cá nhân, tổ chức khác trong đó có ông Lại Hoài Q.
Trung tâm D không phải là bên bán, không chịu trách nhiệm về tính pháp lý
của tài sản.
Công ty cổ phần G đã tìm hiểu kỹ về tài sản, tham gia và xác lập giao dịch
mua bán tài sản đấu giá trên cơ sở t do, t nguyện, bình đẳng, không bị lừa dối,
ép buộc.
Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Trung tâm dịch vụ đấu giá
tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ
phần G, ông Lại Hoài Q đối với Trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản.
Vụ án trên đã được Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang thụ lý, xác
minh, thu thập chứng cứ, hòa giải nhưng không thành và đã đưa vụ án ra xét xử. Tại
Bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên xử:
1. Căn cứ vào: Các Điều 26; 35; 39; 40; 91; 147; 227; 228; 271; 273 Bộ luật
Tố tụng dân s; các Điều 423, 425, 427 Bộ luật Dân s ; Điều 72, 73 Luật Đấu giá
tài sản; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí,
lệ phí Tòa án.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần G và
ông Lại Hoài Q.
3. Tuyên hủy:
1) Kết quả trúng đấu giá tài sản theo Biên bản bán tài sản đấu giá số 19/BB-
ĐGTS ngày 31/5/2023.
2) Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/06/2023
giữa Công ty cổ phần G (nay là Công ty cổ phần G) và V - Chi nhánh T5 và Phụ lục
hợp đồng số 01/PLHĐ-MBTSĐG ngày 03/8/2023 về việc mua bán tài sản đấu giá
giữa Ngân hàng V - Chi nhánh T5 và Công ty cổ phần G (nay là Công ty cổ phần
G).
4. Buộc V hoàn trả cho Công ty cổ phần G Viên C số tiền theo Hợp đồng mua
bán sản trúng đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/06/2023 là 50.000.000.000
đồng (Năm mươi tỷ đồng);
5. Buộc V phải hoàn trả và bồi thường cho Công ty cổ phần G các khoản tiền
sau:
- Chi phí vào việc sửa chữa, cải tạo, bổ sung máy móc, thiết bị, khôi phục lại
nhà máy: 21.177.933.768 đồng.
- Chi phí quản lý, duy trì và bảo vệ d án thc tế đã chi từ tháng 4/2024 đến
tháng 2/2026: 934.161.349 đồng (Chín trăm ba mươi tư triệu, một trăm sáu mươi
mốt nghìn, ba trăm bốn mươi chín đồng).
- Lãi suất vay vốn đầu tư mua và sửa chữa, cải tạo, quản lý Nhà máy đã thanh
toán phát sinh đến ngày 28/02/2026 là: 12.189.442.843 đồng.
29
6. Công ty cổ phần G có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản cho V3 theo
biên bản xem xét tại chỗ ngày 28/01/2026 (có biên bản kèm theo).
7. Về án phí:
- Trả lại cho Công ty cổ phần G số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 96.913.377
đồng tại các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000265 ngày
03/12/2024 và số 0000274 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân s thành
phố Tuyên Quang (nay là Phòng Thi hành án dân s khu vc 1 - Tuyên Quang).
- Trả lại cho ông Lại Hoài Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 300.000 đồng tại
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069142 ngày 25/11/2024 của Chi
cục Thi hành án dân s Quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (nay là Phòng Thi hành
án dân s Khu vc 1- Hà Nội).
- V3 - Chi nhánh T5 phải chịu 192.301.538 đồng án phí dân s.
- Trung tâm D phải chịu 300.000 đồng án phí dân s sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án còn giải quyết về quyền kháng cáo của các đương s theo
quy định của pháp luật.
Ngày 04/5/2026 ông Dương Tuấn N3 là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) kháng cáo toàn bộ Bản án dân s sơ
thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 về việc “Yêu cầu hỷ kết quả trúng đấu
giá, hủy hợp đồng mua bán và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản” với lý do
việc thu thập, đánh giá chứng cứ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử không tuân
theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s; vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án dẫn tới nhận định, đánh giá, quyết định của
bản án sơ thẩm không phù hợp với quy định của pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng V.
Ngày 24/8/2026 Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang nhận được đơn kháng
cáo bổ sung của của ông Dương Tuấn N3 là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm
căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân s để hủy toàn bộ Bản án dân s sơ
thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên
Quang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần
C2 (V) trình bày: Giữ nguyên nội dung, quan điểm đã trình bày trong đơn kháng
cáo, đơn kháng cáo bổ sung, ý kiến tại Công văn số 622/CV-CNTQ-TCTH ngày
08/9/2026 và Công văn số 683/CV-CNTQ-TCTH ngày 25/9/2026 của Ngân hàng
V - Chi nhánh T5 về việc đề nghị xét xử phúc thẩm và cập nhật ý kiến đối với nội
dung kháng cáo Bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang như sau:
- Khi thụ lý và trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án dân s sơ thẩm Tòa án
cấp sơ thẩm xác định V chi nhánh T5 là bị đơn là sai tư cách tố tụng bởi vì chi nhánh
T5 là đơn vị phụ thuộc của Ngân hàng V, không có tư cách pháp nhân; việc xác
định sai tư cách bị đơn làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn
Ngân hàng V trong quá trình tham gia tố tụng ở giai đoạn chuẩn bị xét xử.
30
- Ông Lại Hoài Q là thành viên góp vốn của Công ty TNHH V1, không phải
là người đại diện theo pháp luật của công ty V1, không được công ty V1 ủy quyền
khởi kiện; khi khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội ông Q cũng
không xuất trình được tài liệu chứng minh liên quan đến tài sản đấu giá nên ông Q
không có quyền khởi kiện Trung tâm D và Ngân hàng V. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
xác định ông Lại Hoài Q là nguyên đơn trong vụ án là không đúng quy định của
pháp luật.
- Tòa án cấp sơ thẩm không xác định, bổ sung và đưa UBND tỉnh H (nay là
UBND tỉnh T) và Văn phòng C4 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan là không đúng quy định của pháp luật bởi lẽ: Ngân hàng V nhận
thấy có nhiều tài liệu, văn bản của các sở ban ngành liên quan đến quá trình giải
quyết vụ án cần UBND tỉnh giải thích, kết luận các ý kiến tham mưu của các sở ban
ngành nhưng đến nay V khẳng định chưa có một kết luận chính thức nào của cơ
quan có thẩm quyền về việc tài sản bảo đảm không đủ điều kiện bán/chuyển nhượng.
Văn phòng C4 là đơn vị tiếp nhận và công chứng Hợp đồng mua bán số 690/HĐ-
MBTSĐG ngày 05/6/2023 giữa Ngân hàng V chi nhánh T5 với Công ty G nhưng
Tòa án cấp sơ thẩm không ác minh, không làm rõ trách nhiệm của Văn phòng C4
đã ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án không khách quan, chính xác.
- Quyết định tách, nhập vụ án của Tòa án sơ thẩm là không phù hợp và đồng
nhất trong quá trình giải quyết vụ án.
- Tại Giấy ủy quyền số 06/UQ-CT ngày 01/8/2025 ông Nguyễn Phương N,
chức vụ Tổng Giám đốc công ty G ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu T tham gia phiên
tòa sơ thẩm ngày 15/8/2025 nhưng ông T tiếp tục tham gia các phiên tòa tiếp theo
là vượt quá phạm vi ủy quyền. Mặc dù trong giấy ủy quyền có nêu hiệu lc kể từ
ngày ký đến khi vụ án giải quyết xong nhưng đó chỉ là thời gian ủy quyền chứ không
phải nội dung cụ thể công việc được ủy quyền.
- Việc Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án đối
với nội dung không có trong bản án gốc, biên bản nghị án là không đúng quy định.
- Việc thu thập, đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không tuân theo
quy định của BLTTDS, không khách quan, toàn diện làm ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của V, cụ thể: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Biên bản bán đấu giá tài
sản số 19 ngày 31/5/2023; Hợp đồng mua bán tài sản số 690 ngày 05/6/2023; Biên
bản bàn giao tài sản đấu giá ngày 11/8/2023 và Báo cáo số 42 ngày 13/11/2023 của
Trung tâm dịch vụ đấu giá “chưa rõ ràng, có sự sai lệch về thông tin tài sản đấu
giá gây nhầm lẫn cho người mua thể hiện tài sản bán đấu giá là Dự án đầu tư” là
không phù hợp, bởi những tài liệu này phát sinh sau thời điểm công ty G nghiên
cứu, xem xét và quyết định đăng ký tham gia đấu giá. Tại phiếu đăng ký đấu giá
ngày 18/5/2023 Công ty G khẳng định đã xem kỹ tài sản đấu giá, cũng như căn cứ
pháp lý tài sản nhưng khi nhận định HĐXX sơ thẩm chỉ đánh giá theo hướng một
chiều các quan điểm, đề nghị của Công ty mà không đánh giá, xem xét những luận
điểm V đưa ra để bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là thiếu khách quan,
toàn diện. Công ty G cho rằng Ngân hàng V và Trung tâm D có hành vi thông đồng,
móc nối làm sai lệch hồ sơ nhưng không đưa ra được tài liệu chứng minh, hội đồng
sơ thẩm cũng không nêu cụ thể áp dụng khoản nào của Điều 72 Luật Đấu giá tài sản
năm 2020 là s thiếu sót, thiếu khách quan.
31
- Hội đồng xét xử sơ thẩm chỉ căn cứ vào kê các chứng từ, hợp đồng vay tiền
của V, A1, các doanh nghiệp, cá nhân khác do Công ty G lập, cung cấp mà chưa
yêu cầu Viên C cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh giao dịch có thc s
phát sinh, là chi phí hợp pháp liên quan đến đầu tư, sửa chữa nhà máy G1 để xác
định chi phí bồi thường là không khách quan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền
lợi của V. Qua nghiên cứu hồ sơ V nhận thấy Công ty G có dấu hiệu trục lợi; việc
xác định số tiền cần bồi thường chưa đảm bảo bởi lẽ tài sản chưa được định giá nên
chưa thể xác định việc đầu tư, sửa chữa của công ty G có làm tăng thêm hay giảm
giá trị tài sản. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào chứng từ do Viên C cung cấp
nhưng chưa xác minh làm rõ, chưa định giá tài sản là không đảm bảo. Ngoài ra, Tòa
án sơ thẩm cũng không xác định lỗi của Trung tâm D cũng làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của Ngân hàng V.
Từ những ý kiến đã nêu bị đơn Ngân hàng V nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm
đã vi phạm nghiêm trọng về tố tụng trong quá trình thu thập tài liệu và đánh giá
chứng cứ dẫn tới đánh giá, quyết định của bản án sơ thẩm không đúng quy định của
pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Ngân hàng V. Mặt
khác, V là ngân hàng có vốn Nhà nước nên trách nhiệm bảo vệ tài sản của Nhà nước
luôn được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Do đó, Ngân hàng V đề nghị Hội đồng xét
xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 BLTTDS để tuyên hủy toàn bộ
Bản án số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 cảu Tòa án nhân dân khu vc 1 – Tuyên
Quang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ
thẩm.
Nguyên đơn Công ty Cổ phần G trình bày: Trong quá trình tổ chức thc hiện
đấu giá, V (bên có tài sản đấu giá) và Trung tâm đấu giá (tổ chức đấu giá) có nghĩa
vụ trung thc , công khai về tài sản đấu giá, tình trạng pháp lý của tài sản đấu giá
để người tham gia đấu giá biết rõ. Tuy nhiên hai bên đã thông đồng làm sai lệch
thông tin về tài sản đấu giá, chỉ đưa ra thông tin có lợi mà giấu đi những sai phạm
của tài sản đấu giá nêu tại Chứng thư thẩm định số 377/2022/CT-VPG ngày
23/8/2022 và báo cáo kết quả thẩm định giá kèm theo như: “Thiếu giấy phép xây
dng, thiếu chứng nhận an toàn PCCC, thiếu chứng nhận an toàn môi trường” là vi
phạm khoản 4 Điều 72 Luật Đấu giá tài sản. Do vậy cần hủy kết quả đấu giá tài sản
và giải quyết hậu quả theo quy định tại khoản 4 Điều 72 và Điều 73 Luật Đấu giá
tài sản.
Sau khi trúng đấu giá tài sản, để tiếp tục thc hiện d án nhà máy gạch Tuynel
T công ty đã làm các thủ tục đề nghị chấp thuận điều chỉnh nhà đầu tư gửi Sở Kế
hoạch và Đầu tư, tỉnh Hà Giang. Tuy nhiên đến nay Công ty vẫn không thc hiện
được quyền của người trúng đấu giá tài sản cũng như không thc hiện được quyền
của người mua tài sản đấu giá theo Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-
MBTSĐG ngày 05/6/2023 bởi các cơ quan có thẩm quyền của tỉnh Hà Giang nhận
định d án đầu tư nhà máy G1 vi phạm pháp luật trên nhiều lĩnh vc: đất đai, đầu
tư, xây dng, môi trường, khoa học công nghệ… D án không đủ điều kiện pháp lý
để mua bán, chuyển nhượng theo quy định tại Điều 189 Luật Đất đai 2013; việc bán
đấu giá tài sản là vi phạm khoản 1 Điều 46 Luật Đầu tư năm 2020. Đồng thời, Trung
tâm đấu giá và V tổ chức đấu giá tài sản không đủ điều kiện pháp lý để giao dịch là
trái với quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản. Do đó Công ty đề nghị
32
hủy hoặc tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán tài sản hợp đồng mua bán tài sản số
690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/6/2023 và dù tuyên hủy hay vô hiệu hợp đồng mua bán
số 690 Công ty G vẫn yêu cầu Ngân hàng V bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp
đồng.
Sau khi trúng đấu giá và nhận bàn giao tài sản trúng đấu giá từ V. Do nhà
máy đã xuống cấp nên Công ty đã tiến hành cải tạo, sửa chữa nhà máy, việc thc
hiện sửa chữa ngân hàng V có biết và cũng đã chi 270 triệu đồng để hỗ trợ công ty
Đ1 mới; đồng thời tất cả các khoản chi cho việc sửa chữa đều được thanh toán qua
tài khoản của V. Khoản tiền công ty vay để đầu tư vào d án khi dán tạm dừng
không được thc hiện nhưng công ty vẫn phải chịu lãi. Vì vậy, công ty V bồi thường
cho Công ty G toàn bộ tiền mua tài sản đấu giá; tiền đầu tư cải tạo, sửa chữa nhà
máy và tiền lãi phát sinh đối với khoản tiền vay để đầu tư như bản án sơ thẩm đã
tuyên là hoàn toàn phù hợp, có căn cứ.
Cùng với toàn bộ quan điểm, ý kiến trình bày đã được Công ty G cung cấp
tại giai đoạn sơ thẩm và phúc thẩm; Công ty G nhận thấy việc thu thập, đánh giá tài
liệu chứng cứ của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang đã đảm bảo theo quy
định của pháp luật. Ngân hàng V chi nhánh T5 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác
định V chi nhánh T5 là bị đơn là không đúng bởi chi nhánh chỉ là đơn vị phụ thuộc,
không có tư cách pháp nhân; Vậy việc V chi nhánh T5 đứng đơn kháng cáo là không
đúng.
Do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu kháng cáo của
bị đơn Ngân hàng C2. Giữ nguyên bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày
23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang.
Nguyên đơn ông Lại Hoài Q trình bày: Quá trình thc hiện thủ tục bán đấu
giá tài sản là toàn bộ tài sản bảo đảm khoản tiền vay của Công ty TNHH V1 tại
Ngân hàng V chưa đảm bảo về mặt thủ tục, bởi trong số tài sản Ngân hàng bán đấu
giá có cả tài sản của cá nhân ông Q; việc ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số
690 ngày 12/8/2023 giữa Ngân hàng và Công ty G không đảm bảo theo quy định
của Luật Công chứng: Luật Công chứng quy định thời hạn công chứng không quá
02 ngày làm việc; đối với hợp đồng, giao dịch phức tạp thì không quá 10 ngày làm
việc, nhưng hợp đồng mua bán số 690 ngày 03/8/2023 được công chứng sau 59
ngày là vi phạm thời hạn công chứng điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của
ông Q vì ông Q là thành viên góp vốn của Công ty V1. Khi mua tài sản đấu giá công
ty G đã trả trước số tiền 10 tỷ đồng hết thời hạn mà phía trúng tài sản đấu giá là
công ty G không thanh toán nốt số tiền còn lại và ký hợp đồng thì số tiền trả trước
không được hoàn lại, thuộc về công ty V1 nhưng Ngân hàng V không biết vì lí do
gì vẫn cho công ty G chậm thanh toán và công chứng hợp đồng sau 59 ngày. Khi
bàn giao tài sản trúng đấu giá Ngân hàng V cho Viên C đã bàn giao cả tài sản cá
nhân của ông Q, trước đó ông Q. Nhận thấy quyền lợi của bản thân bị xâm phạm
ông Q đã khởi kiện và cho rằng những lập luận và kháng cáo của Ngân hàng V là
không có cơ sở, không có căn cứ. Do đó đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết theo
quy định của pháp luật.
Bị đơn Trung tâm D trình bày: Trung tâm dịch vụ đấu giá là tổ chức cung cấp
dịch vụ đấu giá. Sau khi nhận và nghiên cứu hồ sơ tài sản đấu giá do Ngân hàng V
chi nhánh T5 cung cấp. Trung tâm đấu giá và ngân hàng đã ký Hợp đồng dịch vụ
33
đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS ngày 05/9/2022. Sau khi ký hợp đồng dịch vụ
đấu giá Trung tâm đấu giá đã thông báo công khai, niêm yết thông báo đấu giá tài
sản theo đúng trình t, thủ tục của pháp luật về đấu giá tài sản. Tài sản đấu giá được
Ngân hàng quản lý, bảo quản cho đến khi bàn giao cho khách hàng trúng đấu giá.
Ngân hàng có trách nhiệm phối hợp với người có tài sản thế chấp bàn giao tài sản
cho người trúng đấu giá. Dịch vụ đấu giá tài sản không có trách nhiệm bàn giao tài
sản trúng đấu giá. Trong hợp đồng cũng ghi rõ Bên A (Ngân hàng V chi nhánh T5)
có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tình trạng tài sản, nguồn gốc tài sản và tính pháp lý
của tài sản đưa ra đấu giá; đối tượng, điều kiện tham gia đấu giá và niêm yết thông
báo đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình. Như vậy, Trung tâm dịch vụ đấu giá
đã thc hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp
luật, đề nghị Hội đồng xem xét, nghiên cứu, đánh giá và giải quyết vụ án theo quy
định pháp luật.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thc hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố
tụng dân s và các văn bản quy phạm pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư
ký phiên tòa đã thc hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng dân s về việc xét
xử phúc thẩm vụ án dân s.Người tham gia tố tụng đã thc hiện đúng, đầy đủ quyền
và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Người kháng cáo có quyền kháng cáo; đơn kháng cáo còn trong thời hạn luật
định và người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí dân s phúc thẩm theo quy định
của pháp luật. Nội dung đơn kháng cáo nằm trong nội dung Bản án dân s sơ thẩm
số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang,
vì vậy cần được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung: Kết quả trúng đấu giá tài sản theo biên bản bán tài sản đấu giá
số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023 bản chất là công bố giá tài sản của V chi nhánh
T5. Kết quả trúng đấu giá là căn cứ để giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá
theo Điều 46 Luật Đấu giá tài sản và không t làm phát sinh quyền sở hữu, quyền
sử dụng tài sản cho người trúng đấu giá. Tài sản đấu giá là đối tượng của Hợp đồng
mua bán tài sản đấu giá ngày 05/6/2023 nhưng không đủ điều kiện tham gia giao
dịch mua bán theo quy định tại khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai 2013, khoản 1 Điều
46 Luật Đầu tư 2020, là tài sản chưa được phép giao dịch nên Hợp đồng mua bán
tài đấu giá ngày 05/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng ngày 03/8/2023 vô hiệu toàn bộ.
Do đó cần xác định lại đúng bản chất quan hệ tranh chấp và bản chất pháp lý của
hợp đồng. Xác định hợp đồng không có hiệu lc pháp luật từ thời điểm giao kết.
Tòa án không thể tuyên "hủy" một hợp đồng vốn dĩ đã không có giá trị pháp lý từ
đầu. V đem tài sản thế chấp không đủ điều kiện pháp lý để chuyển nhượng, căn cứ
các điều 122, Điều 123, Điều 407 Bộ luật Dân s 2015 cần tuyên Hợp đồng mua
bán tài sản đấu giá vô hiệu toàn bộ và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Hợp
đồng mua bán tài sản vô hiệu nên kết quả trúng đấu tài sản không còn giá trị pháp
lý.
Căn cứ biên bản làm việc ngày 28/3/2024 của Tổ công tác UBND huyện Q;
Biên bản xem xét tại chỗ ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên
Quang đối với các tài sản mà công ty G sửa chữa cải tạo. Việc đầu tư này là thc tế,
có các d toán và hợp đồng cụ thể trong hồ sơ vụ án, đây là các tài sản gắn liền với
34
đất, không di chuyển được, đồng thời cũng làm tăng số lượng tài sản của D án so
với trước khi V3 bán đấu giá tài sản. Bản án sơ thẩm đã tách bạch các thiết bị mua
mới được sử dụng riêng cho nhà máy, được mua bán và báo cáo thuế với tên của
nhà máy, gắn liền với nhà máy, không thể mang đi sử dụng cho cá nhân là
3.198.113.485 đồng. Chi phí xây dng mới, cải tạo, sửa chữa tài sản gắn liền với
đất là 17.979.820.283 đồng. Tổng chi phí = 21.177.933.768 đồng
Đối với chi phí quản lý, duy trì và bảo vệ d án thc tế đã chi từ 4/2024 đến
hết tháng 02/2026. Sau khi Tổ công tác UBND huyện Q lập biên bản làm việc yêu
cầu tạm dừng việc đầu tư sản xuất, Công ty G vẫn phải quản lý, duy trì và bảo vệ
tài sản d án nhà máy G1 với tổng số tiền 934.161.349 đồng là có căn cứ, cần được
chấp nhận.
Trong hồ sơ vụ án, Công ty G giao nộp các hợp đồng vay của V3 - chi nhánh
T5, Ngân hàng A1 và Công ty, cá nhân. Mặc dù lãi suất cho vay của các tổ chức, cá
nhân cao hơn lãi suất V3 - chi nhánh T5 cho vay nhưng Công ty G đã đề nghị V3
bồi thường lãi suất bằng với lãi suất Công ty G vay của V3 - chi nhánh T5 từng thời
điểm là phù hợp, có căn cứ được chấp nhận. Cụ thể: Lãi vay vốn mua d án từ khi
mua dán đến ngày 28/02/2026 là 8.707.397.260 đồng; Lãi vay vốn để sửa chữa,
cải tạo nhà máy đến ngày 28/02/2026 là 3.482.045.582 đồng. Tổng chi phí lãi vay
vốn đầu tư và sửa chữa, cải tạo Nhà máy thc tế phát sinh đến 28/02/2026 là
12.189.442.843 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q không chứng minh được cụ thể tài
sản nào thuộc quyền sở hữu của ông nằm trong khối tài sản thế chấp đã được xử lý
bán đấu giá; đồng thời tại phiên tòa sơ thẩm ông Q đề nghị tách yêu cầu buộc Ngân
hàng V và Công ty G trả lại các tài sản khác thuộc sở hữu của ông thành vụ án khác.
Do đó, chưa có đủ căn cứ xác định hợp đồng mua bán tài sản đấu giá giữa V và
Công ty G trc tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của ông Q để chấp nhận yêu
cầu tuyên hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc hủy kết quả đấu giá tài sản.
Do đó phần nhận định và quyết định của bản án dân s sơ thâm số 108: “Chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần G và ông Lại Hoài Q” là chưa bảo đảm căn
cứ pháp lý.
Từ những phân tích trên thấy rằng về nội dung, bản án sơ thẩm đã giải quyết
vụ án đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên Bản án dân s sơ thẩm còn có nhiều
điểm nhận định và tuyên án chưa phù hợp như đã phân tích ở trên. Do đó cần chấp
nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản
2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân s. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của
bị đơn. Sửa một phần Bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang.
Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị đơn Ngân hàng
V không phải chịu tiền án phí dân s phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
35
Ngày 04/5/2026 ông Dương Tuấn N3 là người đại diện theo ủy quyền của bị
đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (gọi tắt là Ngân hàng V) có đơn kháng cáo
và ngày 24/8/2026 ông N3 có đơn kháng cáo bổ sung: Kháng cáo đối với toàn bộ
Bản án dân ssơ thẩm số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân
khu vc 1 - Tuyên Quang. Việc kháng cáo được thc hiện trong thời hạn luật định,
nội dung kháng cáo và quyền kháng cáo phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó
đơn kháng cáo của bị đơn là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình t phúc
thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
Công ty TNHH V1 (gọi tắt là Công ty V1) và Ngân hàng Thương mại cổ phần
C2 chi nhánh T5 (gọi tắn là Ngân hàng V) đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản hình
thành trong tương lai số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020 và
Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN ngày 05/11/2020. Trong quá trình thc hiện
hợp đồng tín dụng bên phía Công ty V1 đã vi phạm hợp đồng, không thc hiện
nghĩa vụ thanh toán nợ đúng hạn cho Ngân hàng V chi nhánh T5. Ngày 22/8/2022
Công ty V1 đã ký hợp đồng ủy quyền xử lý tài sản bảo đảm số 01-2022/HĐUQ-
NHCT174 với Ngân hàng V.
Sau khi nhận ủy quyền Ngân hàng V chi nhánh T5 đã gửi Công văn số
521/CV-CNTQ-PTH về việc bán đấu giá tài sản và hồ sơ giấy tờ kèm theo đề nghị
Trung tâm D (gọi tắt là Trung tâm đấu giá) bán đấu giá toàn bộ tài sản bảo đảm.
Nhận được hồ sơ của Ngân hàng V chi nhánh T5, Trung tâm đấu giá đã thc hiện
các thủ tục, hoạt động đấu giá tài sản theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Qua 05
lần đấu giá (trong đó có 04 lần đấu giá không thành; 01 tổ chức đấu giá thành). Lần
đấu giá thứ 5 Trung tâm đấu giá nhận được văn bản nhất trí của Ngân hàng V về
việc bán tài sản đấu giá trong trường hợp có 01 người tham gia và đã lập Biên bản
đấu giá tài sản số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023 để công nhận tài sản được bán cho
Công ty Cổ phần G (gọi tắt là Công ty G) với giá đã trả theo Phiếu trả giá ngày
29/5/2023 là 50.000.000.000đ (Năm mươi tỷ đồng). Ngày 05/6/2023 Công ty G đã
ký Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG với Ngân hàng V theo
kết quả trúng đấu giá và thc hiện đầu tư sửa chữa, cải tạo, bổ sung máy móc, thiết
bị của nhà máy với số tiền là 21.177.933.768đ (Hai mươi mốt tỷ, một trăm bảy mươi
bảy triệu, chín trăm ba mươi ba nghìn, bảy trăm sáu mươi tám đồng). Ngày
31/10/2023 Công ty G nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh d án đầu tư lần 1 đến Sở Kế
hoạch và Đầu tư tỉnh H (nay là tỉnh Tuyên Quang) theo quy định tại Điều 49 Nghị
định 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ về điều chỉnh D án đầu tư
trong trường hợp nhà đầu tư nhận chuyển nhượng D án đầu tư là tài sản bảo đảm.
Ngày 15/11/2023 Công ty G nhận được Văn bản số 2649/SKHĐT-QLĐT đề ngày
10/11/2023 của Sở K thông báo chưa có đủ cơ sở để xem xét, giải quyết hồ sơ của
Công ty G. Sau đó Công ty G đã cung cấp đầy đủ các tài liệu chứng minh Công ty
G trúng đấu giá tài sản là D án đầu tư.
Ngày 08/10/2024 Công ty G tiếp tục nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh D án đầu
tư (lần 2) thì được biết Sở K đã chấm dứt d án đầu tư tại Thông báo số 1461/TB-
SKHĐT ngày 23/7/2024 trên cơ sở hồ sơ đề nghị của Công ty V1 với lý do Công ty
V1 trong quá trình thc hiện d án đã vi phạm các nguyên tắc, điều kiện đối với nhà
36
đầu tư khi thc hiện d án trong Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư và Giấy
chứng nhận đăng ký đầu tư cụ thể: “Triển khai đầu tư xây dng các hạng mục công
trình nhưng chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, dẫn đến việc đầu tư xây dng các hạng
mục công trình của dán (hình thành tài sản trên đất) không đúng quy định của
pháp luật về quy hoạch, đầu tư xây dng, chưa đủ điều kiện để hoạt động sản xuất,
kinh doanh; đồng thời đã sử dụng đất không đúng phạm vi, ranh giới khu đất được
UBND tỉnh cho thuê đất, xây dng không đúng quy hoạch chi tiết đã được phê
duyệt; không đáp ứng điều kiện về thế chấp quyền sử dụng đất đối với trường hợp
thuê đất trả tiền hàng năm theo quy định của Luật Đất đai năm 2013”. Theo hồ sơ
đấu giá Công ty G mua là d án đầu tư nhưng V xác định tài sản bảo đảm là “tài sản
gắn liền với đất không phải là d án đầu tư”. Công ty G cho rằng V và Trung tâm
đấu giá tài sản cố tình thông đồng, móc nối làm sai lệch hồ sơ, dẫn đến s nhầm lẫn
cho bên mua tài sản đấu giá; Công ty G là người thứ ba ngay tình có được tài sản
thông qua hình thức đấu giá đã đầu tư hàng chục tỷ đồng nhưng d án không được
tiếp tục triển khai, công ty đang bên bờ vc phá sản. Do đó Công ty G đã khởi kiện
yêu cầu:
1) Tuyên hủy kết quả trúng đấu giá tài sản theo: Biên bản bán tài sản đấu giá
số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023.
2) Tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày
05/06/2023 giữa Công ty G và Ngân hàng V.
3) Buộc Ngân hàng V chi nhánh T5 trả lại Công ty cổ phần G số tiền đã nhận
theo Hợp đồng mua bán tài sản trúng đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày
05/06/2023 là 50.000.000.000đồng (Năm mươi tỷ đồng);
4) Buộc Ngân hàng V chi nhánh T5 phải bồi thường thiệt hại thc tế đã phát
sinh, gồm: Số tiền chi phí đầu tư mua mới, xây dng mới, sửa chữa, cải tạo
21.622.736.470 đồng; chi phí quản lý, duy trì, bảo vệ 934.161.349 đồng và chi phí
lãi vay vốn đầu tư và sửa chữa, cải tạo Nhà máy thc tế phát sinh đến 28/02/2026
là 12.189.442.843 đồng.
Ông Lại Hoài Q là thành viên góp vốn trong Công ty V1 - Chủ đầu tư d án
Nhà máy G1 (có địa chỉ tại thôn N, xã T, huyện Q, tỉnh Hà Giang). Trong quá trình
thc hiện Dán, Công ty TNHH V1 có ký kết hợp đồng tín dụng số 668/2020 ngày
25/8/2020 và số 68/2021 ngày 01/9/2021 với Ngân hàng TMCP C2 - chi nhánh T5.
Tài sản thế chấp là các hạng mục công trình và hệ thống máy móc thiết bị thuộc D
án Nhà máy G1 theo Hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
99/2020 và số 100/2020 ngày 05/11/2020; cùng một số tài sản thế chấp của bên thứ
3 để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ khoản vay của Công ty TNHH V1 nhưng do dịch C1
nên Công ty V1 không thc hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng
V chi nhánh T5 nên đã ủy quyền cho Ngân hàng V chi nhánh T5 và Trung tâm đấu
giá bán đấu giá tài sản bảo đảm để thu hồi nợ nhưng trong quá trình thc hiện bán
đấu giá tài sản Ngân hàng V chi nhánh T5 và Trung tâm đấu giá đã không thc hiện
đúng quy định của pháp luật trong quá trình bán đấu giá tài sản, không đăng thông
báo đấu giá công khai và niêm yết việc đấu giá theo quy định tại Điều 35 và Điều
57 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 nên không có người đăng ký tham gia đấu giá.
Việc này đã làm cho tài sản đấu giá phải hạ giá (từ 71 tỷ đồng giá khởi điểm ban
đầu phải hạ giá xuống còn 50 tỷ đồng) và phải qua 5 lần bán đấu giá mới có người
37
mua. Mặt khác, trong quá trình bán đấu giá tài sản của Công ty TNHH V1, Ngân
hàng V chi nhánh T5 đã bán đấu giá cả tài sản thuộc sở hữu cá nhân của ông Q. Cụ
thể, hạng mục Nhà điều hành do ông Q trc tiếp ký với đơn vị thi công là Công ty
TNHH M1 (có địa chỉ tại Cụm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Bình) theo Hợp đồng
kinh tế số 30012021/HDKT/MD-LHQ ngày 30/01/2021 để thi công xây dng công
trình. Ông Q cũng là người ký xác nhận giá trị khối lượng công việc hoàn thành và
trc tiếp thanh toán cho Công ty TNHH M1 bằng tiền cá nhân. Ngoài ra các tài sản
khác như máy móc, vật tư, công cụ, dụng cụ của D án Nhà máy G1 cũng là tài sản
do ông Q mua và thanh toán bằng nguồn tiền cá nhân. Tuy nhiên, các tài sản này đã
bị Ngân hàng V bán đấu giá cùng với các tài sản khác của Công ty TNHH V1. Hiện
các tài sản của ông Q đã bị Ngân hàng V bàn giao cho Công ty G quản lý, sử dụng
do đơn vị này đã trúng đấu giá tài sản. Do đó, ông Q khởi kiện để yêu cầu Tòa án
giải quyết:
1) Tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG
ngày 05/6/5023 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-MBTSĐG ngày 03/8/2023 về
việc mua bán tài sản đấu giá giữa Ngân hàng V và Công ty G. Tuyên hủy kết quả
trúng đấu giá tài sản của Trung tâm đấu giá.
2) Buộc Ngân hàng V - Chi nhánh T5 và Công ty cổ phần G trả lại các tài sản
thuộc sở hữu của ông Q đã bị bán đấu giá trái quy định của pháp luật.
Như vậy, Công ty G xác định tài sản bảo đảm khoản vay của Công ty V1 tại
Ngân hàng V mà công ty T9 đấu giá là d án Nhà máy G1 tại huyện Q, tỉnh Hà
Giang (cũ); Ngân hàng V xác định tài sản bảo đảm khoản vay là toàn bộ tài sản gắn
liền với đất hình thành trong tương lai là toàn bộ các hạng mục công trình của d
án Nhà máy G1. Đến khi nộp hồ sơ đề nghị điều chỉnh d án đầu tư nhưng không
được do d án đã chấm dứt theo đề nghị của Công ty V1. Công ty G cho rằng Ngân
hàng V, Trung tâm D đã có hành vi thông đồng cố tình làm sai lệch hồ sơ đấu giá,
tài sản đấu giá không đúng thc tế và các bên không thỏa thuận được dẫn đến tranh
chấp. Ông Lại Hoài Q xác định Ngân hàng V bán cả tài sản của cá nhân ông nên
ông đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản, hủy kết quả đấu giá và
buộc trả lại tài sản của cá nhân ông Q.
Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang xác định Công ty G, ông Lại Hoài
Q có quyền khởi kiện; xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết là đúng
quy định.
[3] Xét đơn kháng cáo của Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2 (V). Hội đồng
xét xử nhận thấy.
[3.1] Về tố tụng.
Thứ nhất, Ngân hàng V cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn là Ngân
hàng V chi nhánh T5 mà không phải Ngân hàng V là sai tư cách tố tụng vì Ngân
hàng V chi nhánh T5 không có tư cách pháp nhân dẫn tới không thông báo, tống đạt
các văn bản tố tụng cho Ngân hàng V theo thủ tục tố tụng là làm ảnh hưởng đến
quyền lợi, nghĩa vụ trong quá trình tham gia tố tụng của Ngân hàng V. Mặc dù Tòa
án cấp sơ thẩm có s nhầm lẫn về việc xác định bị đơn trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử; từ khi ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi ban hành bản án sơ thẩm
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị đơn là Ngân hàng V là đúng tư cách tố tụng, được
đưa ra quan điểm ý kiến trong suốt quá trình xét xử sơ thẩm. Bản thân Ngân hàng
38
V - Chi nhánh T5 đã tham gia tố tụng từ giai đoạn chuẩn bị xét xử, đến giai đoạn
xét xử sơ thẩm Ngân hàng V đã ủy quyền cho V - Chi nhánh T5 tham gia tố tụng
theo văn bản ủy quyền số 516/UQ-HĐQT-NHCT-PCTT3 ngày 06/6/2025; do đó
quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Ngân hàng V không bị ảnh hưởng. Nên không có
căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo này của Ngân hàng V.
Thứ hai, ông Lại Hoài Q là thành viên góp vốn của Công ty TNHH V1 nắm
giữ 1% cổ phần, mặc dù không phải là người đại diện theo pháp luật, không phải
người đại diện theo ủy quyền của công ty TNHH V1 nhưng căn cứ khoản 2 Điều 68
Bộ luật Tố tụng dân s xác định nguyên đơn trong vụ án dân s là người khởi kiện
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân s khi cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của
mình bị xâm phạm nên ông Q có quyền khởi kiện do cho rằng quyền và lợi ích hợp
pháp của mình bị xâm phạm là phù hợp quy định của pháp luật.
Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp: “Tranh chấp tuyên hủy kết
quả trúng đấu giá tài sản, tuyên hủy hợp đồng mua bán và yêu cầu bồi thường thiệt
hại về tài sản”. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, ông Q không chứng
minh được cụ thể tài sản nào thuộc quyền sở hữu của ông nằm trong khối tài sản thế
chấp đã được xử lý bán đấu giá; đồng thời tại phiên tòa sơ thẩm ông Q đề nghị tách
yêu cầu buộc Ngân hàng V và Công ty G trả lại các tài sản khác thuộc sở hữu của
ông thành vụ án khác. Do đó, chưa có đủ căn cứ xác định hợp đồng mua bán tài sản
đấu giá giữa V và Công ty G trc tiếp xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của ông
Q để chấp nhận yêu cầu tuyên hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, hủy kết quả
đấu giá tài sản. Phần nhận định và quyết định của Bản án dân s sơ thẩm số:
108/2026/DS-ST, ngày 23/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang
“Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần G và ông Lại Hoài Q” là chưa
phù hợp. Cần sửa một phần Bản án dân s sơ thẩm theo hướng: Không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của ông Lại Hoài Q về việc yêu cầu tuyên hủy Hợp đồng mua
bán tài sản bán đấu giá ngày 05/6/2023 và Phụ lục hợp đồng ngày 03/8/2023 giữa
Ngân hàng TMCP C2 chi nhánh T5 và Công ty Cổ phần G. Không chấp nhận yêu
cầu tuyên hủy kết quả đấu giá của ông Lại Hoài Q và xác định lại nghĩa vụ chịu án
phí dân s sơ thẩm của ông Q.
Thứ ba, trong vụ án này Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Giang (nay là
UBND tỉnh T) không phải là bên ký kết hợp đồng, cũng không hưởng lợi từ số tiền
đấu giá. Trách nhiệm bồi thường cũng không liên quan đến UBND tỉnh. Trong quá
trình xác minh, thu thập chứng cứ tại các cơ quan: Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở T,
Sở Khoa học và Công nghệ, Sở tài chính đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên
quan cho Tòa án trong đó có văn bản tham mưu cho UBND tỉnh H (cũ) trên cơ sở
các văn bản, quy định của pháp luật và giải thích rõ về việc tài sản bảo đảm không
đủ điều kiện được bán/chuyển nhượng. Vì vậy không cần thiết phải đưa UBND tỉnh
T và Văn phòng C4 tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan.
Thứ tư, Việc quyết định tách, nhập vụ án Tòa án cấp sơ thẩm sau đó Chánh
án quyết định nhập vụ án là đúng pháp luật và chỉ nhận định chứ không quyết định
do đó Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét nội dung này.
Thứ năm, Tại Giấy ủy quyền số 06/UQ-CT ngày 01/8/2025 ông Nguyễn
Phương N (Tổng Giám đốc công ty cổ phần G) đã ủy quyền cho ông Nguyễn Hữu
39
T thc hiện bao gồm: “1)...Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” và giấy ủy quyền có hiệu lc kể từ ngày ký đến
khi vụ án được giải quyết xong bằng bản án/quyết định có hiệu lc pháp luật. Như
vậy, ông T tham gia các phiên tòa xét xử là đúng phạm vi được ủy quyền, không vi
phạm điều cấm của luật.
Thứ sáu, trong hồ sơ vụ án chỉ có duy nhất biên bản xem xét, thẩm định tại
chỗ ngày 08/01/2026 ngoài ra không có biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
28/01/2026 hoặc biên bản có nội dung tương t khác. Sau khi phát hành bản án sơ
thẩm nhận thấy có s nhầm lẫn và cần thiết phải sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm
nên Tòa án sơ thẩm sửa chữa lại cho đúng với thc tế hồ sơ và bổ sung thêm nghĩa
vụ bàn giao tài sản là không vi phạm quy định của pháp luật.
Thứ bảy, về yêu cầu định giá tài sản của Ngân hàng V là không có căn cứ
chấp nhận bởi lẽ tại biên bản xác minh với Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Q, tỉnh Hà
Giang đã xác định chưa có cơ sở pháp lý xác định các hạng mục tài sản của nhà máy
nên việc định giá tài sản là không thể thc hiện được một cách hợp pháp, chính xác
và có giá trị sử dụng do d án vi phạm không được cấp phép để tiếp tục thc hiện
d án.
[3.2] Về nội dung:
Thứ nhất, đối với yêu cầu hủy hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Hội đồng
phúc thẩm nhận thấy:
Cùng ngày 05/11/2020 Ngân hàng V chi nhánh T5 đã ký Hợp đồng thế chấp
tài sản hình thành trong tương lai số 99/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN và hợp
đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai số
100/2020/HĐBĐ/NHCT174/PKHDN với Công ty TNHH V1. Tại thời điểm thế
chấp tài sản Công ty TNHH V1 chưa xác định được giá trị cuối cùng của d án theo
quy định của pháp luật về đầu tư xây dng Sở Xây dng đã ban hành Thông báo số
50/TB-SXD ngày 28/5/2021 về việc hồ sơ chưa đủ điều kiện thẩm định do không
phù hợp về quy mô, công suất đã được UBND tỉnh chấp thuận, Thanh tra Sở Xây
dng đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 30/QĐ-XPCPHC ngày
24/5/2021 với số tiền phạt là 35 triệu đồng và buộc áp dụng biện pháp khắc phục
hậu quả là phải lập, trình thẩm định d án đầu tư xây dng công trình theo quy định
nhưng nhà đầu tư không thc hiện. Như vậy, Công ty V1 đã vi phạm về đầu tư xây
dng theo quy định của Luật Xây dng; triển khai đầu tư xây dng các hạng mục
công trình nhưng chưa hoàn thiện thủ tục pháp lý, dẫn đến việc đầu tư xây dng các
hạng mục công trình của d án (hình thành tài sản trên đất) không đúng quy định
của pháp luật về quy hoạch, đầu tư xây dng, chưa đủ điều kiện để hoạt động sản
xuất, kinh doanh.
Việc thế chấp quyền sử dụng đất đối với trường hợp thuê đất trả tiền hàng
năm phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 188 và điểm b khoản 1 Điều 189
Luật Đất đai 2013 quy định “...b) Đã hoàn thành xây dựng theo đúng quy hoạch
xây dựng chi tiết và dự án đầu tư đã được phê duyệt, chấp thuận”. Tuy nhiên qua
các biên bản xác minh, kiểm tra thc tế các hạng mục xây dng chưa hoàn thành và
chưa được tạo lập hợp pháp. Như vậy công ty V1 đã sử dụng đất không đúng phạm
vi, ranh giới khu đất được UBND tỉnh cho thuê đất, xây dng không đúng quy hoạch
40
chi tiết đã được phê duyệt, không đáp ứng điều kiện về thế chấp với Ngân hàng V
chi nhánh T5.
Khi giao kết hợp đồng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, Ngân hàng
V chỉ căn cứ vào hồ sơ các hạng mục đã được phê duyệt chủ trương đầu tư để nhận
thế chấp nhưng khi tài sản hình thành ngân hàng không tiến hành thẩm định bổ sung,
không thẩm định về tính pháp lý tài sản thế chấp của Công ty V1 dẫn đến khi công
ty V1 không có khả năng trả nợ Ngân hàng V đem tài sản thế chấp là các hạng mục
công trình của d án (hình thành tài sản trên đất) không đúng quy định của pháp
luật về quy hoạch, đầu tư xây dng, chưa đủ điều kiện để hoạt động sản xuất, kinh
doanh của công ty V1 bán đấu giá để thu hồi nợ là vi phạm khoản 11 Điều 5 Luật
Đấu giá tài sản: “...11. Tài sản đấu giá là tài sản được phép giao dịch theo quy định
của pháp luật”.
- UBND tỉnh phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Quyết định
số 741/QĐ-UBND ngày 14/5/2020; D án thuộc trường hợp cấp giấy phép môi
trường nhưng nhà đầu tư chưa nộp hồ sơ cấp Giấy phép môi trường theo quy định.
(Biên bản xác minh bút lục số 2024). Mặt khác, công ty TNHH V1 cũng chưa được
cấp phép khai thác khoáng sản.
Trong Báo cáo kết quả thẩm định giá số: 337/2022/BC-VPG ngày 23 tháng 8
năm 2022 của Công ty TNHH T8 cho khách hàng yêu cầu là Ngân hàng TMCP C2
chi nhánh T5 để phục vụ cho việc bán đấu giá tài sản của Ngân hàng V chi nhánh
T5; tại điểm 2.1.1. Hồ sơ do khách hàng cung cấp; khoản 2.1. Đặc điểm kinh tế - kỹ
thuật tài sản thẩm định giá thuộc mục 2. Mô tả tài sản - Đánh giá hồ sơ ghi rõ:
+ Thiếu Giấy phép xây dng nhà máy.
+ Thiếu Giấy chứng nhận an toàn PCCC.
+ Thiếu Giấy chứng nhận an toàn bảo vệ môi trường.
Ngân hàng V chi nhánh T5 là đơn vị cung cấp hồ sơ giấy tờ của tài sản bán
đấu giá cho Trung tâm dịch vụ đấu giá trong đó có Báo cáo kết quả thẩm định giá
nêu rõ hồ sơ d án chưa đầy đủ thủ tục pháp lý. Mặc dù Ngân hàng cho rằng tài sản
đem ra bán đầu giá tài sản thuộc/của d án chứ không phải là d án đầu tư nên thời
điểm bán đấu giá tài sản đủ điều kiện để bán nhưng Ngân hàng buộc phải biết việc
tài sản hình thành trên d án khi d án chưa đủ điều kiện, chưa đủ giấy tờ pháp lý
thì tài sản hình thành trên cơ sở d án là hình thành trái phép, không được phép giao
dịch chuyển nhượng. Trong hợp đồng dịch vụ bán tài sản đấu giá đã nêu rõ Bên A
(Ngân hàng V chi nhánh T5) “có nghĩa vụ chịu trách nhiệm về tình trạng tài sản,
nguồn gốc tài sản và tính pháp lý của tài sản đưa ra đấu giá”; việc Ngân hàng bán
đấu giá tài sản không đủ điều kiện hoàn toàn là lỗi của ngân hàng và vi phạm quy
định tại khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai năm 2013 và khoản 1 Điều 46 Luật Đầu tư
năm 2020. Bên trúng đấu giá là Công ty G mặc dù đã được xem tài sản trước khi
đấu giá nhưng thời điểm xem tài sản công ty không được tiếp cận chứng thư thẩm
định, không có bản đồ lồng ghép hiện trạng với ranh giới sử dụng đất được phê
duyệt nên không biết được tình trạng pháp lý của tài sản nên cần xác định Công ty
không có lỗi. Do đó, Hợp đồng mua bán tài đấu giá số 690 ngày 05/6/2023 và Phụ
lục Hợp đồng số 01 ngày 03/8/2023 vô hiệu toàn bộ, không có giá trị pháp lý ngay
tại thời điểm ký kết. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên "hủy" một hợp đồng vốn dĩ đã không
có giá trị pháp lý từ đầu là chưa phù hợp, việc tuyên hủy hợp đồng áp dụng khi một
41
trong các bên ký hợp đồng có yêu cầu với điều kiện hợp đồng đó phải có giá trị pháp
lý; trường hợp này cần xác định và tuyên Hợp đồng mua bán tài đấu giá số 690 ngày
05/6/2023 và Phụ lục Hợp đồng số 01 ngày 03/8/2023 vô hiệu và giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu mới phù hợp quy định pháp luật.
Thứ hai, xem xét đối với kết quả trúng đấu giá nhận thấy: Trung tâm D căn
cứ phiếu trả giá gián tiếp ngày 29/5/2023 của Công ty G, Công văn số 304/CV-
CNTQ-TH ngày 30/5/2023 của Ngân hàng V chi nhánh T5 về việc đồng ý bán tài
sản đấu giá trong trường hợp có một người nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, nộp
phiếu trả giá và nộp đủ tiền đặt trước theo quy định để tiến hành lập biên bản bán
tài sản đấu giá số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023 là cơ sở, căn cứ để bên có tài sản
bán đấu giá Ngân hàng V chi nhánh T5 và bên trúng đấu giá Công ty G ký kết hợp
đồng mua bán tài sản trúng đấu giá chứ không mặc nhiên làm phát sinh quyền sở
hữu, quyền sử dụng tài sản trúng đấu giá cho bên trúng đấu giá. Tại Hợp đồng Dịch
vụ đấu giá tài sản số 90/HĐ-DVĐGTS cũng xác định rõ nghĩa vụ của V“Bên A có
nghĩa vụ: ... Chịu trách nhiệm về tình trạng tài sản, nguồn gốc và tính pháp lý của
tài sản đưa ra đấu giá; đối tượng, điều kiện tham gia đấu giá và niêm yết thông báo
đấu giá tài sản tại trụ sở của tổ chức mình...”.
Điều 33 Luật Đấu giá tài sản 2016 quy định: "Tổ chức đấu giá tài sản có trách
nhiệm kiểm tra giấy tờ, tài liệu về tài sản đấu giá do người có tài sản đấu giá cung
cấp và thực hiện đấu giá theo đúng thông tin đó." Do đó phía Trung tâm đấu giá tài
sản đã thc hiện đầy đủ các trình t, thủ tục bán đấu giá tài sản theo quy định và xác
định Trung tâm đấu giá không có lỗi trong việc làm Hợp đồng mua bán tài sản và
phụ lục hợp đồng mua bán tài sản vô hiệu. Ngoài ra, cần xác định Hợp đồng mua
bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/6/2026 giữa Ngân hàng V chi
nhánh T5 với Công ty G là giao dịch dân s độc lập về mặt pháp lý và phải tuân thủ
các điều kiện có hiệu lc của giao dịch dân stheo quy định của pháp luật. Biên
bản bán tài sản đấu giá số 19/BB-ĐGTS ngày 31/5/2023 là một phần cơ sở để các
bên ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá. Việc ký hợp đồng là do Ngân hàng V
chi nhánh T5 và Công ty G t nguyện ký kết, là ý chí chủ quan của các bên, không
phụ thuộc vào việc Trung tâm dịch vụ Đấu giá tài sản có đồng ý hay không.
Do có căn cứ xác định Hợp đồng mua bán tài đấu giá số 690 ngày 05/6/2023
và Phụ lục Hợp đồng số 01 ngày 03/8/2023 vô hiệu toàn bộ nên Kết quả trúng đấu
giá tài sản không còn giá trị sử dụng. Tòa án cấp sơ thẩm hủy Biên bản bán tài sản
đấu giá và kết quả trúng đấu giá là phù hợp quy định.
Thứ ba, Công ty G đã thc hiện nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá, nộp
phiếu trả giá và nộp đủ tiền đặt trước theo quy định và là bên thứ ba ngay tình có
được tài sản thông qua việc trúng đấu giá. Nhưng bên có tài sản đấu giá (Ngân hàng
V chi nhánh T5) khi nhận thế chấp từ Công ty V1 đã không thẩm định rõ tài sản bảo
đảm có đủ điều kiện thế chấp không. Khi Công ty V1 không đủ khả năng trả nợ
Ngân hàng đã tiến hành thuê trung tâm dịch vụ đấu giá tài sản Tuyên Quang đấu giá
tài sản để thu hồi nợ, do tài sản bảo đảm không đủ điều kiện chuyển nhượng dẫn
đến bên trúng đấu giá là Công ty G sau khi nhận được tài sản đã tiến hành đầu tư,
cải tạo, sửa chữa, mua sắm thiết bị mới nhưng không được đưa vào vận hành đây là
thiệt hại thc tế của Công ty G. Công ty yêu cầu bồi thường thiệt hại là có cơ sở để
xem xét. Những chi phí mà công ty yêu cầu được bồi thường gồm:
42
- Chi phí thc tế đã đầu tư sửa chữa, cải tạo, quản lý, duy trì, trông coi bảo
vệ d án nhà máy đến hết ngày 28/03/2024:
Căn cứ biên bản làm việc ngày 28/3/2024 của Tổ công tác UBND huyện Q;
Biên bản xem xét tại chỗ ngày 08/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên
Quang đối với các tài sản mà Công ty G sửa chữa cải tạo. Việc đầu tư này là thc
tế, có kiểm toán độc lập và hợp đồng cụ thể trong hồ sơ vụ án, đây là các tài sản gắn
liền với đất, không di chuyển được, đồng thời cũng làm tăng số lượng tài sản của
D án so với trước khi Ngân hàng V chi nhánh T5 bán đấu giá tài sản. Bản án sơ
thẩm đã tách bạch các thiết bị mua mới được sử dụng riêng cho nhà máy, được mua
bán và báo cáo thuế với tên của nhà máy, gắn liền với nhà máy, không thể mang đi
sử dụng cho cá nhân là 3.198.113.485 đồng. Chi phí xây dng mới, cải tạo, sửa chữa
tài sản gắn liền với đất là 17.979.820.283 đồng. Tổng chi phí là 21.177.933.768
đồng.
Đối với chi phí quản lý, duy trì và bảo vệ d án thc tế đã chi từ 4/2024 đến
hết tháng 02/2026. Sau khi Tổ công tác UBND huyện Q lập biên bản làm việc yêu
cầu tạm dừng việc đầu tư sản xuất, Công ty G vẫn phải quản lý, duy trì và bảo vệ
tài sản d án nhà máy G1 với tổng số tiền 934.161.349 đồng là có căn cứ, cần được
chấp nhận.
- Khoản tiền lãi đầu tư mua tài sản và đầu tư sửa chữa, cải tạo, quản lý, duy
trì, trông coi bảo vệ d án nhà máy đến hết ngày 28/03/2024.
Công ty G đã thế chấp luôn tài sản trúng đấu giá để đảm bảo cho khoản vay
mua tài sản đấu giá và phải chịu lãi của Ngân hàng V3 chi nhánh T5. Ngoài ra, Công
ty G vay của các tổ chức, cá nhân khác để mua tài sản đấu giá và đầu tư để hoạt
động đối với tài sản trúng đấu giá. Việc không tiếp tục thc hiện được D án nhà
máy G1 là ngoài ý muốn chủ quan của Công ty G. Việc chịu lãi đối với các khoản
vay của Công ty G là thiệt hại thc tế và cần được xem xét bồi thường là phù hợp
khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân s.
Trong hồ sơ vụ án, Công ty G giao nộp các hợp đồng vay của Ngân hàng V3
chi nhánh T5, Ngân hàng A1 và Công ty, cá nhân khác. Mặc dù lãi suất cho vay của
các tổ chức, cá nhân cao hơn lãi suất của Ngân hàng V3 chi nhánh T5 cho vay nhưng
Công ty G chỉ đề nghị Ngân hàng V3 bồi thường lãi suất bằng với lãi suất Công ty
G vay của Ngân hàng V3 chi nhánh T5 từng thời điểm là phù hợp, có căn cứ được
chấp nhận. Cụ thể: Lãi vay vốn mua d án từ khi mua d án đến ngày 28/02/2026
là 8.707.397.260 đồng; Lãi vay vốn để sửa chữa, cải tạo nhà máy đến ngày
28/02/2026 là 3.482.045.582 đồng. Tổng chi phí lãi vay vốn đầu tư và sửa chữa, cải
tạo Nhà máy thc tế phát sinh đến 28/02/2026 là 12.189.442.843 đồng.
Tại văn bản số 449/CNTQ-KHDN, ngày 04/8/2023 thông báo điều kiện cấp
tín dụng đối với Công ty cổ phần G của Ngân hàng V chi nhánh T5 do ông Phạm
Đức T4 Giám đốc Ngân hàng V chi nhánh T5 ký có nêu điều kiện trong quá trình
cấp tín dụng: “...thanh toán các chi phí đầu tư, vận hành của dự án (nếu có) qua tài
khoản công ty mở tại chi nhánh …”. Như vậy, chi phí đầu tư, cải tạo, sửa chữa; chi
phí duy trì, trông coi và lãi suất phải chịu có phát sinh trên thc và ngân hàng P vì
khi thanh toán đều được thc hiện thông qua tài khoản mở tại Ngân hàng V chi
nhánh T5; có đầy đủ hóa đơn, chứng từ và có báo cáo tài chính năm. Tòa án cấp sơ
43
thẩm chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của Công ty G là có căn cứ, đúng quy
định.
Thứ tư, trong hồ sơ vụ án chỉ có một biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 08/01/2026 do Tòa án và các cơ quan chuyên môn tiến hành, ngoài ra không
còn buổi xem xét, thẩm định tại chỗ nào khác nhưng trong bản án sơ thẩm ghi ngày
28/01/2026 là có s nhầm lẫn khi đánh máy. Tòa án cấp phúc thẩm cần xác định lại
ngày biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ được thc hiện và lưu trong hồ sơ vụ án
là ngày 08/01/2026.
Thứ năm, toàn bộ tài sản đang có tranh chấp đã có biên bản định giá tài sản
bảo đảm ngày 05/11/2020 giữa Ngân hàng V chi nhánh T5 với Công ty V1 tại thời
điểm ký hợp đồng tín dụng; Có chứng thư thẩm định giá số 377/2022/CT-VPG ngày
23/8/2022 đối với toàn bộ tài sản bảo đảm của Công ty V1 tại Ngân hàng V chi
nhánh T5; Có biên bản bàn giao tài sản đấu giá thuộc nhà máy G1 ngày 12/8/2023
và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/01/2026; tại biên bản xác minh với
Phòng Kinh tế hạ tầng huyện Q, tỉnh Hà Giang đã xác định chưa có cơ sở pháp lý
xác định các hạng mục tài sản của nhà máy nên việc định giá tài sản là không thể
thc hiện được một cách hợp pháp, chính xác và có giá trị sử dụng. Do đó, Hội đồng
phúc thẩm nhận thấy không cần thiết phải xem xét, thẩm định lại và không thể tiến
hành định giá theo yêu cầu của Ngân hàng V.
Nhận thấy Bản án sơ thẩm vẫn còn tồn tại một số thiếu sót. Tuy nhiên việc
thiếu sót không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết nội dung, bản chất của vụ án
nhưng cần rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm về những thiếu sót đã nêu ở trên.
Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị
đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V). Sửa một phần Bản án dân s sơ thẩm
số 108/2026/DS-ST ngày 23/4/2026 của Toà án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang
theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang là phù hợp quy
định của pháp luật.
[4] Về án phí dân s phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên
bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) không phải chịu tiền án phí dân s
phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần
C2 (V) số tiền tạm ứng án phí dân s phúc thẩm đã nộp.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lc kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân s.
Điều 122; Điều 131; Điều 357; Điều 468 Bộ luật Dân s năm 2015.
Điều 188 và điểm b khoản 1 Điều 189 Luật Đất đai 2013.
Khoản 11 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần
C2 (V). Sửa một phần Bản án dân s sơ thẩm số 108/2026/DS-ST, ngày 23/4/2026
của Tòa án nhân dân khu vc 1 - Tuyên Quang như sau:
44
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Hoài Q về việc yêu cầu
tuyên hủy Hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá ngày 05/6/2023 và Phụ lục hợp
đồng ngày 03/8/2023 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 chi nhánh T5 và
Công ty Cổ phần G. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lại Hoài Q về
việc hủy Kết quả trúng đấu giá tài sản theo Biên bản bán tài sản đấu giá số 19/BB-
ĐGTS ngày 31/5/2023.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần G: Tuyên Hợp đồng
mua bán tài sản đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày 05/06/2023 giữa Công ty cổ
phần G (nay là Công ty cổ phần G) và Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 chi nhánh
T5 và Phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐ-MBTSĐG ngày 03/8/2023 về việc mua bán
tài sản đấu giá giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 chi nhánh T5 và Công ty
cổ phần G (nay là Công ty cổ phần G) vô hiệu toàn bộ. Hủy Kết quả trúng đấu giá
tài sản theo Biên bản bán tài sản đấu giá số 19/BB-ĐGTS, ngày 31/5/2023.
3. Buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) hoàn trả cho Công ty cổ phần
G số tiền theo Hợp đồng mua bán tài sản trúng đấu giá số 690/HĐ-MBTSĐG ngày
05/06/2023 là 50.000.000.000 đồng (Năm mươi tỷ đồng).
Buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) phải bồi thường cho Công ty
cổ phần G các khoản tiền sau:
- Chi phí vào việc sửa chữa, cải tạo, bổ sung máy móc, thiết bị, khôi phục lại
nhà máy: 21.177.933.768 đồng (Hai mốt tỷ một trăm bảy mươi bảy triệu chín trăm
ba mươi ba nghìn bảy trăm sáu tám đồng).
- Chi phí quản lý, duy trì và bảo vệ d án thc tế đã chi từ tháng 4/2024 đến
tháng 2/2026 là 934.161.349 đồng (Chín trăm ba mươi tư triệu một trăm sáu mươi
mốt nghìn ba trăm bốn mươi chín đồng).
- Lãi suất vay vốn đầu tư mua và sửa chữa, cải tạo, quản lý Nhà máy đã thanh
toán phát sinh đến ngày 28/02/2026 là: 12.189.442.843 đồng (Mười hai tỷ một trăm
tám chín triệu bốn trăm bốn hai nghìn tám trăm bốn ba đồng).
Tổng cộng Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) có nghĩa vụ trả cho Công
ty cổ phần G số tiền 84.301.537.690 đồng (Tám mươi tư tỷ ba trăm linh một triệu
năm trăm ba mươi bảy nghìn sáu trăm chín mươi đồng).
Khoản tiền phải hoàn trả kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và bên được
thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Ngân hàng Thương mại cổ phần C2
(V) chậm thi hành thì hàng tháng phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
4. Công ty cổ phần G có nghĩa vụ bàn giao lại toàn bộ tài sản cho Ngân hàng
V theo biên bản xem xét tại chỗ ngày 08/01/2026 (có biên bản kèm theo) và Biên
bản bàn giao tài sản đấu giá thuộc nhà máy G1 ngày 12/8/2023 (có biên bản kèm
theo).
5. Về án phí dân s sơ thẩm:
- Trả lại cho Công ty cổ phần G số tiền tạm ứng án phí đã nộp: 96.913.377
đồng tại các biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000265 ngày
03/12/2024 và biên lai số 0000274 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân
s thành phố Tuyên Quang (nay là Phòng Thi hành án dân s khu vc 1 - Tuyên
Quang).
45
- Ông Lại Hoài Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí
dân s sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Q đã
nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0069142 ngày 25/11/2024
của Chi cục Thi hành án dân s quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội (nay là Phòng
Thi hành án dân s khu vc 1 - Hà Nội).
- Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) phải chịu 192.301.538 đồng (Một
trăm chín hai triệu ba trăm linh một nghìn năm trăm ba tám đồng) án phí dân s sơ
thẩm có giá ngạch.
- Trung tâm D phải chịu 300.000 đồng án phí dân s sơ thẩm.
6. Về án phí dân s phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V) không
phải chịu án phí dân s phúc thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần C2
(V) số tiền tạm ứng án phí dân s phúc thẩm đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001197 ngày 04/6/2026 của
Phòng Thi hành án dân s khu vc 1 - Tuyên Quang.
Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lc kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lc pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 26/10/2026.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
- Tòa phúc thẩm 1 TANDTC tại Hà Nội ;
- Viện phúc thẩm 1 VKSNDTC tại Hà Nội;
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- THADS tỉnh Tuyên Quang;
- THADS thành phố Hà Nội;
- Phòng THADS khu vc 1 - Tuyên Quang;
- Phòng THADS khu vc 1 – Hà Nội;
- TAND Khu vc 1 - Tuyên Quang;
- Các đương s;
- Lưu VPTA (HCTP);
- Lưu: Hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hà Văn Chương
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Ma Hồng Thắng - Triệu Ngọc
Thức
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hà Văn Chương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 66/2026/DS-PT Bản án số 66/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất