Bản án số 283/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 283/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 283/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 283/2024/DS-ST
Tên Bản án: | Bản án số 283/2024/DS-ST ngày 27/08/2024 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND Quận 6 (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
Số hiệu: | 283/2024/DS-ST |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 27/08/2024 |
Lĩnh vực: | Dân sự |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ/việc: | chấp nhận yêu cầu khởi kiện |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X
THÀNH PHỐ H
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án số: 283/2024/DS-ST
Ngày: 27/8/2024.
Về việc: “Tranh chấp liên quan đến
yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng
vô hiệu”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X - THÀNH PHỐ H
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Lưu Ly.
2. Ông Trần Đức Nhì.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân
QUẬN X.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN X, Thành phố H tham gia phiên
tòa: Bà Đỗ Thị Anh Đào – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân QUẬN X xét xử sơ
thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ L số 157/2023/TLST-DS ngày 10 tháng
10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công
chứng vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2024/QĐXXST-DS
ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Thái Thị N, sinh năm 1962;
Địa ch thường trú: Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành
phố H.
- Bị đơn:
1/ Bà Nguyễn Thị Mười H, sinh năm 1971;
2/ Ông Bùi Hữu V, sinh năm 1995;
Cùng địa ch: Số 217/26 đường B, Phường 13, QUẬN X, Thành phố H.
- Người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Khấu Thị Bích T, sinh năm 1993;
2
2/ Bà Khấu Thị Trâm A, sinh năm 1999;
Cùng địa ch: Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành phố
H.
3/ Ông Khấu Minh T, sinh năm 1988;
Địa ch thường trú: Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X,
Thành phố H.
Địa ch hiện tại: Trung tâm cai nghiện ma túy Bố Lá - Ấp Bố Lá, xã
Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tnh Bình Dương.
4/ Bà Công Tằng Tôn Nữ Mỹ L, sinh năm 1938.
Địa ch: Khu 6, Ấp 2, xã T, huyện B, tnh A.
5/ Phòng Công Chứng Số 7, Thành phố H.
* Người đại diện theo ủy Quyền: Ông Nguyễn Bình Q, sinh năm 1970;
Địa ch: Số 388 đường N, Phường 12, QUẬN X, Thành phố H.
Bà Thái Thị N, bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu V có mặt. Các
đương sự khác có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện; các Bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn là Thái Thị N trình bày:
Bà và ông Khấu Thiên L cùng đứng tên Quyền sở hữu nhà đất tọa lạc tại
Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành phố H theo Giấy chứng
nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp giấy: 2940 ngày
18/8/2004, cập nhật biến động ngày 30/8/2005, ngày 22/8/2008, ngày 17/5/2016,
ngày 13/4/2021.
Ngày 19/4/2021, bà và ông Khấu Thiên L vay của ông Bùi Văn Q và bà
Nguyễn Thị Mười H số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2%/tháng,
nhưng hai bên không lập hợp đồng vay tiền. Để bảo đảm cho số tiền vay thì bà
và ông L ký Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng Q sử dụng đất ở nêu trên
cho ông Bùi Văn Q, hợp đồng công chứng số 06073, Quyển số: 04/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành phố H. Sau khi
ký hợp đồng thì bà đã giao giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho vợ chồng
ông Q giữ, còn nhà, đất từ trước tới nay gia đình bà vẫn sử dụng, quản L. Đến
nay, bà vẫn đóng lãi hàng tháng cho bà Nguyễn Thị Mười H theo lãi suất do hai
bên thỏa thuận từ trước.
Tháng 8 năm 2021, ông Khấu Thiên L và ông Bùi Hữu Q bị bệnh chết.
Do hợp đồng mua bán nhà, đất nêu trên giữa vợ chồng bà và ông Bùi Văn
Q là giả cách nên bà yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với Hợp đồng mua
bán nhà ở, chuyển nhượng Q sử dụng đất ở giữa vợ chồng bà và ông Bùi Văn Q,
Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, địa ch: Số 388 đường N, Phường 12,
3
QUẬN X, Thành phố H công chứng số 06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021.
Bà đồng ý trả lại cho bà Nguyễn Thị Mười H số tiền vay 300.000.000
đồng, không yêu cầu tính lại lãi suất mà bà đã trả cho bà Nguyễn Thị Mười H.
* Theo bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ, bị đơn là bà Nguyễn Thị Mười H trình bày:
Bà thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của bà Thái Thị N. Bà xác nhận:
Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở số công chứng:
06073, Quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 tại Phòng Công
chứng số 7, Thành phố H giữa bà Thái Thị N, ông Khấu Thiên L với ông Bùi
Văn Q thực chất là một hình thức thế chấp, đảm bảo cho số tiền vay
300.000.000 đồng của vợ chồng bà N, đúng như bà N trình bày.
Sau khi ông Q chết, bà và con trai là ông V có thừa nhận việc vay mượn
này với bà N. Nhưng do Hợp đồng đã được công chứng và nay ông Khấu Thiên
L đã chết nên liên quan đến các con và mẹ đẻ của ông L nên bà và bà N không
tự hủy bỏ hợp đồng mua bán được. Do đó, bà cũng đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của bà Thái Thị N về việc yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng mua bán nhà ở,
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa một bên là ông Khấu Thiên L, bà
Thái Thị N và ông Bùi Văn Q đối với căn nhà Số 217/20/24 đường H, Phường
13, QUẬN X, Thành phố H (Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, Thành phố
H công chứng số 06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021) là vô hiệu. Yêu cầu bà N
hoàn trả lại cho bà và ông V số tiền 300.000.000 đồng. Bà đồng ý trả lại cho bà
Thái Thị N Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà bản chính
của nhà, đất nêu trên.
* Theo bản tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công
khai chứng cứ, bị đơn là ông Bùi Hữu V trình bày:
Ông thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của bà Thái Thị N và bà
Nguyễn Thị Mười H về việc yêu cầu Tòa án tuyên vô hiệu Hợp đồng mua bán
nhà ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa một bên là ông Khấu Thiên L,
bà Thái Thị N và ông Bùi Văn Q đối với căn nhà Số 217/20/24 đường H,
Phường 13, QUẬN X, Thành phố H (Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, địa
ch: Số 388 đường N, Phường 12, QUẬN X, Thành phố H công chứng số
06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021) do giả cách. Yêu cầu bà N hoàn trả lại cho
ông và bà Mười Hai số tiền nợ vay 300.000.000 đồng.
* Theo bản tự khai, người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Khấu
Thị Bích T, bà Khấu Thị Trâm A, ông Khấu Minh T trình bày:
Các ông, bà là con của ông Khấu Thiên L và bà Thái Thị N, có biết về
việc cha mẹ vay mượn số tiền 300.000.000 đồng của vợ chồng bà Nguyễn Thị
Mười H, ông Bùi Văn Q. Các ông, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà N
về việc yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng Quyền
sử dụng đất ở giữa một bên là ông Khấu Thiên L, bà Thái Thị N và ông Bùi Văn
Q đối với căn nhà Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành phố H
4
(Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, địa ch: Số 388 đường N, Phường 12,
QUẬN X, Thành phố H công chứng số 06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021) là
vô hiệu do giả cách.
Do nhà, đất nêu trên là tài sản của cha mẹ, các ông bà không có đóng góp
gì nên không có yêu cầu gì.
* Theo bản tự khai, người có Q lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Công Tằng
Tôn Nữ Mỹ L trình bày:
Bà là mẹ đẻ của ông Khấu Thiên L, bà có biết về việc ông L bà N vay
mượn số tiền 300.000.000 đồng của vợ chồng bà H, ông Q. Bà thống nhất với
yêu cầu khởi kiện của bà N về việc yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng mua bán nhà
ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa một bên là ông Khấu Thiên L, bà
Thái Thị N và ông Bùi Văn Q đối với căn nhà Số 217/20/24 đường H, Phường
13, QUẬN X, Thành phố H (Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, địa ch: Số
388 đường N, Phường 12, QUẬN X, Thành phố H công chứng số 06073, Quyển
số 04 ngày 19/4/2021) là vô hiệu.
Bà không có yêu cầu gì về Quyền lợi trong vụ án này nên đề nghị không
đưa bà vào tham gia tố tụng trong vụ án này do không liên quan.
* Theo bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Phòng
Công Chứng Số 7, Thành phố H, thông qua người đại diện theo ủy quyền là
ông Nguyễn Bình Q trình bày:
Công chứng viên của Phòng Công chứng số 7 đã thực hiện việc chứng
nhận Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Số công
chứng: 06073, Quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021, giữa ông
Khấu Thiên L, bà Thái Thị N và ông Bùi Văn Q theo đúng trình tự, thủ tục pháp
luật quy định, theo yêu cầu và theo các giấy tờ do các bên tham gia hợp đồng
xuất trình. Theo Khoản 1 Điều 47 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Người
yêu cầu công chứng là cá nhân phải có năng lực hành vi dân sự, phải xuất trình
đủ giấy tờ cần thiết liên quan đến việc công chứng và chịu trách nhiệm về tính
chính xác, tính hợp pháp của các giấy tờ đó”. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết
vụ án theo quy định của pháp luật.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Bà Thái Thị N trình bày: Bà xác định hợp đồng mua bán nhà giữa bà,
ông Khấu Thiên L và ông Bùi Văn Q là hình thức thế chấp cho số tiền vay
300.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng thì bà đã giao giấy tờ nhà, đất cho ông
Q giữ, còn gia đình bà vẫn sử dụng nhà, đất.
Trong quá trình giải quyết vụ án, do không hiểu thuật ngữ pháp L nên bà
có yêu cầu hủy bỏ hợp đồng mua bán nhà, đất giữa bà, ông Khấu Thiên L với
ông Bùi Văn Q để trả lại số tiền vay cho bà Nguyễn Thị Mười H. Nay bà xác
định lại là yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng Q
sử dụng đất ở giữa bà, ông Khấu Thiên L và ông Bùi Văn Q được công chứng số
06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành phố H là
5
vô hiệu do giả cách, bà yêu cầu được nhận lại Giấy chứng nhận Quyền sử dụng
đất. Bà đồng ý trả lại cho bà Mười Hai và ông V số tiền 300.000.000 đồng.
Không yêu cầu tính lại tiền lãi đã trả cho bà Mười Hai.
- Bị đơn là bà Nguyễn Thị Mười H trình bày:
Bà thống nhất hoàn toàn với lời trình bày của bà Thái Thị N, bà đồng ý
hủy bỏ hợp đồng mua bán nhà giữa bà N, ông L và chồng bà là ông Bùi Văn Q.
Bà yêu cầu bà N trả cho bà số tiền 300.000.000 đồng và bà trả lại cho bà N giấy
chứng nhận Q sử dụng đất bản chính.
- Bị đơn là ông Bùi Hữu V trình bày:
Ông thống nhất hoàn toàn với ý kiến của bà Nguyễn Thị Mười H, không
có ý kiến gì bổ sung.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân QUẬN X phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ L, giải quyết vụ án và tại phiên tòa,
Thẩm phán và thư ký đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật;
- Về nội dung:
Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Số công
chứng: 06073, Quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 đã được
thực hiện theo đúng trình tự thủ tục pháp L giữa bên bán là bà Thái Thị N và
ông Khấu Thiên L; bên mua là ông Bùi Văn Q. Tuy nhiên, căn cứ lời trình bày
của các đương sự có cơ sở xác định đây là hợp đồng giả cách, thực chất Hợp
đồng mua bán này là một hình thức thế chấp, đảm bảo cho số tiền vay
300.000.000 đồng của vợ chồng bà N và ông L với ông Q.
Vì vậy, căn cứ Điều 117; Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015, Hợp đồng
mua bán nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở Số công chứng: 06073,
Quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 “Không có giá trị thc
hiện”, không phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm ký kết.
Căn cứ lời khai của các đương sự, hai bên đều có lỗi dẫn đến Hợp đồng không
có giá trị thực hiện được. Vì vậy, các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã
nhận.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Điều 26; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 117, Điều 131 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội;
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tuyên “Hợp đồng
mua bán nhà ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở Số công chứng: 06073,
Quyển số: 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021” là vô hiệu.
Buộc bà Nguyễn Thị Mười H trả lại cho bà Thái Thị N bản chính Giấy
chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số vào sổ cấp giấy:
6
2940 ngày 18/8/2004, cập nhật biến động ngày 30/8/2005, ngày 22/8/2008, ngày
17/5/2016, ngày 13/4/2021.
Buộc bà Thái Thị N thanh toán cho bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu
V số tiền 300.000.000 đồng.
Về án phí: Các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa, trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
QUẬN X, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn tranh chấp yêu cầu tuyên bố văn
bản công chứng vô hiệu đối với bị đơn có nơi cư trú tại địa ch: Số 217/26
đường B, Phường 13, QUẬN X, Thành phố H. Do đó, vụ án thuộc tranh chấp
quy định tại khoản 11 Điều 26 và thuộc thẩm Q giải quyết của Tòa án nhân dân
QUẬN X theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về sự vắng mặt người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử
quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng mua bán
nhà ở, chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở số công chứng: 06073, Quyển số:
04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành
phố H vô hiệu:
Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều xác nhận: Ngày
19/4/2021, bà Thái Thị N và ông Khấu Thiên L vay của ông Bùi Văn Q số tiền
300.000.000 đồng, nhưng không ký hợp đồng vay. Để đảm bảo cho số tiền vay
thì hai bên thỏa thuận ký Hợp đồng mua bán nhà ở, chuyển nhượng Quyền sử
dụng đất ở đối với Quyền sử dụng đất và nhà của ông L, bà N tại Số 217/20/24
đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành phố H theo Giấy chứng nhận Quyền sở
hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 70111252302, số vào sổ cấp giấy:
2940/2004 ngày 18/8/2004 do Ủy ban nhân dân QUẬN X cấp cho ông Khấu
Thiên L và bà Thái Thị N, hợp đồng được công chứng số 06073, Quyển số:
04/2021TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành
phố H. Sau khi ký hợp đồng mua bán thì bà N, ông L giao cho ông Q giữ giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, còn nhà, đất từ trước tới nay gia đình bà N vẫn
sử dụng, quản L.
Như vậy, đây là hợp đồng giả cách, hợp đồng mua bán nhà coi như một
hình thức thế chấp đảm bảo cho khoản tiền vay.
7
Nay các bên đương sự đều yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng mua bán nhà
ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa vợ chồng bà N, ông L và ông Bùi
Văn Q đối với căn nhà Số 217/20/24 đường H, Phường 13, QUẬN X, Thành
phố H, Hợp đồng do Phòng Công chứng số 7, Thành phố H công chứng số
06073, Quyển số 04 ngày 19/4/2021 là vô hiệu.
Xét thấy, Hợp đồng mua bán nhà, đất nêu trên giữa các bên về hình thức
là hợp lệ, nhưng về nội dung giao dịch là không có thật. Việc ký kết hợp đồng
mua bán nhà giữa các bên là nhằm che dấu một giao dịch dân sự khác. Vì vậy,
đây được coi là giao dịch trái pháp luật nên bị vô hiệu từ khi ký kết. Phòng Công
chứng số 7 không có lỗi trong việc công chứng hợp đồng, nhưng do hợp đồng vi
phạm về mặt nội dung, nên Hội đồng xét xử tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà ở,
chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa vợ chồng bà Thái Thị N, ông Khấu
Thiên L và ông Bùi Văn Q, công chứng số 06073, Quyển số: 04/2021TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành phố H là vô
hiệu.
Do hợp đồng trái pháp luật, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các
bên theo thỏa thuận trong hợp đồng, nên các bên phải hoàn trả cho nhau những
gì đã nhận. Cụ thể: Bà Thái Thị N có nghĩa vụ trả lại cho vợ và con của ông Bùi
Văn Q là bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu V số tiền vay 300.000.000 đồng.
Thời hạn thanh toán: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Ghi nhận bà Thái Thị N không yêu cầu bà Nguyễn Thị Mười H tính lại số
tiền lãi đã trả.
Bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu V có nghĩa vụ phải giao trả cho bà
Thái Thị N Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số
70111252302, số vào sổ cấp giấy: 2940/2004 ngày 18/8/2004 do Ủy ban nhân
dân QUẬN X cấp cho ông Khấu Thiên L và bà Thái Thị N.
Thời hạn giao trả giấy: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[3.] n ph dân s sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Mười H và anh Bùi Hữu V phải chịu án phí dân sự là
300.000 đồng theo Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bà Thái Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng. Nhưng
do bà Thái Thị N thuộc đối tượng người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án phí
nên không phải đóng tiền án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 của Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
V các l trên;
QUYT ĐỊNH:
8
- Căn cứ vào khoản 3, khoản 11 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39, Điều 48, Điều 147, Điều 150, Điều 227, Điều 228, Điều
266,Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 117, Điều 122, Điều 124, Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân
sự 2015;
- Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- Căn cứ Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tuyên bố Hợp đồng mua
bán nhà ở, chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ở giữa bà Thái Thị N, ông Khấu
Thiên L và ông Bùi Văn Q, công chứng số 06073, 04/2021TP/CC-SCC/HĐGD
ngày 19/4/2021 tại Phòng Công chứng số 7, Thành phố H là vô hiệu.
1.1. Buộc bà Thái Thị N có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị Mười H,
ông Bùi Hữu V số tiền vay 300.000.000 đồng. Ghi nhận bà Thái Thị N không
yêu cầu bà Nguyễn Thị Mười H tính lại số tiền lãi đã trả.
Thời hạn thanh toán: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu V có đơn yêu cầu thi
hành án cho đến khi thi hành án xong, bà Thái Thị N còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều
468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
1.2. Buộc bà Nguyễn Thị Mười H, ông Bùi Hữu V phải giao trả cho bà
Thái Thị N Giấy chứng nhận Q sở hữu nhà ở và Q sử dụng đất ở số
70111252302, số vào sổ cấp giấy: 2940/2004 ngày 18/8/2004 do Ủy ban nhân
dân QUẬN X cấp cho ông Khấu Thiên L và bà Thái Thị N.
Thời hạn giao trả giấy: Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. n phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Mười H và anh Bùi Hữu V phải chịu án phí dân sự là
300.000 đồng.
Bà Thái Thị N thuộc đối tượng người cao tuổi và đã có đơn xin miễn án
phí nên không phải đóng tiền án phí.
3. Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có Quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án.
Những người có Quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có Quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo
quy định.
9
4. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi
hành án dân sự có Quyền thỏa thuận thi hành án, Quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố H (01);
- VKSND QUẬN X (2);
- Chi Cục Thi hành án dân sự QUẬN X (1);
- Các đương sự (2);
- Lưu VP (3), HSVA (2);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Tú
Nơi nhận:
- TAND Thành phố H(01);
- VKSND QUẬN X (2);
- Chi Cục Thi hành án dân sự QUẬN X (1);
- Các đương sự (2);
- Lưu VP (3), HSVA (2);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Tú
Nơi nhận:
- TAND Thành phố H(01);
- VKSND QUẬN X (2);
- Chi Cục Thi hành án dân sự QUẬN X (1);
- Các đương sự (2);
- Lưu VP (3), HSVA (2);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Tú
TM.
HỘI
ĐỒNG
XÉT
XỬ
SƠ
THẨ
M
THẨ
M
PHÁN
-CHỦ
TỌA
PHIÊ
N
TÒA
Lê Thị
Tú
Tải về
Bản án số 283/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án số 283/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/11/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 26/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 19/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 13/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 10/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 07/09/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 23/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 14/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/08/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 31/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 29/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 19/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 19/07/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 28/06/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/06/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 24/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 10/05/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm