Bản án số 305/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 305/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 305/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 305/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị L - Đoàn Trần Anh H TCHĐCNQSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 305/2025/DS-ST Bản án số 305/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 305/2025/DS-ST Bản án số 305/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1- ĐỒNG NAI
Bản án số: 305/2025/DS - ST
Ngày: 19/09/2025
V/v: Tranh chấp Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, Hủy giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất yêu
cầu đòi lại tài sản quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Vương Thị Khánh Loan
Ông Trần Văn Chánh
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Thu Thùy - Thư tòa án nhân dân khu
vực 1- Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Nguyễn Thị Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 09 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 -
Đồng Nai xét xử thẩm ng khai vụ án dân sự thụ số: 1155/2023/TLST-DS
ngày 25 tháng 12 năm 2023 về việc Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, Hủy giấy chứng nhận quyền s dụng đất yêu cầu đòi lại tài sản
quyền sử dụng đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 368/2025/QĐXXST
DS ngày 26 tháng 08 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bùi Thị L, sinh năm 1937
Địa chỉ: Số A, tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: số A,
tổ B, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền cho L: Nguyễn Thị Phương M, sinh
năm 1993 (Giấy uỷ quyền ngày 01/11/2023).
Địa chỉ: Số E, đường F, phường B, tỉnh Đồng Nai
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho L: Luật Cao Đức Nh, sinh
m 1949 n phòng luật Cao Đức Nh Thuộc Đoàn Luật tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số E, đường F, phường B, tỉnh Đồng Nai
- Bị đơn: Ông Đoàn Trần Anh H, sinh năm: 1989
Địa chỉ: Số F (số G), tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ
cũ: số F, tổ G, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền cho ông H: Ông Bùi Văn Tôn, sinh năm
1972. (Giấy ủy quyền ngày 23/01/2024).
Địa chỉ: Số C1, ấp Ngũ P, phường N, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: C1 ấp Ngũ
P, N 3, huyện T1, tỉnh Đồng Nai).
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ủy ban nhân dân phường Long nh, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số T đường Thân Nhân T2, phường L, tỉnh Đồng Nai.
+ Phòng Công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Số S, đường Nguyễn Ái Q, phường L, tỉnh Đồng Nai.
+ Cao Thị Minh Tr
Địa chỉ: Số F (số G), tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ
cũ: số F, tổ G, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).
( M, ông T, ông Nh mặt; Tr, Văn phòng công chứng Hoàng L
vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện bản tự khai người đại diện theo uỷ quyền của
nguyên đơn Nguyễn Thị Phương M trình bày:
Ngày 06/01/2006, Bùi Thị L được y ban nhân dân thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s 078621 đối với
thửa đất số 166, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh
Đồng Nai. Tiếp tục ngày 28/02/2007, Bùi Thị L được Ủy ban nhân dân thành
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH
920865 đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: khu ph 7, phường Tân
Biên, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Từ trước đến nay, L đã tạo lập một
căn nhà nhỏ sinh sống tại thửa đất số 169, tờ bản đồ số 25, địa chỉ: Số A, tổ B,
khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: số A, tổ B, khu ph D, phường
T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai). Do L không lập gia đình, không ai nương
3
tựa, nên tuổi già sức yếu với sự giúp đỡ của 3 người cháu ruột của L tại Hoa
Kỳ thường xuyên gửi tiền về đ bà L thuê ông Đoàn Trần Anh H (người cháu họ
bên cạnh nhà) hỗ trợ chăm sóc lúc ốm đau.
Năm 2019, khi đó L tuổi đã cao (82 tuổi) sức khỏe yếu, đi lại khó khăn,
ông H trao đổi với L v việc ủy quyền để ông H thể thay mặt L thực
hiện các thủ tục với quan thẩm quyền khi cần thiết liên quan đến các quyền
sử dụng đất của L. Nghe theo lời trình bày của ông H, nhận thấy phương án
hợp cùng với sự tin ởng, L đã đồng ý thực hiện thủ tục ủy quyền cho ông
H đối với các tài sản của L thửa đất số 166 169, tờ bản đồ số 25 tọa lạc
tại: khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai ịa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành
phố H, tỉnh Đồng Nai). Khi thực hiện thủ tục ủy quyền, do quá tin tưởng ông H
cùng với tuổi già sức khỏe không đảm bảo, mắt kém, tác phong chậm chạp nên
L làm theo mọi sự chỉ dẫn của ông H không đọc hay nhờ người khác đọc nội
dung văn bản để biết hiểu trước khi tên, điểm chỉ. Sau đó, ông H nắm giữ
toàn bộ hồ công chứng bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu
trên, nên L cũng không hội để xem xét lại nội dung hồ sơ.
Năm 2019, theo lời trình bày của ông H ý định của bản thân thì L chỉ
ủy quyền cho ông H với nội dung thay mặt L làm việc với các quan nhà
nước khi phát sinh các thủ tục hành chính liên quan, chứ không chuyển nhượng,
tặng cho bất k ai. Lợi dụng sự già yếu, kém minh mẫn lòng tin của L, ông
H đã đưa thông tin sai lệch, dùng thủ đoạn gian dối làm L nhầm tưởng về nội
dung của hợp đồng để từ đó tên, điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng
không phải hợp đồng ủy quyền như lời trình bày của ông H.
L không mục đích hay do để chuyển nhượng tài sản cho ông H,
L cũng không khó khăn, thiếu thốn về kinh tế hay nhu cầu sử dụng món tiền
lớn nào đó để phải bán đi tài sản là ch duy nhất của bản thân cho ông H hay
cho bất kỳ ai. Mặt khác, bản chất mục đích của việc chuyển nhượng/mua bán
tài sản bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua; tuy nhiên tài sản nêu
trên đến nay L vẫn đang người quản lý, sử dụng, không hề chuyển giao cho
ông H cũng không nhận được bất kỳ yêu cầu chuyển giao nào từ ông H. Trong
đơn yêu cầu phản tố, ông H cũng trình bày đã thanh toán cho số tiền
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) sau khi hợp đồng chuyển nhượng được
công chứng để hoàn tất q trình mua bán tài sản. Tuy nhiên, như đã trình bày
trong đơn khởi kiện trước đó của mình; do bị ông H lừa dối, đưa thông tin sai
lệch, khiến nghĩ rằng văn bản kết là hợp đồng ủy quyền không hề hay
biết đó hợp đồng chuyển nhượng tài sản với nội dung chuyển nhượng hai tài
sản của mình cho ông H với giá 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). L
không ý định bán tài sản của cho ông H, nên L khẳng định không việc
ông H đã thanh toán bàn giao cho L số tiền 200.000.000 đồng (hai trăm
triệu đồng) n lời ông H trình bày. Trường hợp, nếu có việc thanh toán/giao
nhận tiền nêu trên thì đề nghị ông H cung cấp chứng cứ để chứng minh cho lời
trình bày này của mình. Trường hợp việc chuyển nhượng/mua bán thật t
không do để ông H chấp nhận cho L tiếp tục sử dụng tài sản không
bất kỳ điều kiện khi giữa L ông H không mối quan hệ ruột thịt,
4
L cũng không phải người khó khăn v kinh tế đ ông H rủ lòng thương cảm hay
phải nhận sự giúp đỡ từ ông H. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số
công chứng 003403, quyển s 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 giữa L
ông Đoàn Trần Anh H tại Văn phòng công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai -
văn bản đề ông H thực hiện cập nhật chủ quyền giao dịch dân sự yếu tố lừa
dối không đ điều kiện để hiệu lực theo quy định của pháp luật.
Về việc Bùi Thị L không thiếu tiền bạc để phải bán đi tài sản là thửa đất
số 166 thửa đất số 169, tờ bản đ số 25, tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng
Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) cho ông
Đoàn Trần Anh H. Đó cũng nơi duy nhất của L.
Tại Văn bản trình bày ý kiến ngày 19/05/2025, đã trình bày cung cấp
cho Tòa án xác nhận của Công ty Kiều Hối Đ về các giao dịch kiều hối đã chi trả
cho Bùi Thị L từ năm 2023 trở về trước; theo đó từ năm 2011 đến nay, Bùi
Thị L thường xuyên được những người thân đang sinh sống tại Hoa Kỳ (bao gồm
em gái, em trai các người cháu ruột) định kỳ gửi tiền về để hỗ trợ L trang
trải cuộc sống. Do đó, L mặc tuổi đã cao, đơn thân nhưng không phải
người thiếu thốn tiền bạc.
Ngoài số tiền hàng kỳ (tháng/quý) đều đặn L nhận được t người thân;
thì nhân L sau nhiều năm tích lũy cũng một khoản tiền tiết kiệm tương
đối lớn. Cụ thể, khi được số tiền tương đối lớn t L tin tưởng giao cho
Nguyễn Thị Thu Tr1 (là người em họ hàng với bà L) gần nhà thay mặt L gửi
tiết kiệm; hàng tháng L nhận tiền lãi trên số tiền gốc gửi tiết kiệm đ chi tiêu;
còn số tiền gốc khi việc cần thì L sẽ thông báo cho Tr1 đưa lại. Tính đến
trước năm 2019, L đưa cho Nguyễn Thị Thu Tr1 gửi tiết kiệm 900.000.000
đồng (chín trăm triệu đồng) thể hiện các giấy xác nhận giao nhận tiền ngày
29/03/2019, giấy xác nhận tháng 4/2019 giấy xác nhận về việc giao trả tiền
ngày 16/01/2020 giữa Bùi Thị L, ông Đoàn Văn H1 Nguyễn Thị Thu
Tr1. Theo Thu Tr1, do L biết Tr1 làm việc tại Ngân hàng rành rẽ việc gửi
tiền rút tiền; đồng thời người thân trong họ hàng nên tin tưởng gửi tiền cho
Trang như gửi tiết kiệm vừa tiền lời chắc ăn.
Sở dĩ, lấy mốc thời gian năm 2019 làm căn cứ xác định số tiền tiết kiệm
L tháng 4/2019 thời điểm phát sinh hợp đồng chuyển nhượng i
sản giữa L ông H; trong đó, ông H lập luận rằng do L cần tiền để chi tiêu,
nên đã bán tài sản cho ông H. Như đã chứng minh bằng các giao dịch kiều hối
từ năm 2011 đến năm 2023 L nhận được số tiền tiết kiệm L
được tính đến năm 2019 t ràng sở chứng minh L không phải
người thiếu thốn tiền bạc như ông H trình bày. vậy, ông H cho rằng mục đích
L bán tài sản do thiếu tiền là hoàn toàn lý, không đúng sự thật khách
quan.
Trước đây, tại Văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu phản tố của b đơn
(Văn bản ngày 24/05/2024 của L), L trình bày rằng bắt đầu từ giữa năm
2018, L nhờ gia đình ông H (cụ thể bố/mẹ ông H ông Đoàn Văn H1
Trần Thị P) qua lại chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ một số công việc hàng ngày;
5
hàng tháng bà L gửi cho bố/mẹ ông H một số tiền nhất định xem như trả công,
nên không trường hợp L mang ơn nên đã bán rẻ tài sản cho ông H n
một cách để trả nghĩa ân tình. Sự thật là, trong khoảng thời gian bố/mẹ ông H
cùng gia đình hỗ trợ chăm sóc L, t L đều đặn gửi cho bố/mẹ ông H tiền
công hỗ trợ chăm sóc; thường đưa tiền mặt; khi đưa riêng khoản tiền công
chăm sóc, khi cộng gộp các khoản chi phí khác (như tiền viện phí, tiền ăn,
tiền nhờ làm từ thiện). Tuy nhiên, do thân tình với nhau, nên L không yêu cầu
bố/mẹ ông H bất kỳ văn bản xác nhận nào khi nhận tiền do L đưa. Chỉ riêng
đối với khoản tiền do người khác thay mặt L giao cho bố/mẹ ông H, thì mới
văn bản xác nhận. Dẫn chứng xác thực nhất trong khoảng thời gian t ngày
29/03/2019 đến ngày 16/01/2020, ông Đoàn Văn H1 bố ruột của ông Đoàn Trần
Anh H đã nhận tổng số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) của bà L do
Nguyễn Thị Thu Tr1 thay mặt giao cho ông H1. Cụ thể như sau:
- Ngày 29/03/2019, nhận 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) do
Nguyễn Thị Thu Tr1 giao cho ông H1 (đính kèm giấy c nhận do ông H1
tên).
- Ngày 22/04/2019, nhận 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng)
do Nguyễn Thị Thu Tr1 giao cho ông H1 (đính kèm giấy xác nhận do ông H1
ký).
- Ngày 16/01/2020, nhận s tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi
triệu đồng) do Nguyễn Thị Thu Tr1 giao cho ông H1 (đính kèm giấy xác nhận
do ông H1 ký).
Toàn bộ bản chính giấy xác nhận giao tiền chữ nội dung xác nhận
của chính ông Đoàn Văn H1 hiện tại do Nguyễn Thị Thu Tr1 cất giữ theo
Tr1, người nhận tiền gửi từ L giao tiền cho ông H1 theo yêu cầu của
L, nên phải giữ bản chính, do đó L chỉ bản photo.
Suy xét diễn biến sự việc mối liên kết giữa L với gia đình ông H, cho
thấy rằng thời điểm tháng 4/2019 (thời điểm phát sinh hợp đồng chuyển nhượng
giữa bà L ông H) thời điểm gia đình ông H đã tạo lập được niềm tin
vững chắc đối với L, L sẵn sàng giao cho ông H1 (bố của ông H) gần n
toàn bộ khoản tiền tiết kiệm được không hề quan ngại hay ràng buộc bất
kỳ điều kiện gì. Từ bối cảnh cảnh này, thể xem thời điểm đó thời điểm thuận
lợi nhất để ông H đã lợi dụng sự tin tưởng tuyệt đối, sự già cả kém minh mẫn của
L để lừa dối L hồ chuyển nhượng nhà/đất cho mình thay hợp
đồng ủy quyền như Hóa đã trao đổi khiến L nhận thức đó chỉ việc y quyền
để ông H thể thực hiện việc giao dịch liên quan đến nhà đất của trước các
quan nhà nước khi L Hợp đồng chuyển nhượng tài sản. Lời trình bày của
ông H không sở, ngụy tạo, vẫn luôn nuôi một niềm hi vọng rằng
Tòa án sẽ xem xét thấu đáo toàn bộ sự việc để giải quyết đúng sự thật khách quan,
đúng pháp luật để bảo vệ công l phải. Đồng thời, bằng văn bản này,
cũng kính đề nghị Tòa án thực hiện việc thu thập lời khai, chứng cứ từ Nguyễn
Thị Thu Tr1; thậm chí nếu cần thiết cho tiến hành đối chất giữa Tr1 ông
Đoàn Văn H1 để xác định sự thật khách quan. Mọi chi phí phát sinh liên quan đến
6
quá trình thu thập, lấy lời khai của những người liên quan này (nếu có), L xin
chịu trách nhiệm thanh toán theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án như sau:
- Tuyên b Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003403, quyển
số 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 giữa Bùi Thị L ông Đoàn Trần
Anh H tại Văn phòng công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số CS 174081, số vào số cấp GCN: CS 11275, thửa đất số
166, tờ bản đ số 25, địa chỉ: tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ:
khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài Nguyên Môi
Trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 20/05/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà i sản khác gắn liền với
đất số CS 174082, số vào sổ cấp GCN: CS 11279, thửa đất số 169, tờ bản đồ số
25, địa chỉ: tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D,
phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh
Đồng Nai cấp ngày 20/05/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H căn c cấp giấy
chứng nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu do lừa dối.
-Về án phí nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng nguyên đơn xin tự nguyện chịu.
*Theo đơn khởi kiện bản t khai đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông
Bùi Văn Tôn trình bày:
Việc chuyển nhượng thật, không b lừa dối đã thực hiện đầy đủ các
thủ tục theo quy định của pháp luật. Cụ thể sự việc như sau:
Bùi Thị L, sinh năm 1937, bác h của ông H, sống độc thân không
con cái. sống tại căn nhà Số A, tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai ịa
chỉ cũ: số A, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai), sát vách
nhà ông H. Vào khoảng tháng 12/2018, L bị nứt xương chậu không thể tự lo
ăn uống, sinh hoạt nhân. Anh chị em ruột các cháu ruột của L đã đi định
tại Mỹ t lâu. Thương cảnh đơn chiếc, già yếu bệnh tật của bà, ông H gia
đình đã tự nguyện qua chăm sóc cho L từ ăn uống, săn sóc lúc đau bệnh, cắt cử
người ngủ cùng bà L vào ban đêm. Tất cả sự chăm sóc này hoàn toàn phát xuất từ
sự cảm thông cho hoàn cảnh của L không đòi hỏi bất kỳ một khoản chi phí
nào. Nhận thấy sự chăm sóc ân cần của ông H gia đình, L nhiều lần đề nghị
tặng cho ông H căn nhà Số A, tổ B, khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ
cũ: số A, t B, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai), tuy nhiên ông
H không đồng ý nhận tặng cho căn nhà trên từ L. Sau đó, đến khoảng tháng
04/2019, L đề nghị bán rẻ cho ông H hai thửa đất số 166 169 tờ bản đồ số
25 tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T,
thành phố H, tỉnh Đồng Nai) trên đó có căn nhà số 4/4,
Ngày 26/04/2019, ông H Bùi Thị L hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Tài sản chuyển nhượng gồm:
7
1. Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
078621 do Uỷ ban nhân dân thành phố Biên Hòa cấp ngày 06/01/2006, cụ thể:
+ Thửa đất số 166, tờ bản đồ số 25 tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai
(địa chỉ cũ: khu ph D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) diện tích: 19,7
m
2
(mười chín phẩy bảy mét vuông). Mục đích sử dụng: Đất đô thị
2. Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH
920865 do Uỷ ban nhân dân thành phố Biên Hòa cấp ngày 28/02/2007, cụ thể:
+ Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 25, địa chỉ thửa đất: khu phố C, phường L,
tỉnh Đồng Nai ịa ch cũ: khu ph D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai)
diện tích: 109,6 m
2
(một trăm lẻ chín phẩy sáu mét vuông). Mục đích sử dụng: Đất
đô thị
Giá trị chuyển nhượng các quyền sử dụng đất trên là: 200.000.000 đồng (hai
trăm triệu đồng).
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được công chứng tại Văn
phòng công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai, số công chứng 003403, quyển s
11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/04/2019. Sau đó ông H đã làm thủ tục sang tên
theo quy định. Ngày 20/05/2019, Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đồng Nai Chi
nhánh Biên Hòa đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 174081 (cho
thửa 166) Giấy chứng nhận quyền sử dụng số CS 174082 (cho thửa 169) đứng
tên Đoàn Trần Anh H.
Sau khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng, ông H đã thực hiện việc thanh
toán 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng), bà L đã nhận sau đó gửi lại cho ông
H giữ lúc này ông H đang chăm sóc L số tiền lớn, già yếu lại hay
bệnh đau phải đi bệnh viện bất thường.
Mặc việc chuyển nhượng thanh toán đã hoàn thành nhưng gia đình
ông H chưa nhu cầu nhà thương cảnh đơn chiếc, già yếu của L nên ông
H chưa yêu cầu L giao nhà đất nêu trên.
Tại phiên tòa bị đơn ý kiến như sau:
- Việc chuyển nhượng như đã trình bày trên hoàn toàn tự nguyện, không
sự gian dối đã được Công chứng viên trực tiếp thực hiện công chứng hợp
đồng chuyển nhượng theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Tòa án
không chấp nhận yêu cầu của L về việc “yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ số 003403, quyển số 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày
26/04/2019 giữa Bùi Thị L ông Đoàn Trần Anh H tại Văn phòng công
chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai hiệu".
- hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 003403, quyển số 11/TT/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 giữa Bùi Thị L ông Đoàn Trần Anh H tại
Văn phòng công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai hoàn toàn hợp pháp nên đề
nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L về việc: yêu cầu hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 174081 CS 174082 cấp ngày
20/05/2019 đứng tên Đoàn Trần Anh H.
8
Ngày 17/9/2025. Bị đơn rút đơn phản tố không yêu cầu Tòa án giải quyết.
kiến của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cao Thị Minh Tr
trình bày:
không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị L. Gia đình
đã thống nhất nội dung trình bày khi tham gia tố tụng nên tất cả lời trình bày,
cách thức tham gia tố tụng mọi quyết định của chồng ông Đoàn Trần Anh
H đều thống nhất. Đề nghị Tòa án cho phép bà được vắng mặt tất cả các buổi
làm việc xét xử, cam kết không khiếu nại về sau.
kiến của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân
phường Long Bình, tỉnh Đồng Nai, Phòng Công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng
Nai: Vắng mặt nên không ý kiến trình bày đơn xin vắng mặt.
kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
phiên tòa trong quá trình giải quyết v án kể từ khi thụ cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ Điều 167 Luật
Đất đai, Điều 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, về án phí lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Về án phí dân thẩm chi phí tố tụng khác: Bị đơn phải chịu theo quy
định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong h vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:.
[1.1] Quan hệ tranh chấp: Bùi Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố
hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất ngày 26/4/2019 hiệu hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đoàn Trần Anh H; Bị đơn ông Đoàn
Trần Anh H phản tố yêu cầu Bùi Thị L giao trả tài sản quyền sử dụng đất
nên quan hệ tranh chấp được xác định “Tranh chấp quyền sử dụng đất hủy
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đòi lại tài sản quyền sử dụng đất theo
khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Đất tranh chấp tọa lạc tại phường
T (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai. L ông H cùng tại phường T, thành
phố H, tỉnh Đồng Nai (nay phường L, tỉnh Đồng Nai) nên vụ án trên thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa (nay Tòa án
9
nhân dân khu vực 1 Đồng Nai) theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm
b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về cách đương sự: Căn cứ khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự
năm 2015 xác định Bùi Thị L nguyên đơn; ông Đoàn Trần Anh H bị đơn;
Uỷ ban nhân dân phường Long Bình, Văn phòng công chứng Hoàng L, Cao
Thị Minh Tr người quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Uỷ ban nhân dân phường Long
Bình, Văn phòng công chứng Hoàng L Cao Thị Minh Tr vắng mặt đơn
yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ
luật tố tụng dân sự t xử vắng mặt theo quy định Uỷ ban nhân dân phường Long
Bình, Văn phòng công chứng Hoàng L Cao Thị Minh Tr.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Bùi Thị L yêu cầu Tòa án tuyên
bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất s 003403 ngày 26/04/2019 giữa
Bùi Thị L ông Đoàn Trần Anh H tại Văn phòng công chứng Hoàng L, tỉnh
Đồng Nai vô hiệu; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CS 174081 đối với thửa đất số 166, t bản đồ
số 25 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CS 174082 đối với thửa đất số 169, tờ bản đồ số 25, cùng tọa
lạc: khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành
phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
20/05/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H căn cứ cấp giấy chứng nhận là Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiệu.
[2.1] Xét yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
nguyên đơn Bùi Thị L với bị đơn ông Đoàn Trần Anh H hiệu theo tài
liệu chứng cứ tại hồ phần trình bày tại phiên tòa thì thấy:
- Nguyên đơn, Bùi Thị L trình bày: Do L không lập gia đình, không có
ai nương tựa, tuổi già sức yếu; tuy nhiên được sự giúp đ của 3 người cháu
ruột của L tại Hoa Kỳ thường xuyên gửi tiền về để L thuê gia đình ông
Đoàn Trần Anh H (thực tế cha mẹ ông H bên cạnh nhà L) hỗ trợ chăm sóc
L lúc ốm đau.
Năm 2019, khi đó L tuổi đã cao (82 tuổi) sức khỏe yếu, đi lại khó khăn,
ông Đoàn Trần Anh H trao đổi với L về việc ủy quyền để ông H thể thay
mặt thực hiện các thủ tục với quan thẩm quyền khi cần thiết liên quan
đến các quyền sử dụng đất của L. Nghe hợp cũng phù hợp hoàn cảnh của
mình, L đã đồng ý thực hiện thủ tục ủy quyền cho ông H đối với các tài sản
của L thửa đất số 166 169, tờ bản đ số 25 tọa lạc tại khu phố C, phường
L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ : khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai).
Khi thực hiện thủ tục ủy quyền, do quá tin tưởng ông H cùng với tuổi g sức
khỏe không đảm bảo, mắt kém, tác phong chậm chạp, nên L làm theo mọi sự
chỉ dẫn của ông H không đọc hay nhờ người khác đọc nội dung văn bản để
hiết hiểu trước khi tên, điểm chỉ. Sau đó ông H nắm giữ toàn bộ hồ công
chứng bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên L cũng không
10
hội để xem xét lại hồ sơ. L và người đại diện theo ủy quyền của L,
Nguyễn Thị Phương M cho rằng ông H đã lợi dụng sự già yếu, kém minh mẫn
lòng tin của L, đã đưa thông tin sai lệch, dùng thủ đoạn gian dối làm L
nhầm tưởng về nội dung của hợp đồng để từ đó tên, điểm chỉ vào hợp đồng
chuyển nhượng không phải hợp đồng ủy quyền như lời trình bày của ông H
(bút lục 80).
Bị đơn ông Đoàn Trần Anh H, trình bày: “Nhận thấy sự chăm sóc ân cần của
gia đình tôi, L đã nhiều lần đề nghị tặng cho tôi căn n số A, tổ B, khu phố D,
phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; tuy nhiên tôi không đồng ý nhận tặng cho
nhà từ L. Sau đó đến tháng 4/2019, L đề nghị bán r cho tôi hai thửa đất số
166 169 tờ bản đồ số 25 phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; trên căn
nhà số A, tổ B, khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai của với giá
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) với mong muốn khoản tiền dự phòng
lúc đau bệnh cũng để cảm ơn tôi gia đình đang chăm sóc tận tình
không đòi hỏi bất kỳ chi phí nào. Tôi đã đồng ý đề nghị này của L” (trích bút
lục 80 - Văn bản trả lời của ông Đoàn Trần Anh H ngày 26/02/2024).
Trình bày trên đây của bị đơn thể hiện 02 sự việc:
1. Nguyên đơn, Bùi Thị L cần một khoản tiền dự phòng lúc đau bệnh.
2. Để cám ơn gia đình bị đơn đã chăm sóc tận tình không đòi hỏi bất
cứ chi phí nào.
Đối chiếu lời trình bày của nguyên đơn với việc giao nộp các chứng cứ liên
quan, lời trình bày của bị đơn nói trên các chứng cứ tòa án thu thập thì Hội
đồng xét xử nhận thấy:
[2.2.1] Về hoàn cảnh tài chính của L tại thời điểm giao kết Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa L ông H:
Văn bản xác nhận của Công ty Kiều hối Đ ngày 12/5/2025 gửi Bùi Thị L
(bút lục số 151, 152, 153) thể hiện tổng số tiền kiều hối từ nước ngoài gửi về
L đã nhận 34.650 USD (ba mươi bốn ngàn sáu trăm năm mươi đô la Mỹ).
Đặc biệt, tính từ đầu năm 2016 đến tháng 3/2019, trước thời điểm chuyển nhượng
nhà đất của bà L ông Đoàn Trần Anh H vào tháng 4/2019 t số tiền kiều hối
L đã nhận được từ người thân nước ngoài gửi về 23.750 USD (hai
mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đô la Mỹ); tính bình quân 609USD/tháng;
quy đổi theo thời g (từ 23.000 đồng đến 24.000đồng/01USD) thì tiền hỗ tr này
546.250.000 đồng (tỷ giá 23.000 đồng/01USD), tương ứng từ 14.000.000 đồng
đến 15.000.000 đồng/01 tháng. Với khoản tiền kiều hối người thân từ nước
ngoài gửi về hỗ trợ cho L cho thấy L hoàn toàn thể đáp ứng được cuộc
sống thể nói cao hơn nhiều so với mức bình quân của một nời dân bình
thường tại khu vực tỉnh Đồng Nai trong cùng thời kỳ.
Ngoài ra với các chứng từ, tài liệu Tòa án đã thu thập được từ Nguyễn
Thị Thu Tr1 (bút lục số: 176) thể hiện: Do chỗ họ hàng trong thân tộc biết
Tr1 làm Ngân hàng, nên L tin tưởng, gửi Tr1 số tiền tiết kiệm nhiều
đợt lên đến 900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) tính đến thời điểm năm 2019
để L lấy tiền lãi chi tiêu hàng tháng, còn khoản gốc Tr1 giữ chỉ chuyển
giao khi L yêu cầu. Do vậy vào các ngày: 29/3/2019, 22/4/2019 ngày
11
16/01/2020 theo yêu cầu của L, Tr1 đã giao cho ông Đoàn Văn H1 cha
ruột của ông Đoàn Trần Anh H tổng số tiền 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu
đồng) những lần giao tiền này đều được thực hiện ngay tại nhà L, dưới sự
chứng kiến của L.
Như đã phân tích, các chứng cứ trên thể hiện trong khoảng thời gian ký hợp
đồng chuyển nhượng nhà đất (ngày 26/4/2019) thì L hàng tháng đều khoản
tiền kiều hối từ người thân nước ngoài gửi về bình quân 14.000.000 đồng
15.000.000 đồng/tháng thì L hoàn toàn thể cuộc sống đầy đủ; chưa kể
cũng trong khoảng thời gian này, L còn khoản tiền tiết kiệm lên tới
900.000.000 đồng (chín trăm triệu đồng) gửi Nguyễn Thi Thu Tr1 để khoản
tiền lãi hàng tháng chi dùng. Ngoài ra, cũng trong thời gian này chính L đã yêu
cầu Tr1 giao cho ông H1 (cha ruột ông H) số tiền lên tới 700.000.000 đồng
(bảy trăm triệu đồng); thậm chí còn đưa Tr1 số tiền 200.000.000 đồng (hai
trăm triệu đồng) để nhờ Tr1 làm từ thiện giúp các giáo xứ khó khăn các trại
mồ côi v.v... như nội dung văn bản các bên (bà L, ông H1, Tr1) xác lập ngày
16/01/2020 xác nhận của chính Tr1 tại hồ sơ. Như vậy, thể thấy rằng
nguyên đơn, Bùi Thị L trong khoảng thời gian này không những không thiếu
thốn tiền bạc, thậm chí còn thoải mái về tài chính qua việc giao hầu hết số tiền tiết
kiệm được cho gia đình bị đơn (ông H1) không bất kỳ ng buộc nào.
Do đó bị đơn, ông Đoàn Trần Anh H trình bày trong văn bản trả lời đề ngày
26/02/2024 rằng “Tất cả sự chăm sóc y hoàn toàn phát xuất t sự cảm thông
cho hoàn cảnh của L không đòi hỏi bất kỳ một khoản chi phí nào” còn
cho rằng do L bán rẻ cho bị đơn nhà đất này “bà L mong muốn
khoản tiền dự phòng lúc đau bệnh” (bút lục số 80) hoàn toàn mâu thuẫn với các
chứng cứ trên, không sở tin cậy.
[2.2.2] Về mục đích ý chí của các bên khi giao kết hợp đồng chuyển
nhượng:
Bị đơn ông H trình bày rằng trước sự chăm sóc ân cần của bị đơn gia
đình, L đã nhiều lần đề nghị cho tặng bị đơn căn nhà này nhưng bị đơn không
đồng ý nhận, tiếp theo khoảng tháng 04/2019 L đề nghị bán rẻ cho bị đơn 02
thửa đất thửa 166 169 thuộc tờ bản đ 25 phường T, thành phố H, tỉnh Đồng
Nai (nay phưởng L, tỉnh Đồng Nai) trên đó căn nhà đang với giá
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng). Trước đ nghị này bị đơn đồng ý từ
đó hai bên đã giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày
26/4/2019 được Văn phòng công chứng Hoàng L chứng nhận.
Về phía L, tại đơn kiện cho rằng không lý do hoặc cần tiền đ
phải bán đi nhà đất, cũng chính nơi duy nhất của đã đang sống từ mấy
chục năm qua cho ông H hoặc cho bất k ai khác. L cho biết theo đề nghị của
chính ông H L cần ủy quyền để ông H thể thay mặt quan hệ làm
việc với các quan liên quan đến nhà đất của khi cần. Do đã lớn tuổi, lại
không con cái nên trước đề nghị trên L thấy hợp phù hợp nên đồng ý
thực hiện mọi việc theo sự chỉ dẫn của ông H với sự tin tưởng tuyệt đối trong
việc ký tên điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng trong nhận thức của bà
việc ủy quyền như ông H đã đề nghị với trước đó. Đồng thời ông H giữ toàn
12
bộ h bản chính hợp đồng chuyển nhượng giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của khiến bà không hội đọc lại hợp đồng hoặc nhờ người khác
xem giúp. L chỉ biết được ông H đã lập hợp đồng chuyển nhượng thay ủy
quyền, đồng thời đã chuyển quyền sử dụng đất của sang tên ông H sau nhiều
lần ông H trì hoãn khi yêu cầu trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho bà. Từ đó khiến L nghi ngờ nhờ người thân tìm cách sao lục
hồ nhà đất tại Văn phòng đăng đất đai Chi nhánh Biên Hòa. Sau khi biết
sự thật, L đã khởi kiện.
So sánh đối chiếu các lời trình bày đối lập nhau của nguyên đơn b
đơn để đánh giá tính trung thực phản ánh sự thật của các lời trình bày này, Hội
đồng xét xử nhận thấy lời trình bày của b đơn khi giải thích bối cảnh diễn ra sự
việc chuyển nhượng nhà đất của L không thuyết phục không phản ánh sự
thật khi đối chiếu với các chứng cứ thể hiện khả năng tài chính thực tế của L
thời điểm chuyển nhượng. Việc giải thích trình bày của bị đơn v việc L ban
đầu là gợi ý cho tặng, sau bán rẻ nhà đất cho bị đơn; đồng thời cũng nơi
duy nhất của không ràng buộc bất cứ điều kiện không phù hợp với
thực tế đời thường trong khi L vẫn còn một số thân nhân ruột thịt đang chu
cấp nuôi dưỡng bà trong tuổi già một điều không hợp mâu thuẫn với các
chứng Tòa án đã thu thập được.
Xét lời trình bày của L, Hội đồng xét x cho rằng có sở, bởi lẽ sau khi
hợp đồng chuyển nhượng được công chứng, ông H đã giữ toàn bộ hồ chuyển
nhượng, trong đó bản chính hợp đồng chuyển nhượng Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên L thật khiến L không có hội xem lại
đúng như lời trình bày của L trong đơn kiện (bút lục 41). Việc giữ giấy tờ này
được chính bị đơn thừa nhận qua văn bản trả lời lần 2 về yêu cầu khởi kiện đề
ngày 26/02/2024 của ông Đoàn Trần Anh H, theo đó ông H thừa nhận “vào
khoảng cuối tháng 9/2023 đột ngột L không cho tôi gia đình qua chăm sóc
bà, đồng thời yêu cầu tôi giao trả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã chuyển
nhượng nêu trên” (bút lục 80). Qua thừa nhận của ông H trên đây thể thấy
nhận thức ý định của L thời điểm văn bản, chỉ đồng ý ủy quyền cho
ông H với mục đích đ ông H làm việc với các cơ quan liên quan đến việc quản
nhà đất của bà, chứ không chuyển nhượng nhà đất của cho ông H hoặc cho
bất cứ ai khác.
Cũng trong đơn kiện L trình bày rằng khi Giáo xứ Đại Lộ, nơi đã sinh
sống tại đây nhu cầu sửa chữa, xây dựng lại Nhà thờ giáo xứ thì L muốn
thực hiện tâm nguyện từ lâu của mình dâng tặng nhà đất của cho giáo xứ,
nên yêu cầu bị đơn giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
thực hiện tâm nguyện đó. Như vậy, nếu trước đó (khoảng tháng 4/2019) L đã
nhiều lần tự đề nghị cho tặng n đất này cho ông Đoàn Trần Anh H, nhưng ông
H không nhận, sau đó lại đề nghị bán rẻ cho ông H thì không thể có chuyện sau 5
năm (khoảng tháng 9/2023) L nhất định đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất như ông H trình bày cho Tòa án. Ngoài ra, qua chứng cứ do bà Nguyễn
Thị Thu Tr1 cung cấp còn thể hiện chính L đã từng yêu cầu Tr1 rút
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) trong số tiền tiết kiệm L gửi Tr1
để ủng hộ các giáo xứ khó khăn, các trại mồ côi, cho thấy bà L người thường
13
làm từ thiện, giúp các xứ đạo, nên việc L đòi lại Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên để thực hiện tâm nguyện đối với giáo xứ, nơi đang sinh
sống hoàn toàn thể tin được. Do vậy, thể thấy rằng nhận thức ý định
của L khi văn bản cho bị đơn thì L tin rằng đó hợp đồng ủy quyền như
bị đơn đã nói với bà trước đó, chứ không phải Hợp đồng chuyển nhượng. Sự kiện
này thể hiện bị đơn đã cung cấp thông tin sai lệch, không đúng sự thật không
phản ánh trung thực nội dung hợp đồng khiến L tin rằng đó hợp đồng ủy
quyền nên mới tên, điểm chỉ vào Hợp đồng chuyển nhượng. Nói cách khác
L đã bị nhầm lẫn bị lừa dối khi xác lập giao dịch này.
[2.2.3] Về việc thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Theo trình bày của ông H, sau khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa L ông H được công chứng, ông H đã thanh toán 200.000.000 đồng
(hai trăm triệu đồng) số tiền chuyển nhượng theo hợp đồng cho L, L đã
nhận nhưng gửi lại cho ông H giữ số tiền lớn già yếu lại hay đi bệnh viện.
Tuy nhiên L khẳng định không ý định chuyển nhượng tài sản này cho ông H
hoặc bất kỳ ai khác, nên không thể việc nhận 200.000.000 đồng (hai trăm triệu
đồng) từ ông H. L đồng thời yêu cầu Tòa án buộc ông H phải chứng minh
đã nhận 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) từ ông H trong việc chuyển
nhượng n đất, tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử ông H vẫn không cung cấp
được chứng cứ giao nhận tiền L yêu cầu. Tại phiên tòa, một lần nữa người
đại diện theo ủy quyền của bị đơn, vẫn xác nhận trong thực tế ông H đang quản
200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) số tiền chuyển nhượng theo hợp đồng
chuyển nhượng nguyên đơn bị đơn đã xác lập.
Xét thấy, bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã thanh toán
số tiền chuyển nhượng 200.000.000 đồng (hai trăm triệu đồng) cho nguyên đơn,
đồng thời lời khai nhận của bị đơn L nhờ giữ dùm số tiền 200.000.000 đồng
(hai trăm triệu đồng) không được L thừa nhận, nên Hội đồng xét xử cho rằng
số tiền 200.000.000 đồng này (hai trăm triệu đồng) chưa được ông H giao cho
L. Mặt khác kể từ khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được hai bên
kết (26/4/2019) cho đến khi L khởi kiện thì cả nguyên đơn bị đơn chưa
bao giờ đặt vấn đ chuyển giao tài sản chuyển nhượng; chỉ sau khi L khởi kiện,
thì tại đơn yêu cầu phản tố ông H mới yêu cầu L chuyển giao tài sản cho ông
H. Điều đó nghĩa trong suốt thời gian dài (5 năm) sau khi hợp đồng chuyển
nhượng được xác lập, nhưng cả hai bên đều không hề thực hiện việc chuyển giao
quyền s hữu tài sản; tức bên mua chưa thực hiện việc yêu cầu chuyển giao tài
sản đã nhận chuyển nhượng bên bán, bà L cũng chưa hề chuyển giao quyền sở
hữu tài sản cho bên mua.
Theo Điều 430 Bộ Luật dân sự 2015 quy định “Hợp đồng mua bán tài sản
sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho
bên mua bên mua trả tiền cho bên bán”. Như vậy theo quy định của Bộ Luật
dân sự thì nghĩa vụ bản của bất kỳ hợp đồng mua bán tài sản nào bên bán
nghĩa v chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua, tức chuyển giao đầy đủ các
quyền bao gồm: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng quyền định đoạt tài sản
ngược lại bên mua nghĩa vụ giao tiền tức số tiền mua tài sản cho bên bán. Như
14
trên đã phân tích trường hợp này các bên không thực hiện các nghĩa vụ bản của
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, theo đó bên chuyển nhượng
Bùi Thị L chưa bao giờ chuyển giao quyền sở hữu tài sản nhà đất của mình cho
bên nhận chuyển nhượng ông Đoàn Trần Anh H và bên chuyển nhượng cũng
chưa hề giao nhận tiền chuyển nhượng theo hợp đồng từ bên nhận chuyển
nhượng. Điều này cho thấy trên thực tế không tồn tại việc chuyển nhượng tài sản
này.
Như vậy, Hội đồng xét xử có sở đ xác định rằng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003403, quyển số 11/TT/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 đối với thửa đất 166 thửa 169 tờ bản đồ 25 tại
khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành phố
H, tỉnh Đồng Nai) giao dịch dân sự hiệu do bị nhầm lẫn bị lừa dối. Do
vậy, căn cứ quy định tại Điều 126, Điều 127 Bộ Luật dân sự thì hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003403, quyển số 11/TT/CC-
SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 đối với thửa đất 166 thửa 169 tờ bản đồ 25 tại
khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành phố
H, tỉnh Đồng Nai) bị hiệu.
[2.2] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số CS 174081 đối với thửa đất số 166 tờ bản đồ
số 25 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số CS 174082 đối với thửa đất số 169 tờ bản đồ số 25 cùng tọa lạc
tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành
phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày
20/05/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H.
Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 003403,
quyển số 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 đối với thửa đất 166 thửa
169 tờ bản đồ 25 tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D,
phường T, thành ph H, tỉnh Đồng Nai) b vô hiệu theo quy định tại Điều 126
Điều 127 Bộ Luật dân sự nên cần tuyên huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số CS 174081 đối với thửa đất
số 166 tờ bản đồ 25 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất s CS 174082 đối với thửa đất số 169 t bản đ số
25 cùng tọa lạc tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D,
phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài Nguyên Môi Trường tỉnh
Đồng Nai cấp ngày 20/05/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H phù hợp theo pháp
luật.
[3] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn ông H yêu cầu bà Bùi Thị L giao tài sản
đã chuyển nhượng cho ông H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất
đã được công chứng tại Văn phòng công chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai, số
công chứng 003403, quyển số 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/04/2019 đối với
hai thửa đất sau:
1. Thửa đất số 166, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại khu phố C, phường L, tỉnh
Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai). Diện
tích: 19,7 m
2
(mười chín phẩy bảy mét vuông), đất đô thị (hiện nay đã được cập
15
nhật biến động trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CS 174081 ngày
20/05/2019);
2. Thửa đất số 169, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại khu phố C, phường L, tỉnh
Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai). Diện
tích: 109,6 m
2
(một trăm lẻ chín phẩy sáu mét vuông) đất đô thị (hiện nay đã
được cập nhật biến động trên Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số CS 174082
ngày 20/05/2019).
Ngày 17/9/2025, bị đơn xin rút yêu cầu phản tố tại phiên tòa bị đơn giữ
nguyên ý kiến rút đơn phản tố nguyên đơn không ý kiến về việc rút dơn
phản tố của b đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận đình chỉ yêu cầu phản t
của bị đơn.
[4] Về án phí: Do ông Đoàn Trần Anh H rút yêu cầu phản t nên hoàn trả
tạm ứng án phí cho ông Đoàn Trần Anh H. Do yêu cầu khởi kiện của Bùi Thị
L được chấp nhận nên ông Đoàn Trần Anh H phải chịu án phí n sự thẩm
theo quy định 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) án p dân sự
thẩm nhưng được trừ vào s tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) tạm ứng
án p ông Đoàn Trần Anh H đã nộp theo biên lai thu số 0003227 ngày
08/04/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay Phòng thi
hành án dân sự khu vực 1 Đồng Nai). Hoàn lại cho ông Đoàn Trần Anh H số
tiền 10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm ngàn đồng).
[5] Về chi phí tố tụng: Do nguyên đơn xin tự nguyện chịu nên Tòa án không
xem xét.
[6] Ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích cho nguyên đơn phù hợp với
quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận
[7] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát p hợp với quan điểm
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 203, 227, 228, 266, 273 Bộ Luật tố
tụng dân sự 2015;
- Căn cứ Điều 500, 501, 502, 503 Bộ Luật dân sự 2015;
- Căn cứ vào Điều 166, Điều 188, Điều 203 của Luật Đất đại 2013
- Áp dụng Điều 26, 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Bùi Thị L.
- Tuyên b Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 003403, quyển
16
số 11/TT/CC-SCC/HĐGD ngày 26/4/2019 được công chứng tại Văn phòng công
chứng Hoàng L, tỉnh Đồng Nai giữa Bùi Thị L ông Đoàn Trần Anh H
hiệu.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 174081 (thửa đất số 166, tờ
bản đồ số 25) Giấy chứng nhận quyền s dụng đất số CS 174082 (thửa đất số
169, tờ bản đồ số 25) tại khu phố C, phường L, tỉnh Đồng Nai (địa chỉ cũ: khu
phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai) do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đồng Nai cấp ngày 20/5/2019 cho ông Đoàn Trần Anh H.
Bùi Thị L trách nhiệm liên hệ các quan chức năng thẩm quyền
để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ yêu cầu phản tố của ông Đoàn Trần Anh H.
3. Về án phí: Ông Đoàn Trần Anh H phải chịu án phí dân sự thẩm theo
quy định 1.200.000 đồng (một triệu hai trăm ngàn đồng) án p dân sự thẩm
nhưng được trừ vào số tiền 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) tạm ứng án phí
ông Đoàn Trần Anh H đã nộp theo biên lai thu số 0003227 ngày 08/04/2024
tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa (nay Phòng thi hành án dân
sự khu vực 1 Đồng Nai). Hoàn lại cho ông Đoàn Trần Anh H số tiền
10.800.000 đồng (mười triệu tám trăm ngàn đồng).
4. Về chi phí tố tụng nguyên đơn xin tự nguyện chịu đã đóng xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 Điều 9 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa
17
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Đng Nai;
- VKSND khu vực 1- Đồng Nai;
- VKSND tnh Đng Nai;
- Các đương sự;
- Thi hành án dân s tỉnh Đồng Nai;;
- Lưu hồ , Vp.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM
THẨM PHÁN - CH TỌA PHIÊN TÒA
Hồng Ngọc
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 305/2025/DS-ST Bản án số 305/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 305/2025/DS-ST Bản án số 305/2025/DS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất