Bản án số 147/2026/HS-PT ngày 21/10/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 147/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 147/2026/HS-PT ngày 21/10/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 147/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/10/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: NGUYỄN VĂN TỊNH
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 147/2026/HS-PT Bản án số 147/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 147/2026/HS-PT Bản án số 147/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 147/2026/HS-PT
Ngày 21 - 10 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Trần Bá Nguyên
Bà Cao Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ
Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 10 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 185/2026/TLPT-HS ngày 11 tháng 8 năm
2026 đối với các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn H do có kháng cáo của các bị
cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 54/2026/HS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/11/1993 tại tỉnh Gia Lai; số căn cước công dân:
xxxxx; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn
hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; vợ:
Đặng Thị Lưu L, sinh năm 1993; con: Có 02 con, sinh năm 2016 và sinh năm 2021;
tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2025 đến ngày
16/01/2026 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có
mặt tại phiên tòa.
2. Trần Văn H, sinh ngày 05/8/1975 tại tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân:
XXXXXX; nơi cư trú: Thôn B, xã B, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ
văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Trần Văn C, sinh năm 1948 và bà Trần Thị L, sinh năm 1957;
vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1978; con: Có 02 con, sinh năm 1999 và sinh năm 2007;
tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/10/2025 đến ngày
16/01/2026 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có
mặt tại phiên tòa.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 03/3/2025, trong lúc ngồi uống nước và nói chuyện với nhau tại quán
nước thuộc thôn Đ, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Văn T và Trần Văn H đã bàn
luận về việc chơi lô đề. T rủ H ghi lô đề ăn tiền trực tiếp với mình thì H đồng ý. T đã
lập và sử dụng tài khoản Zalo đặt tên là “Bernie” kết bạn với tài khoản Zalo tên “Trần
Văn H” của H rồi cả hai thống nhất việc ghi lô đề thông qua tin nhắn Zalo và chỉ chơi
cá cược bằng hình thc “đánh lô” ở các giải x số kiến thiết Miền Trung (gọi là đài
Nam) và miền Bắc (gọi là đài Bắc) với t lệ được thua cụ thể như sau: H chọn các con
số từ 00 đến 99, đồng thời đánh với số điểm lô nhất định. Số tiền phải bỏ ra để đánh
bạc là số con số nhân số điểm và nhân với 13.500 đồng (đối với đài Nam) hoặc 23.000
đồng (đài Bắc)”. Kết quả thắng thua dựa vào 02 số cuối của tất cả các giải trong kết
quả x số, nếu trùng với chữ số mà H đã chọn thì H thắng, không trùng thì H thua. Số
tiền thắng được tính là số lần xuất hiện của con số mà H chọn nhân với số điểm đã
đánh và nhân với 70.000 đồng (đối với đài Nam) và nhân với 80.000 đồng (đối với
đài Bắc). H gửi tin nhắn con số chơi cùng số điểm cho T thì sau khi có kết quả x số
T dò kết quả x số bằng điện thoại di động rồi tính tiền thắng thua thì thông báo cho
H biết, rồi cả hai sẽ chung chi thắng thua thông qua chuyển tiền bằng dịch vụ Internet
Banking của ngân hàng, T sử dụng tài khoản ngân hàng MBBank số 5566979899999
tên NGUYEN VAN TINH, H sử dụng tài khoản ngân hàng Agribank số
5003205242422 mang tên TRAN VAN HIEP để giao dịch tiền từ việc đánh bạc.
Kết quả điều tra xác định, Nguyễn Văn T và Trần Văn H đã đánh bạc với nhau
bằng hình thc “ghi số lô” được thua bằng tiền, cụ thể như sau:
- Ngày 03/3/2025, H ghi đài Bắc các lô 54 là 2000 điểm, 00 là 2000 điểm, 99 là
1000 điểm, tng cộng là 5000 điểm, tương ng số tiền là 115.000.000 đồng và bị thua
nên H chuyển trả cho T là 70.000.000 đồng, còn nợ 45.000.000 đồng. Ngoài ra, H còn
nợ tiền cá nhân của T là 38.000.000 đồng nên T nhắn báo nợ cho H là 83.000.000
đồng. Đến ngày 04/3/2025, H chuyển trả số tiền 100.000.000 đồng bao gồm số tiền
nợ 83.000.000 đồng và 17.000.000 đồng H mượn tiền mặt của T. Thời điểm này, T
thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 115.000.000 đồng.
- Ngày 07/3/2025, H ghi đài Nam (đài Gia Lai) các lô 00 là 2000 điểm, 55 là
2000 điểm, tng cộng là 4000 điểm, tương ng số tiền là 54.000.000 đồng và thắng
lô 00 tương ng thắng 2000 điểm là 140.000.000 đồng; H ghi đài Bắc các lô 22 là
1000 điểm, 44 là 2000 điểm, 99 là 3000 điểm, tng cộng 6000 điểm, tương ng số
tiền là 138.000.000 đồng và thắng lô 44 và 99, tng thắng được 5000 điểm, tương ng
400.000.000 đồng. Tng tiền cược là 192.000.000 đồng, thắng được 540.000.000
đồng, tng tiền thắng được là 348.000.000 đồng nhưng T làm tròn thành 350.000.000
đồng cho H và chuyển trả 300.000.000 đồng cho H vào ngày 08/3/2025 (cụ thể chuyển
02 lần, lần đầu chuyển 280.000.000 đồng, lần hai chuyển 20.000.000 đồng) và vì H
còn mượn T số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 05/3/2025 nên trừ vào số tiền thắng và
3
cả hai hết nợ nhau. Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền
là 235.000.000 đồng.
- Ngày 08/3/2025, H ghi đài Nam (đài Quảng Ngãi) các lô 00 là 2000 điểm, 55
là 1000 điểm, 99 là 1000 điểm, 77 là 2000 điểm, tng ghi 6000 điểm, tương ng
81.000.000 đồng, thắng lô 00 là 2000 điểm tương ng 140.000.000 đồng; ghi đài Bắc
các lô 00 là 2000 điểm, 22 là 2000 điểm, tng ghi 4000 điểm, tương ng 92.000.000
đồng, thắng lô 22 là 2000 điểm, tương ng 160.000.000 đồng. Tng cược là
173.000.000 đồng, tng thắng là 300.000.000 đồng nên H thắng được 127.000.000
đồng và T đã trả đủ cho H vào ngày 10/3/2025. Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ
hành vi ghi số lô đề số tiền là 362.000.000 đồng.
- Ngày 09/3/2025, H ghi số đề với T nhưng nội dung tin nhắn ghi lô đề đã bị xóa
nên không rõ nội dung ghi lô đề của cả hai, nhưng căn c số tài khoản giao dịch của
hai bên và lời khai của các bị cáo thừa nhận ngày 10/3/2025 H đồng ý trả tiền ghi lô
đề thua vào ngày 10/3/2025 cho T tng cộng là 150.500.000 đồng. Thời điểm này, H
thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 211.500.000 đồng.
- Ngày 10/3/2025, H ghi lô đài Nam (đài Phú Yên) các lô 00 là 2000 điểm, 07 là
2000 điểm, 88 là 2000 điểm, 89 là 2000 điểm, tng ghi 8000 điểm, tương ng
108.000.000 đồng, thắng lô 00 và 88 là 4000 điểm, tươngng 280.000.000 đồng; ghi
đài Bắc các lô 00 là 3000 điểm, 99 là 1000 điểm, 55 là 1000 điểm, tng ghi 5000 điểm
tương ng 115.000.000 đồng, thắng lô 55 là 1000 điểm tương ng 80.000.000 đồng.
Tng cược là 223.000.000 đồng, tng thắng là 360.000.000 đồng nên H thắng được
137.000.000 đồng và T đã trả đủ cho H vào ngày 11/3/2025. Thời điểm này, H thu lợi
bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 348.500.000 đồng.
- Ngày 11/3/2025, H ghi lô đài Bắc các lô 00 là 3000 điểm, 99 là 3000 điểm, 78
là 1000 điểm, 87 là 2000 điểm, tng ghi 9000 điểm, tương ng 207.000.000 đồng,
thắng lô 87 và 99 tng 5000 điểm, tương ng 400.000.000 đồng; H thắng được
193.000.000 đồng. Đồng thời, H có ghi lô đề đài Nam nhưng tin nhắn ghi lô đề bị thu
hồi, chỉ thể hiện tng số tiền mà H thắng được từ việc ghi lô đề ngày 11/3/2025 là
112.000.000 đồng. Qua tính toán từ số tiền ghi, tiền thắng đài Bắc và tng số tiền mà
H thắng được từ việc ghi lô đề ngày 11/3/2025, tính được số tiền H ghi lô đề đài Nam
là 81.000.000 đồng. Sau đó T đã chuyển trả 112.000.000 đồng vào ngày 12/3/2025
cho H. Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 460.500.000
đồng.
- Ngày 12/3/2025, H ghi lô đài Nam (đài Khánh Hòa) các lô 00 là 3000 điểm, 11
là 2000 điểm, tng ghi 5000 điểm, tương ng là 67.500.000 đồng; ghi đài Bắc các lô
00 là 3000 điểm, 11 là 2000 điểm, tng ghi 5000 điểm, tương ng 115.000.000 đồng.
Tng thua là 182.500.000 đồng và H đã chuyển trả cho T 182.000.000 đồng vào ngày
13/3/2025, T đồng ý việc H làm tròn từ 182.500.000 đồng thành 182.000.000 đồng.
Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 278.500.000 đồng.
- Ngày 13/3/2025, H ghi đài Nam (đài Bình Định) các lô 44 là 2000 điểm, 55 là
3000 điểm, tng ghi 5000 điểm, tương ng là 67.500.000 đồng; ghi đài Bắc các lô 00
là 4000 điểm, 55 là 2000 điểm, 22 là 2000 điểm, 11 là 3000 điểm, 48 là 3000 điểm,
4
49 là 1000 điểm, tng ghi 15.000 điểm, tương ng là 345.000.000 đồng, thắng lô 49
là 1000 điểm, tương ng 80.000.000 đồng. Tng ghi là 412.500.000 đồng, thắng được
80.000.000 đồng nên H thua 332.500.000 đồng và H chuyển trả cho T số tiền
50.000.000 đồng vào ngày 14/3/2025 và nợ lại 282.500.000 đồng. Thời điểm này, T
thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 54.000.000 đồng.
- Ngày 14/3/2025, H ghi đài Nam (đài Gia Lai) các lô 22 là 3000 điểm, 98 là
3000 điểm, 99 là 4000 điểm, 77 là 2000 điểm, tng ghi 12.000 điểm, tương ng
162.000.000 đồng; ghi đài Bắc các lô 00 là 4000 điểm, 22 là 2000 điểm, 77 là 2000
điểm, 78 là 3000 điểm, 87 là 2000 điểm, 89 là 3000 điểm, tng ghi 16.000 điểm, tương
ng 368.000.000 đồng, thắng lô 22 và 78 là 5000 điểm, tương ng 400.000.000 đồng.
Tng ghi là 530.000.000 đồng, thắng được 400.000.000 đồng nên H thua 130.000.000
đồng.
Do đó H nợ T là 412.500.000 đồng (ngày 14/3/2025 thua 130.000.000 đồng và
282.500.000 đồng là tiền H nợ T ngày 13/3/2025) và T làm tròn thành 412.000.000
đồng. Ngày 15/3/2025, H chuyển trả 100.000.000 đồng nên còn nợ là 312.000.000
đồng. Sau đó, H trả cho T 200.000.000 đồng tiền mặt ở quán cà phê 90s thuộc xã Bàu
Cạn nên số nợ chỉ còn 112.000.000 đồng. Đến ngày 15/3/2025, H trả T tng cộng
300.000.000 đồng. Thời điểm này, T thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền
là 184.000.000 đồng.
- Ngày 16/3/2025, H ghi đài Nam (đài Khánh Hòa) các lô 22 là 3000 điểm, 44 là
1000 điểm, 07 là 3000 điểm, 00 là 4000 điểm, 99 là 3000 điểm, tng ghi 14.000 điểm,
tương ng 189.000.000 đồng, thắng lô 07 là 6000 điểm, tương ng 420.000.000 đồng;
ghi đài Bắc các lô 00 là 4000 điểm, 05 là 2000 điểm, 55 là 3000 điểm, 67 là 2000
điểm, 68 là 2000 điểm, tng ghi 13.000 điểm, tương ng 299.000.000 đồng, thắng lô
55, 67, 68 là 7000 điểm, tương ng 560.000.000 đồng. Tng ghi là 488.000.000 đồng,
tng thắng là 980.000.000 đồng nên H thắng được 492.000.000 đồng. Trừ tiền nợ thì
T nợ H 380.000.000 đồng. Nhưng vì H mượn tiền mặt của T là 300.000.000 đồng nên
T cấn trừ nợ của H và T còn nợ H là 80.000.000 đồng. Thời điểm này, H thu lợi bất
chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 308.000.000 đồng.
- Ngày 17/3/2025, H ghi đài Nam (đài Phú Yên) các lô 07 là 4000 điểm, 54 là
2000 điểm, 45 là 2000 điểm, 78 là 2000 điểm, 23 là 2000 điểm, tng ghi 12.000 điểm,
tương ng 162.000.000 đồng, thắng 2 lô 78 là 4000 điểm, tương ng 280.000.000
đồng; ghi đài Bắc các lô 00 là 3000 điểm, 05 là 2000 điểm, 78 là 2000 điểm, tng ghi
7000 điểm, tương ng 161.000.000 đồng, thắng lô 78 là 2000 điểm, tương ng
160.000.000 đồng. Tng ghi là 323.000.000 đồng, tng thắng là 440.000.000 đồng
nên H thắng được 117.000.000 đồng. Nhưng vì H nợ T trước đó là 120.000.000 đồng
nên H còn nợ T 3.000.000 đồng, rồi H mượn thêm 10.000.000 đồng tiền mặt nên H
chuyển trả T 13.000.000 đồng vào ngày 18/3/2025. Thời điểm này, H thu lợi bất chính
từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 425.000.000 đồng.
- Ngày 18/3/2025, H ghi đài Nam (đài Đắk Lắk) các lô 77 là 3000 điểm, 01 là
2000 điểm, 07 là 2000 điểm, tng ghi 7000 điểm, tương ng 94.500.000 đồng; ghi đài
Bắc các lô 00 là 6000 điểm, 08 là 1000 điểm, 09 là 2000 điểm, tng ghi 9000 điểm,
5
tương ng 207.000.000 đồng. Tng ghi và thua là 301.500.000 đồng. Sau đó H chuyển
trả 190.000.000 đồng rồi T lại nhắn là H nợ 111.500.000 đồng vào ngày 19/3/2025.
Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 123.500.000 đồng.
- Ngày 19/3/2025, H ghi đài Nam (đài Khánh Hòa) các lô 22 là 3000 điểm, 00 là
3000 điểm, 33 là 2000 điểm, 83 là 3000 điểm, 99 là 4000 điểm, tng ghi 15.000 điểm
tương ng 202.500.000 đồng; ghi đài Bắc các lô 00 là 6000 điểm, 22 là 3000 điểm,
77 là 2000 điểm, 89 là 3000 điểm, 98 là 2000 điểm, 08 là 2000 điểm, 09 là 3000 điểm,
tng ghi là 21.000 điểm, tương ng 483.000.000 đồng, thắng là 89, 00 là 9000 điểm,
tương ng 720.000.000 đồng. Tng ghi là 685.500.000 đồng, tng thắng là
720.000.000 đồng nên H thắng được 34.500.000 đồng. Vì còn nợ 111.500.000 đồng
nên sau khi thắng, H chỉ còn nợ là 77.000.000 đồng và H chuyển dư ra thành
77.500.000 đồng cho T và cả hai hết nợ nhau. Thời điểm này, H thu lợi bất chính từ
hành vi ghi số lô đề số tiền là 158.000.000 đồng.
- Ngày 20/3/2025, H ghi đài Nam (đài Bình Định) các lô 07 là 4000 điểm, 77 là
2000 điểm, 88 là 4000 điểm, 78 là 3000 điểm, tng ghi 13.000 điểm, tương ng là
175.500.000 đồng, thắng lô 77 là 2000 điểm, tương ng 140.000.000 đồng; ghi đài
Bắc các lô 00 là 2000 điểm, 92 là 3000 điểm, 93 là 3000 điểm, 77 là 4000 điểm, tng
ghi 12.000 điểm, tươngng 276.000.000 đồng. Tng ghi là 451.500.000 đồng, thắng
là 140.000.000 đồng nên H thua 311.500.000 đồng và nợ lại T. Thời điểm này, T thu
lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 153.500.000 đồng.
- Ngày 21/3/2025, H ghi đài Bắc các lô 00 là 8000 điểm, 22 là 2000 điểm, tng
ghi là 10.000 điểm, tương ng 230.000.000 đồng, thắng lô 22 là 2000 điểm, tương
ng 160.000.000 đồng, do đó H thua là 70.000.000 đồng. Và T báo nợ H là
381.500.000 đồng. Thời điểm này, T thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền
là 223.500.000 đồng.
- Ngày 22/3/2025, H ghi đài Bắc các lô 00 là 4000 điểm, 33 là 2000 điểm, 11
là 2000 điểm, tng ghi là 8000 điểm, tương ng với 184.000.000 đồng, thắng lô 11
là 2000 điểm, tương ng 160.000.000 đồng nên H thua 24.000.000 đồng. Thời điểm
này, T thu lợi bất chính từ hành vi ghi số lô đề số tiền là 247.500.000 đồng.
Sau đó T thông báo tng số nợ của H là 247.500.000 đồng, H đã chuyển trả cho
T 42.000.000 đồng, H còn nợ T là 205.500.000 đồng.
Sau nhiều lần T yêu cầu H trả nợ nhưng H không trả, đến ngày 03/4/2025,
Nguyễn Văn T cùng Nguyễn Quốc Hoàng và Bùi Văn Quý đến nhà rẫy của Trần Văn
H tại thôn Tây Hồ, xã Bàu Cạn, tỉnh Gia Lai để đòi nợ số tiền từ việc ghi số đề trên
nhưng H không đồng ý nên cả hai xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, sau đó T bỏ về.
Đến ngày 05/4/2025, vì T bận công việc nên tiếp tục nhờ Hoàng và Quý đến nhà
H đòi nợ. Khi đi, Hoàng, Quý rủ Phạm Minh Phúc, Trần Ngọc Thái, Nguyễn Thành
Duy cùng đi mang theo 03 con dao rựa và 01 khẩu súng. Sau khi đi đến nhà rẫy của
gia đình H thì giữa Hoàng, Quý, Duy, Thái, Phúc xảy ra mâu thuẫn với gia đình H
nên có lời qua tiếng lại rồi bỏ đi về. Sau đó, Hoàng và Quý quay lại xem H có bỏ đi
khỏi nhà không thì tiếp tục xảy ra mâu thuẫn nên Hoàng dùng 01 khẩu súng đồ chơi
6
bắn pháo n bắn 4 phát về phía Trần Minh Hiếu là con trai H và H có sử dụng 01
bình xịt hơi cay xịt vào Hoàng, Quý và Hoàng, Quý bỏ về.
Tại Bản Kết luận giám định số 386/KL-KTHS, ngày 29/4/2025, Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Khẩu súng gửi giám định là súng ngắn đồ
chơi kiểu quay, sử dụng vòng nhựa cha thuốc pháo bắn gây tiếng n. Hiện tại
khẩu súng đồ chơi nêu trên sử dụng bắn được và không thuộc danh mục vũ khí.
Tại Bản Kết luận giám định số 925/KL-KTHS ngày 17/12/2025, Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: 01 bình xịt hình trụ tròn, thân bình bằng
kim loại đen – cam có tay cầm bằng nhựa trên thân bình có dòng chữ TAKE DOWN
đựng trong hộp giấy các tông gửi giám định là phương tiện có tính năng, tác dụng
tương tự như bình xịt hơi cay, là công cụ hỗ trợ.
Tại Bản Kết luận giám định số 853/KL-KTHS ngày 02/12/2025, Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai kết luận: Không khôi phục được tin nhắn hình
ảnh và văn bản đã bị xóa của tài khoản Trần Văn H đang nhập trên ng dụng Zalo
trong điện thoại gửi giám định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2026/HS-ST ngày 01/7/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 8 – Gia Lai đã căn c điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 và
khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật
Hình sự, xử phạt các bị cáo T và H mỗi bị cáo 04 năm tù về tội “Đánh bạc”; về phần
xử lý số tiền dùng để đánh bạc và tiền thu lợi bất chính, Tòa án cấp sơ thẩm đã tịch
thu số tiền 42.000.000 đồng (bị cáo T đã nộp) để nộp ngân sách nhà nước, truy thu
đối với bị cáo T số tiền 4.640.500.000 đồng và truy thu đối với bị cáo H số tiền
4.885.500.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết
định về phần xử lý các vật chng khác của vụ án, án phí và quyền kháng cáo theo
quy định.
Ngày 10/7/2026, bị cáo T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và yêu cầu xem
xét lại số tiền bị cáo bị truy thu để nộp ngân sách nhà nước vì thực tế bị cáo chỉ thu
lợi bất chính 42.000.000 đồng và bị cáo đã tự nguyện nộp lại đầy đủ; bị cáo H kháng
cáo xin giảm nhẹ hình phạt xuống còn 03 năm tù và xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H và T giữ nguyên kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm căn c điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ
luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo T và H, giữ nguyên
bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo và phần xử lý vật chng liên
quan đến việc tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo T, H dùng để đánh
bạc và thu lợi bất chính; buộc 02 bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
7
[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có
trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chng c khác nên có đủ cơ sở xác định:
Nguyễn Văn T và Trần Văn H đều cư trú tại xã B, tỉnh Gia Lai. Vào khoảng đầu
tháng 3/2025, T rủ H ghi lô đề ăn tiền trực tiếp với mình và H đồng ý. Từ ngày
03/3/2025 đến ngày 22/3/2025 tại xã B, tỉnh Gia Lai, 02 bị cáo đã có hành vi 28 lần
đánh bạc với nhau dưới hình thc ghi số lô được thua bằng tiền, với tng số tiền
đánh bạc là 9.610.000.000 đồng.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 8 – Gia Lai đã xét xử các bị cáo T và H về tội
“Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn c, đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo nhận thc rõ hành vi
đánh bạc nhằm tạo ra thu nhập bất chính bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý
thực hiện. Hành vi đánh bạc của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực trật
tự công cộng được nhà nước bảo hộ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa
phương. Do đó, cần xử lý nghiêm, tương xng với hành vi phạm tội mà các bị cáo
gây ra.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, kháng cáo xin giảm nhẹ
hình phạt xuống còn 03 năm tù và xin được hưởng án treo của bị cáo H, Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải; đối với bị cáo T, bị cáo đã nộp số tiền 42.000.000 đồng là tiền thu lợi
bất chính từ hành vi đánh bạc, có bà nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cu nước,
trong thời gian sinh sống tại địa phương bị cáo đã tham gia các hoạt động thiện
nguyện, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, mẹ già đau ốm và có 2 em còn nhỏ
(có xác nhận của UBND xã B); đối với bị cáo H, sau khi cơ quan chc năng phát
hiện hành vi đánh bạc, yêu cầu bị cáo khai báo thì bị cáo đã tự nguyện và thành khẩn
khai báo toàn bộ hành vi phạm tội, vì vậy được xem là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự đầu thú, ngoài ra bị cáo có cha đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng
nhất. Do đó, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1
và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T cung cấp thêm đơn xin xác nhận phát hiện, tố giác
tội phạm đối với trường hợp Đặng Đình N đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của
bà Phạm Thị Mỹ Sương vào ngày 27/4/2026 tại thôn Thọ Tân Nam, xã An Nhơn
Tây, tỉnh Gia Lai (có xác nhận của Công an xã An Nhơn Tây) nên bị cáo T được
hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội đã lập công chuộc tội quy định tại
điểm u khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T còn cung cấp thêm
đơn xin xác nhận hành động người tốt, việc tốt do đã có hành vi nhặt được 01 túi
xách bên trong có 47.300.000 đồng và 01 sợi dây chuyền vàng trả lại cho bị hại (có
xác nhận của Công an xã Bàu Cạn). Riêng đối với bị cáo H thì không cung cấp thêm
tình tiết giảm nhẹ nào khác tại cấp phúc thẩm.
Xét kháng cáo về phần hình phạt của các bị cáo T và H, thấy rằng: Số lần 02 bị
cáo đánh bạc rất nhiều và kéo dài trong một khoảng thời gian rất dài, số tiền đánh
8
bạc của 02 bị cáo là cực kỳ lớn so với số tiền đánh bạc khởi điểm của khung hình
phạt bị truy tố, xét xử. Các bị cáo có 01 tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là
phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Căn
c tính chất, mc độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và các tình tiết
giảm nhẹ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H 04 năm tù là phù hợp,
đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung và đồng thời các lần phạm tội của bị cáo H
đều là tội phạm nghiêm trọng nên căn c Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày
10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình
sự thì bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Đối với bị cáo T thì trong vụ
án này, bị cáo là người vừa giữ vai trò khởi xướng và vừa là người thực hành tích
cực, sau khi cả hai phát sinh mâu thuẫn do bị cáo H nợ tiền đánh bạc của bị cáo thì
bị cáo đã đến nhà H đòi nợ và sau đó là nhờ những người khác mang theo hung khí
đến nhà bị cáo H đòi nợ gây ảnh hưởng cho sinh hoạt bình thường của gia đình bị
cáo H và an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, mặc dù tại cấp phúc thẩm bị cáo cung
cấp thêm 02 các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm u khoản 1 và khoản 2 Điều 51
của Bộ luật Hình sự chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét và đồng thời tình tiết
giảm nhẹ của bị cáo nhiều hơn bị cáo H nhưng xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử
phạt bị cáo T 04 năm tù là phù hợp và việc xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo
T là không đảm bảo tính răn đe, không tương xng với tính chất và mc độ hành vi
phạm tội của bị cáo.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo của các bị cáo T và H, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị
cáo.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo T đối với số tiền truy thu đối với bị cáo, thấy rằng:
Về phần xử lý số tiền dùng để đánh bạc và tiền thu lợi bất chính, Tòa án cấp sơ
thẩm đã tịch thu số tiền bị cáo T đã nộp 42.000.000 đồng, tiếp tục truy thu đối với
bị cáo T số tiền 4.640.500.000 đồng và truy thu đối với bị cáo H số tiền
4.885.500.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước là đúng pháp luật; bởi lẽ:
Căn c theo các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a,
b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự thì vật chng là công cụ, phương
tiện phạm tội và vật chng là tiền bạc do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân
sách nhà nước. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử tịch thu, truy thu toàn bộ số
tiền liên quan đến hành vi đánh bạc giữa 02 bị cáo T và H, bao gồm tiền mà người chơi đã
dùng để mua số lô, số đề và khoản tiền trúng thưởng (kể cả số tiền thắng cược chưa thanh
toán cho nhau) là có căn c. Số tiền truy thu nêu trên chính là số tiền gắn liền trực tiếp
với hành vi phạm tội, vừa là công cụ để thực hiện, vừa là khoản thu lợi bất hợp pháp mà
các bị cáo sẽ nhận được nếu không bị ngăn chặn kịp thời. Giữa 02 bị cáo đã có sự thỏa
thuận cụ thể về hình thc chơi, phương thc giao dịch và thời điểm thanh toán nên thuộc
trường hợp tội phạm đã hoàn thành, kết quả thắng thua thể hiện rõ mục đích ban đầu của
02 bị cáo là thu lợi bất chính từ hành vi đánh bạc. Vì vậy, việc tịch thu toàn bộ khoản tiền
liên quan đến hành vi đánh bạc nêu trên của các bị cáo T, H là phù hợp với quy định pháp
luật, đảm bảo tính răn đe, công bằng trong xử lý tội phạm.
9
Từ những phân tích trên, không có căn c để chấp nhận kháng cáo của bị cáo
T đối với số tiền truy thu của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần xử lý vật
chng liên quan đến việc tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo dùng
để đánh bạc và thu lợi bất chính.
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị T và H phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321; các điểm s, u khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị
cáo Nguyễn Văn T.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g
khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần
Văn H.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 54/2026/HS-ST ngày 01/7/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 – Gia Lai về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần
Văn H và phần xử lý vật chng liên quan đến việc tịch thu, nộp ngân sách nhà nước
số tiền các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn H dùng để đánh bạc và thu lợi bất chính.
3. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
4. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt
tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
27/10/2025 đến ngày 16/01/2026.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù
tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày
27/10/2025 đến ngày 16/01/2026.
5. Về vật chng của vụ án: Đối với số tiền dùng để đánh bạc và tiền thu lợi bất
chính:
- Tịch thu số tiền 42.000.000 đồng (bốn mươi hai triệu đồng) để nộp ngân sách
nhà nước theo biên lai thu tiền số 0001303 ngày 15/5/2026 của Thi hành án dân sự
tỉnh Gia Lai.
10
- Truy thu đối với bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 4.640.500.000 đồng (bốn t sáu
trăm bốn mươi triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
- Truy thu đối với bị cáo Trần Văn H số tiền 4.885.500.000 đồng (bốn t tám
trăm tám mươi lăm triệu năm trăm nghìn đồng) để nộp ngân sách nhà nước.
6. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T và Trần Văn H mỗi bị cáo phải chịu
200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 8 – Gia Lai;
- VKSND khu vực 8, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 8, tỉnh Gia Lai;
- Các bị cáo;
- Lưu: Tòa Hình sự; Phòng GĐ, KT, TT và THA;
HCTP; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Tiến Sỹ
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 147/2026/HS-PT Bản án số 147/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 147/2026/HS-PT Bản án số 147/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất