Bản án số 288/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 288/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 288/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 288/2025/DS-PT
Tên Bản án: | Bản án số 288/2025/DS-PT ngày 19/06/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 288/2025/DS-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 19/06/2025 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định hành chính cá biệt |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 288/2025/DS - PT
Ngày: 19/6/2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất
và hủy quyết định hành chính cá
biệt”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Võ Thị Ngọc Dung
Ông Võ Ngọc Thông
Ông Trương Công Thi
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quốc Lập, Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: Ông Trần Viết Tuấn, Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý 144/2025/TLPT-DS ngày
28 tháng 3 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy quyết định
hành chính cá biệt”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1595/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 6
năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Trần B, sinh năm 1940; địa chỉ: khối phố Đoan Trai,
phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
2. Bị đơn: ông Trần Văn T, sinh năm 1987 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm
1989; cùng địa chỉ: khối phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Ông Trần D, sinh năm 1970;
3.2 Bà Trần Thị L, sinh năm 1984;
Cùng địa chỉ: khối phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
3.3 Bà Trần Thị T2, sinh năm 1976; địa chỉ: khối phố X, phường T, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam.
2
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần B, ông Trần D, bà Trần Thị T2:
bà Trần Thị L, sinh năm 1984; địa chỉ: khối phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh
Quảng Nam.
3.4 Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Q; địa chỉ: Số A đường H, thành
phố T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn C, chức vụ: Phó Giám đốc
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Q.
3.5 Ngân hàng N1 - Chi nhánh T4; trụ sở Ngân hàng N1 – Chi nhánh T4
tại: ngã Ba K, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Do bà Mai Thị Minh T3, chức vụ: Trưởng phòng khách hàng đại diện theo
Văn bản uỷ quyền ngày 02/01/2025.
Người kháng cáo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, đại diện nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:
Ông Trần B và bà Huỳnh Thị C1 (chết năm 2003) là chủ sử dụng thửa đất
số 319, tờ bản đồ số 73, diện tích 669,9m
2
tại khối E, phường T, thành phố T,
tỉnh Quảng Nam đã được UBND tỉnh Q cấp Giấy CNQSD đất cấp ngày
30/6/2004. Ông Trần Văn T ở sát vách nhà ông B, bà C1 thường xuyên có hành
vi để đồ đạc qua bên phần đất của nhà ông B. Sau đó lấn chiếm phần đất phía
trước nhà của gia đình ông B, gia đình ông B đã nhắc nhở và yêu cầu ông T
dừng việc lấn chiếm, nhưng ông T không nghe. Gia đình ông B có báo sự việc
lên UBND phường T để đề nghị can thiệp. Sau đó cán bộ địa chính và Chủ tịch
UBND phường T đến làm việc, nhưng không có bà C1 và các con của ông B
tham gia. Chỉ mời riêng ông B đến Nhà sinh hoạt khối phố, để buộc ông B ký
vào giấy thỏa thuận cho ông T. Trước đó, ông B đã có giấy chứng nhận hợp
pháp đối với diện tích đất này, còn ông T chưa được cấp Giấy CNQSD đất. Phần
đất bị lấn chiếm nằm hoàn toàn trong Giấy CNQSD đất của ông B và bà C1. Bà
Huỳnh Thị C1 vợ ông B hoàn toàn không biết gì về nội dung giấy thỏa thuận
nêu trên. Đến nay ông T tiếp tục xây dựng nhà trên phần đất lấn chiếm của gia
đình ông B, làm che khuất một phần phía trước nhà của ông B. Cụ thể: ông T
lấn chiếm khoảng 90m
2
đất của ông B. Gia đình ông Trần B đã nhiều lần tìm
cách liên hệ, trao đổi với ông T nhưng không thành do ông T né tránh. Hiện nay
được biết ông Trần Văn T đã được cấp Giấy CNQSD đất chồng lên một phần
đất của gia đình ông Trần B. Tuy nhiên trong Giấy CNQSD đất của gia đình ông
Trần B không có bất cứ sự thay đổi nào. Việc cấp Giấy CNQSD đất chồng chéo
không rõ nguyên nhân đã tạo điều kiện để ông T tự tin chiếm đoạt phần đất của
gia đình ông Trần B một cách công khai. Sự việc đã được UBND phường T hòa
giải nhưng không thành. Nay ông Trần B yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông
Trần Văn T trả lại phần diện tích đã lấn chiếm của gia đình ông Trần B với diện
tích khoảng 90m
2
tại thửa đất số 319, tờ bản đồ số 73 theo Giấy CNQSD đất số
0301010142 ngày 30/6/2001 tại khối phố Đ, phường T, thành phố T, tỉnh Quảng
Nam và hủy Giấy CNQSD đất của ông Trần Văn T cấp chồng lấn lên phần đất
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của gia đình ông B.
Bị đơn ông Trần Văn T trình bày:
3
Ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần B với các
lý do: nguồn gốc diện tích đất tranh chấp này là của ông bà nội để lại, diện tích
đất này là phần của cha mẹ ông. Năm 2017, khi chú của ông là Trần B làm
chuồng trâu thì các bên xảy ra tranh chấp, do phía bên ông Trần B báo cáo chính
quyền địa phương. Chính quyền địa phương đã xuống cắm mốc (có đầy đủ các
bên gồm: ông Trần B, 02 vợ chồng anh D, bà C1 và gia đình ông Trần K là cha
ông Tin) lấy 02 cây sắt làm mốc. Năm 2019, ông làm nhà và xây dựng tường rào
(là mấy hàng gạch) các bên không có tranh chấp. Năm 2022 bão làm ngã bờ tre
của ông Trần K, nên ông thuê người chặt tre, xây bờ rào bằng gạch năm 2023 và
xây dựng nhà cho cha, mẹ ông ở (có 03 bờ tường riêng, 01 bờ tường chung với
bờ tường nhà của ông). Diện tích đất xây dựng nhà cho ba, mẹ ông ở trước đây
là 02 cây rơm của gia đình ông. Khi ông xây tường rào cũng như làm nhà cho
ba, mẹ ông, thì mấy chị em bà L ra tranh chấp không cho ông xây, sự việc đã
được phường hòa giải, nhưng không thành nên ông B kiện ra Tòa. 02 cây rơm
nằm trên đất hiện nay đã được phá để xây nhà cho ba, mẹ ông đã tồn tại từ khi
ba ông mới lập gia đình, cho đến khi xây nhà cho ba, mẹ ông thì mới phá. Nay
ông B cho rằng phần đất có nhà ba, mẹ ông đang ở là của gia đình ông B là
không đúng. Phần diện tích đất này sau tranh chấp năm 2017, ông B cũng như
các hộ lân cận đã ký giáp ranh để diện tích đất này nằm trong Giấy CNQSD đất
của ba, mẹ ông. Năm 2019, ba, mẹ ông tách thửa cho ông và diện tích đất này
hiện nay nằm trong Giấy CNQSD đất của ông. Nhà ông xây dựng cho ba, mẹ
ông ở là thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông.
Tại Công văn số 2012/VPĐK-HCTH ngày 16/12/2024 đại diện theo uỷ
quyền Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q trình bày:
Ông Trần K và bà Nguyễn Thị L1 sử dụng đất được UBND thành phố T
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 735781 ngày 25/12/2020 đối với
thửa đất số 101, tờ bản đồ số 56, diện tích 372,9m², địa chỉ: Khối phố Đ, phường
T, thành phố T.
Ngày 09/9/2021, ông Trần K và bà Nguyễn Thị Lê L2 đơn đề nghị tách
thửa đối với thửa đất nêu trên thành 03 thửa đất, gồm:
- Thửa đất số 209, diện tích 160,8m², mục đích sử dụng: 77,4m² đất ở đô
thị + 83,4m² đất trồng cây lâu năm.
- Thửa đất số 210, diện tích 99,4m², mục đích sử dụng: 56,8m² đất ở đô thị
+ 40,8m² đất trồng cây lâu năm.
- Thửa đất số 211, diện tích 112,7m², mục đích sử dụng: 64,0m² đất ở đô
thị + 48,7m² đất trồng cây lâu năm.
Qua xem xét kết quả thẩm định hồ sơ của Văn phòng Đ; căn cứ Điều 37
Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật Đất đai; Điều 38 của Quy chế ban hành kèm theo
Quyết định số 03/2016/QĐ-UB ngày 01/02/2016 của UBND tỉnh Q về Ban hành
quy chế phối hợp giữa Văn phòng Đăng ký đất đai trực thuộc Sở T với UBND
các huyện, thành phố và các cơ quan đơn vị khác có liên quan trong việc thực
hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng Đ, xét thấy hồ sơ đảm bảo
quy định pháp luật nên ngày 26/10/2021, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q
đã ký, cấp Giấy chứng nhận số DC 064466 cho ông Trần K và bà Nguyễn Thị
4
Lê đối V thửa đất số 209, tờ bản đồ số 56, diện tích 160,8m², mục đích sử dụng:
77,4m² đất ở đô thị + 83,4m² đất trồng cây lâu năm, địa chỉ: Khối phố Đ,
phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.
Theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số
công chứng 1512 quyển số 01/20214 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/11/2021 đối
với việc tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 209, tờ bản đồ số 56, địa chỉ thửa
đất: Khối phố Đ, phường T, thành phố T giữa ông Trần K, bà Nguyễn Thị L1 và
ông Trần Văn T. Ngày 22/11/2021, Chi nhánh Văn phòng Đ đăng ký nội dung
chỉnh lý biến động tặng cho ông Trần Văn T tại trang 4 giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số DC 064466 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày
26/10/2021 là đảm bảo quy định của pháp luật.
Từ nội dung trên, việc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q tiếp nhận và
giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận số DC 064466 cho ông Trần K, bà
Nguyễn Thị Lê L3 đúng trình tự, thủ tục quy định pháp luật. Sau khi có Bản án
hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Q, Văn phòng Đ sẽ triển khai thực hiện theo quy định.
Ý kiến của Ngân hàng N1 – chi nhánh T4:
Căn cứ Công văn số 360/CV-TDS ngày 20/12/2024 của Toà án nhân dân
tỉnh Quảng Nam về việc cung cấp thông tin. A chi nhánh T4 cung cấp những
thông tin về khách hàng vay vốn là ông Trần Văn T, sinh năm 1989 và bà
Nguyễn Thị T1 cũng có địa chỉ tại khối phố Đ, thành phố T, tỉnh Quảng Nam
như sau:
- Ông Trần Văn T, sinh năm 1989 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1990 có
vay vốn tại A chi nhánh T4 theo Hợp đồng tín dụng số 4225202101000 ngày
26/11/2021, số tiền vay: 70.000.000 đồng. Tài sản để đảm bảo cho khoản vay
này là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: số seri
DC 064466, cấp ngày 26/10/2021, nơi cấp: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh
Q. Tài sản này được nhận tặng cho từ ông Trần K và bà Nguyễn Thị Lê N
22/11/2021.
- Căn cứ vào hồ sơ vay vốn và trong quá trình thẩm định, tài sản trên là
không phát sinh tranh chấp, A chi nhánh T4, tỉnh Quảng Nam thực hiện theo
đúng quy trình, quy định của A và pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp
của A, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất: số seri DC 064466, cấp ngày: 26/10/2021, nơi cấp: Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Q sẽ được bàn giao lại cho ông Trần Văn T sau khi
ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị T1 thực hiện xong tất cả các nghĩa vụ trả nợ
theo đúng các nội dung trong hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm
2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần B về
việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bị đơn ông Trần Văn T.
Buộc ông Trần Văn T tháo dỡ các vật kiến trúc đã xây dựng trên diện tích
1,8m
2
đất thuộc thửa đất số 319, tờ bản đồ số 73, (theo CSDL là thửa đất số 85,
tờ bản đồ số 56), diện tích 669,9m
2
tại phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam
5
(Theo Mảnh trích đo chỉnh lý bản đồ địa chính số 65-2024 do Chi nhánh Văn
phòng Đ đo vẽ ngày 24/9/2024) để trả lại diện tích 1,8m
2
đất cho ông Trần B.
Không chấp nhận yêu cầu buộc ông Trần Văn T trả lại diện tích 40,3m
2
đất
tại thửa đất số 209, tờ bản đồ số 56, diện tích 160,8m
2
được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh Q cấp đổi Giấy CNQSD đất cho ông Trần K và bà Nguyễn Thị
Lê N 26/10/2021, được Chi nhánh Văn phòng Đ sang tên cho ông Trần Văn T
ngày 22/11/2021 của ông Trần B.
Không chấp nhận yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất do Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh Q cấp đổi thửa đất số 209, tờ bản đồ số 56, diện tích 160,8m
2
cho
ông Trần K và bà Nguyễn Thị Lê N 26/10/2021, được Chi nhánh Văn phòng Đ
sang tên cho ông Trần Văn T ngày 22/11/2021 của ông Trần B.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/01/2025, bà Trần Thị L có đơn kháng cáo,
xem xét toàn bộ bản án sơ thẩm, buộc ông T trả lại diện tích lấn chiếm cho gia
đình bà và hủy Giấy CNQSD đất cấp cho ông Trần K với diện tích 42,1m
2
đất.
*Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ý kiến của người kháng cáo: đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo, chấp
nhận yêu cầu khởi kiện buộc ông T trả diện tích đất là 40,3m
2
lấn chiếm cho gia
đình bà.
Ý kiến của bị đơn: đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm, vì đất gia
đình ông sử dụng từ trước năm 1990.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng: việc
tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên
tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đảm bảo
đúng các quy định tố tụng; về nội dung, đề nghị HĐXX bác kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và
tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những tham gia tố tụng theo
theo quy định của Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[1.2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền
giải quyết vụ án theo quy định tại các Điều 26, 34, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp là 42,1m
2
đất tranh chấp nằm trong thửa
đất số 319, tờ bản đồ số 73, (theo CSDL là thửa đất số 85, tờ bản đồ số 56), diện
tích 669,9m
2
tại phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đã được UBND tỉnh Q
cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần B, bà Huỳnh Thị C1 ngày 30/6/2004. Trong
diện tích 42,1m
2
đất tranh chấp có 40,3m
2
đất (42,1m
2
- 1,8m
2
) tranh chấp cũng
nằm trong thửa đất số 209, tờ bản đồ số 56, diện tích 160,8m
2
được Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp cho ông Trần K và bà Nguyễn Thị Lê N
26/10/2021. Thửa đất số 209 là 1 trong 3 thửa đất được tách ra từ thửa ban đầu
là thửa đất số 101, tờ bản đồ số 56, diện tích 372,9m
2
, được UBND thành phố T
6
cấp GCNQSD đất cho ông Trần K, bà Nguyễn Thị Lê . Ngày 22/11/2021, thửa
đất số 209, ông Trần K sang tên cho ông Trần Văn T, trong 160,8m
2
đất, có diện
tích đất cấp chồng 40,3m
2
.
[2.2] Giấy xác nhận nguồn gốc sử dụng đất ngày 21/5/2020, UBND
phường T đã xác nhận: theo Nghị định 60/CP ông Trần K có kê khai trong Sổ
địa chính tại thửa đất số 320, tờ bản đồ số 73, diện tích 316m
2
. Nay có số thửa
đất là 101, tờ bản đồ số 56, diện tích 372,9m
2
theo dự án xây dựng hồ sơ địa
chính và cơ sở dữ liệu đất đai. Diện tích biến động tăng 56,9m
2
so với hồ sơ
60/CP là tự thoả thuận ranh giới với hộ ông Trần B.
[2.3] Căn cứ Bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất có ông Trần B ký tứ
cận; Giấy xác nhận nguồn gốc sử dụng đất và giải trình diện tích biến động tăng
của UBND phường T; Biên bản kiểm tra hồ sơ đề nghị cấp Giấy CNQSD đất;
Phiếu lấy ý kiến của Khu dân cư, được xác định thời điểm sử dụng đất, xây
dựng nhà ở ổn định của hộ ông K từ năm 1990.
[2.4] Tại Biên bản thẩm định của Tòa án thể hiện trên đất tranh chấp có nhà
và các vật kiến trúc đã xây dựng kiên cố. Ngược lại, từ khi được cấp Giấy
CNQSD đất từ năm 2004 đến nay, ông Trần B, bà Huỳnh Thị C1 không quản lý,
sử dụng và cũng không có tài sản trên đất tranh chấp.
[2.6] Từ các mục nêu trên, xét, diện tích đất tranh chấp được cấp chồng bởi
2 Giấy CNQSD đất cấp cho ông Trần B, bà Huỳnh Thị C1 và ông Trần K, bà
Nguyễn Thị L1 nhưng hộ ông B không quản lý sử dụng, không có tài sản gì trên
đất mà hộ ông K quản lý sử dụng ổn định từ những năm 1990, trước khi ông B
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2004; trên đất tranh chấp
có nhà cửa công trình kiên cố, đã chỉnh lý biến động tách thửa và sang tên cho
ông Trần Văn T thửa đất với diện tích có diện tích đất cấp chồng 40,3m
2
. Do đó,
Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần B buộc
ông Trần Văn T trả lại diện tích 40,3m
2
đất là có cơ sở, phù hợp với thực tế sử
dụng.
[2.7] Tuy nhiên, quá trình cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần K, bà
Nguyễn Thị Lê đối V thửa đất số 101, có diện tích 372,9m
2
, khi chưa thực hiện
thủ tục thu hồi diện tích 40,3m
2
đất đã được cấp Giấy CNQSD đất cho ông Trần
B, bà Huỳnh Thị C1 là không đúng quy định pháp luật đất đai. Nên Tòa án cấp
sơ thẩm kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại Giấy CNQSD đất của
ông Trần B, bà Huỳnh Thị C1 cho đúng phần diện tích đang quản lý, sử dụng
mà không cần hủy Giấy CNQSD đất là phù hợp.
[2.8] Đối với yêu cầu buộc ông Trần Văn T trả lại diện tích 1,8m
2
đất, ông
T không có chứng cứ chứng minh thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông T,
nhưng ông T lại xây dựng trên diện tích này là không đúng quy định pháp luật,
nên yêu cầu của ông Trần B là có cơ sở. Tại phiên toà sơ thẩm, ông T tự nguyện
tháo dỡ các vật kiến trúc đã xây dựng trên diện tích 1,8m
2
đất thuộc quyền quản
lý, sử dụng của ông Trần B để trả lại đất cho ông B nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp
nhận là có căn cứ.
[3] Với phân tích trên và tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo không
cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới nên HĐXX phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7
[4] Chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại
phiên tòa.
[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng xét
được miễn do tuổi già theo quy định.
[5] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí của Tòa án.
Tuyên:
1. Không chấp nhận kháng cáo của Nguyên đơn; giữ nguyên Bản án sơ
thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Nam.
2. Án phí phúc thẩm: nguyên đơn ông Trần B được miễn.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.
THẨM PHÁN THÀNH VIÊN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Ngọc Thông Trương Công Thi Võ Thị Ngọc Dung
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 20/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 13/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 12/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 11/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 08/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 05/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 01/08/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 31/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 25/07/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm