Bản án số 299/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 299/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 299/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 299/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị L và ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân khu vực 13 - Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 299/2026/DS-PT Bản án số 299/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 299/2026/DS-PT Bản án số 299/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 299/2026/DS-PT
Ngày: 27-5-2026
“Tranh chấp chia di sản thừa kế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr;
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Quang và bà Nguyễn Thị My My.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tân Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Ông Phan Văn Công – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở
phiên a xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 102/2026/TLPT-DS ngày
19 tháng 3 năm 2026 về “ Tranh chấp chia di sản thừa kế ”.
Do bản án dân sự số: 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 13
- Đắk Lắk bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2026/QĐXXPT-DS ngày
20 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn:Nguyễn Thị H, sinh năm 1963;
Địa chỉ: Thôn P, phường P, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Bị đơn:Nguyễn Thị L, sinh năm 1950;
Địa chỉ: Khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Khu
phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk; Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; Có mặt.
2. Ông Phạm Việt C1, sinh năm 1979; Có mặt.
3. Ông Phạm Quốc T1, sinh năm 1982; Vắng mặt.
5. Ông Đặng Văn M, sinh năm 1968; Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
4. Bà Phạm Thị D, sinh năm 1988. Địa chỉ: Thôn N, xã B, tỉnh Khánh Hòa; Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị H trình
bày:
Cha mẹ ông Nguyễn Q (mất năm 2008) Đặng Thị Ư (mất khoảng năm
1980), ông Q Ư sinh được 5 người con chung ông Nguyễn T2 (liệt sĩ, mất m 1971
không vợ con), Nguyễn Thị L; Nguyễn Thị C; Nguyễn Thị H1 (mất năm 2001),
H1 3 người con Phạm Việt C1, Phạm Quốc T1, Phạm Thị D Nguyễn Thị H là
con út, ông bà mất đều không để lại di chúc.
2
Khi còn sống cha mẹ bà có tạo lập được một ngôi nhà cấp 4 trên diện tích đất vườn
1400m
2
thuộc thửa đất số số 621 tờ bản đồ 374C tọa lạc tại thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk và sinh
sống tại đây, hiện trạng thửa đất hiện nay chỉ còn 581m
2
do khi còn sống ông Q đã cắt
chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất cho người khác. Đến năm 2007, được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 785148; ngoài ra cụ Q còn được cân đối giao diện tích
đất nông nghiệp 148m
2
cân đối cho 01 khẩu tại thửa số 871 tờ bản đồ 374C tọa lạc đều tại
thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi ông Q mất thì các chị em không ai ở sinh sống trong ngôi
nhà này mà chỉ đóng cửa, thỉnh thoảng mới đi về cúng giỗ cha mẹ.
Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ
diện tích đất nêu trên yêu cầu được nhận một phần đất thanh toán giá trị cho các đồng
thừa kế còn lại.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị L trình bày:
L thừa nhận cha mẹ chết đều không đlại di chúc như nguyên đơn trình y. Tuy
nhiên vào năm 2013 các chị em hợp mặt thỏa thuận phân chia thừa kế, giao diện tích đất
vườn nhà cửa cha mẹ để lại cho L được quyền sử dụng, lập văn bản thỏa thuận và
được UBND xã H chứng thực ngày 21/10/2013 nên không đồng ý phân chia thừa kế.
Trường hợp Tòa án giải quyết chia thừa kế theo pháp luật thì đồng ý nhận một phần đất để
thờ cúng nhưng không đồng ý thanh toán lại giá trị vì bà không có tiền.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày:
Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn H, đồng ý yêu cầu chia thừa kế
theo pháp luật đối với di sản cha mẹ để lại.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Việt C1 trình bày:
Thống nhất yêu cầu chia thừa kế như nguyên đơn trình bày nhưng yêu cầu được nhận
một phần đất và đồng ý thanh toán giá trị cho những người được hưởng thừa kế khác. Đối với
bản thỏa thuận phân chia thừa kế năm 2013 thì ông không đồng ý vì ông là con bà H1 cũng có
quyền lợi nhưng bà L không mời họp mặt ký thỏa thuận là xâm phạm quyền lợi của ông.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Quốc T1 và bà Phạm Thị D:
Đồng ý với ý kiến của anh ruột ông C1 đều đơn xin không nhận di sản tự
nguyện để lại phần di sản của mình được hưởng cho ông C1.
Tại bản án dân sự thẩm số: 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 13 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ các Điều 609, 610, 612, 649, 650, 651, 652, 660, 688 Bộ luật Dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H
Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản là quyền sử dụng đất ông Nguyễn Q để lại
gồm diện tích 200m
2
đất ở, 381,8m
2
đất vườn và 148m
2
đất lúa tổng giá trị 694.560.000
đồng chia thành 4 phần di sản bằng nhau, mỗi phần di sản trị giá 173.640.000 đồng cho
Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H ông Phạm Việt C1 (thừa kế thế vị của
Nguyễn Thị H1).
- Giao cho Nguyễn Thị H được nhận sử dụng phần diện tích đất 244,8m
2
phía Đông
của thửa đất số thửa 621 tờ bản đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk, trong đó diện tích
100m
2
đất ở, 144,8m
2
đất HNK, vị trí: Phía Đông giáp Ngô Quang T3, phía y giáp đất
giao cho ông Phạm Việt C1, phía Nam giáp đường bê tông, phía Bắc giáp ruộng 01 giếng
đào trên đất tổng giá trị 297.200.000 đồng. Buộc Nguyễn Thị H nghĩa vụ thanh
toán cho bà Nguyễn Thị L số tiền 123.560.000 đồng.
- Giao cho ông Phạm Việt C1 được nhận sử dụng phần diện tích đất 337m
2
phía Tây của
thửa đất số thửa 621 tờ bản đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk, trong đó 100m
2
đất ở,
237m
2
đất HNK, vị trí: Phía Đông giáp thửa đất giao cho Nguyễn Thị H, phía Tây giáp
Văn G, phía Nam giáp đường tông, phía Bắc giáp ruộng giá tr387.000.000 đồng,
trên đất một ngôi nhà không còn giá trị sử dụng. Buộc ông Phạm Việt C1 nghĩa vụ
thanh toán cho Nguyễn Thị C số tiền 173.640.000 đồng, thanh toán cho Nguyễn Thị L
số tiền 39.720.000 đồng.
3
- Giao bà Nguyễn Thị L được nhận sử dụng diện ch 148m
2
đất ruộng thửa 871 tờ bản
đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk vị trí phía Bắc giáp ruộng Đặng Văn M, phía Nam
giáp ruộng ông Â, phía Tây giáp ruộng ông Năm M1, Đông giáp ruộng ông Hồ Văn T4 có giá
trị 10.360.000 đồng (Hiện trạng các thửa đất có bản vẽ trích đo kèm theo).
H, L ông C1 trách nhiệm liên hquan thẩm quyền để làm các thủ tục
đăng ký quyền sử dụng đất theo bản án này. Bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ phối hợp cung
cấp các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành
án xong, bên phải thi nh án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 165, 161 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn Thị
L, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H, ông Phạm Việt C1 mỗi người phải chịu 4.250.000
đồng chi phí tố tụng. Ông Phạm Việt C1 phải thanh toán lại cho Nguyễn Thị H 2.750.000
đồng. Nguyễn Thị L Nguyễn Thị C mỗi người phải thanh toán lại cho Nguyễn
Thị H 4.250.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của y ban thường vụ Q1. Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C,
Nguyễn Thị H, ông Phạm Việt C1 mỗi người phải chịu 8.682.000 đồng án phí DSST.
Nguyễn Thị H được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ng án phí,
phí Tòa án số 0012054 ngày 13/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây a,
tỉnh Phú Yên, nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 13 – Đắk Lắk, còn phải nộp
8.382.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
*Sau khi có bản án sơ thẩm:
Ngày 12/01/2026, bị đơn bà Nguyễn Thị L kháng toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên
yêu cầu kháng cáo và các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu: Về thủ tục tố tụng, Thẩm phán
Hội đồng xét xphúc thẩm cũng như các đương sự đã tuân thủ đầy đủ thực hiện đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét x phúc thẩm căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308,
Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị
L, sửa một phần bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân
dân khu vực 13 - Đắk Lắk theo hướng ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa,
đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét miễn án phí dân sự thẩm cho các
đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ tại hồ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa;
căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nộp tiền tạm
ứng án phí nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử phúc thẩm
xét thấy: Ông Nguyễn Q Đặng Thị Ư chết đều không để lại di chúc. Ông sinh
4
được 5 người con gồm: ông Nguyễn T2 (Liệt mất năm 1971 không vợ con), L, C,
H1 (mất năm 2001, có 3 người con C1, T1, D) H. Ông Q, bà Ư để lại một ngôi
nhà cấp 4 ( ngôi nhà đã bị hỏng không giá trị sử dụng) trên diện tích đất vườn
1400m
2
thuộc thửa đất số số 621 tờ bản đồ 374C, nhưng hiện trạng đến nay chỉ còn 581m
2
(do
khi còn sống ông Q đã chuyển nhượng một phần diện tích đất cho người khác) được cấp
giấy chứng nhận quyền sdụng đất số AG 785148 diện tích đất nông nghiệp 148m
2
(loại
đất trồng lúa) tại thửa số 871 tờ bản đồ 374C tọa lạc đều tại thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn Nguyễn Thị H bị đơn bà Nguyễn Thị L đã
thỏa thuận được với nhau, cụ thể L nhận phần đất được chia cho bà H ở phía Đông có diện
tích đất 244,8m
2
tại thửa đất số thửa 621 tờ bản đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk
L trách nhiệm thanh toán tiền cho H số tiền 123.560.000 đồng, đối với phần đất chia
cho ông C1 thì được giữ nguyên và có trách nhiệm thanh toán lại giá trị cho các đồng thừa kế.
Xét thấy sự thỏa thuận của L H cũng như các đương sự trong vụ án tự
nguyện phù hợp với quy định của pháp luật, đồng thời không ảnh hưởng đến người khác
nên cần chấp nhận sự thỏa thuận của các đương sự nêu trên.
Do đó hội đồng xét xphúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn L sửa
bản án thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13- Đắk
Lắk.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 13 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
Hội về án phí, lphí Tòa án. Xét thấy, L, H, bà C đến nay đã trên 60 tuổi
(chỉ có ông C1 là dưới 60 tuổi), là gia đình liệt sĩ, đồng thời đang sinh sống vùng
kinh tế hội khó khăn, thường xuyên bị thiên tai lũ lụt gây thiệt hại rất nghiêm
trọng (có đơn xin miễn, giảm án phí) nên phải miễn toàn bộ án phí dân sự cho bà
L, bà H bà C giảm 50% cho ông C1.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Thị L và ghi nhận sự thỏa thuận của các
đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
- Sửa bản án dân sự thẩm số 41/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Toà án nhân dân
khu vực 13 - Đắk Lắk.
- Căn cứ các Điều 609, 610, 612, 649, 650, 651, 652, 660, 688 Bộ luật Dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H.
[1]. Chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Q
để lại gồm 200m
2
đất ở, 381,8m
2
đất vườn và 148m
2
đất trồng lúa có tổng giá trị là
694.560.000 đồng (Sáu trăm chín mươi bốn triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng) chia thành
4 phần di sản bằng nhau, mỗi phần di sản trị giá 173.640.000 đồng (Một trăm bảy mươi ba
triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) cho bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, bà Nguyễn Thị
H và ông Phạm Việt C1 (thừa kế thế vị của bà Nguyễn Thị H1).
[1.1]. Giao Nguyễn Thị L được nhận sdụng phần diện tích đất 244,8m
2
phía Đông
của thửa số 621 tờ bản đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk, trong đó 100m
2
đất ở,
144,8m
2
đất HNK, vị trí: Đông giáp Ngô Quang T3, y giáp đất giao cho ông Phạm Việt
C1, Nam giáp đường tông, Bắc giáp ruộng 01 giếng đào trên đất tổng giá trị
297.200.000 đồng (Hai trăm chín mươi bảy triệu hai trăm nghìn đồng).
Buộc bà Nguyễn Thị L nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị H số tiền
123.560.000 đồng (Một trăm hai mươi ba triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
5
[1.2] Giao ông Phạm Việt C1 được nhận sử dụng phần diện tích đất 337m
2
phía y
của thửa đất số thửa 621 tờ bản đồ 374C tại thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk, trong đó có 100m
2
đất
ở, 237m
2
đất HNK, có vị trí: Đông giáp thửa đất giao cho Nguyễn Thị L, Tây giáp Văn
G, Nam giáp đường tông, Bắc giáp ruộng giá trị 387.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi
bảy triệu đồng), trên đất có một ngôi nhà cũ không còn giá trị sử dụng.
Buộc ông Phạm Việt C1 nghĩa vụ thanh toán cho Nguyễn Thị C 173.640.000
đồng (Một trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng), thanh toán cho bà Nguyễn
Thị H số tiền 39.720.000 đồng (Ba mươi chín triệu bảy trăm hai mươi nghìn đồng).
[1.3]. Giao Nguyễn Thị L được nhận sử dụng diện ch 148m
2
đất ruộng thửa 871
tờ bản đồ 374C tại thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk có vị trí Bắc giáp ruộng Đặng Văn M, Nam
giáp ruộng ông Â, Tây giáp ruộng ông Năm M1, Đông giáp ruộng ông Hồ Văn T4 giá trị
10.360.000 đồng (Mười triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
(Hiện trạng các thửa đất có bản vẽ trích đo kèm theo).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành
án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[1.4]. Bà L và ông C1 có trách nhiệm liên hệ cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục
đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Nguyễn Thị L phải nghĩa vụ phối
hợp cung cấp các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất theo quy định.
[2]. Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 157, 165, 161 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Nguyễn
Thị L, bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H, ông Phạm Việt C1 mỗi người phải chịu 4.250.000
đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) chi phí tố tụng. Ông Phạm Việt C1 phải
thanh toán lại cho Nguyễn Thị H 2.750.000 đồng (Hai triệu bảy trăm năm mươi nghìn
đồng). Nguyễn Thị L Nguyễn Thị C mỗi người phải thanh toán lại cho Nguyễn
Thị H 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).
[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q1.
- Bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H được miễn toàn bộ án phí dân
sự sơ thẩm.
- Ông Phạm Việt C1 được giảm ½ án phí, ông C1 còn phải nộp 4.341.000 đồng
(Bốn triệu ba trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Nguyễn Thị H 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), đã nộp tạm
ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012054 ngày 13/6/2023 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh PYên, nay Phòng Thi hành án dân sự khu
vực 13 – Đắk Lắk.
[4]. Về án phí: Bị đơn Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm,
hoàn lại cho L số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí tại Biên
lai số 0000680 ngày 19/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
[5]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành
án, quyền u cầu thi nh án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
6
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 13 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực 13- Đắk Lắk
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Y Phi Kbuôr
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 299/2026/DS-PT Bản án số 299/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 299/2026/DS-PT Bản án số 299/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất