Bản án số 264/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 264/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 264/2025/DS-PT ngày 23/09/2025 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 264/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thành P tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất Nguyễn Tấn H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 264/2025/DS-PT Bản án số 264/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 264/2025/DS-PT Bản án số 264/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 264/2025/DS-PT
Ngày: 23-9-2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền với đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Vân
Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Ngọc Huyền – Thư ký, Toà án nhân dân tỉnh Lâm
Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Hoàng Thị Hằng Kiểm
sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số 145/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 7 năm 2025 về việc
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của a
án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay Tòa án nhân n khu vực 4 – Lâm
Đồng) bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s357/2025/QĐ-PT ngày 11
tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 255/2025/-PT ngày 27
tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đỗ Thành P, sinh năm: 1979; trú tại số C, đường C, khu
phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc số B, đường P, khu
phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay 293, đường P, khu phố D,
phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức V, sinh năm: 1989; cư trú tại tổ
B, khu phố N, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định (nay là tổ B, khu phố N, phường H,
tỉnh Gia Lai). Văn bản ủy quyền ngày 17/01/2025.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1970, bà Hồ Ánh N, sinh năm: 1974; cư
trú tại B, T-B chung S, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
B19.03, T-B chung cư S, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Tấn H, sinh năm: 1970; cư
trú tại B, T-B chung S, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
B19.03, T-B chung S, phường A, Thành phố HChí Minh). Văn bản ủy quyền ngày
08/4/2024.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Huỳnh Công Đ, sinh năm: 1985;
cư trú tại số C, Đường B, khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy
quyền ngày 19/8/2025).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông H: Luật Nguyễn Văn H1 Văn
phòng Luật sư VietJuris thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị T, sinh năm: 1968; cư trú tại số A, đường N, phường L, thành ph
B, tỉnh Lâm Đồng (nay là số A, đường N, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng).
+ Trần Thị H2, sinh năm: 1967; trú tại số I, đường N, phường L, thành ph
B, tỉnh Lâm Đồng (nay là số I, đường N, phường L, Phường A B, tỉnh Lâm Đồng).
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm.
Người kháng cáo: Ông Đỗ Thành P Nguyên đơn; Ông Nguyễn Tấn H Bị đơn.
(Ông P, ông V, ông H, ông Đ, luật sư H1 có mặt tại phiên tòa; bà T, bà H2
đơn xin xét xử vắng mặt; các đương sự còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 02/01/2024, quá trình giải quyết vụ án đại diện theo y
quyền của nguyên đơn trình bày: Do nhu cầu mua đất để canh tác, làm ăn biết vợ
chồng ông H, N đang chuyển nhượng một số thửa đất với diện tích lớn, phù hợp
mục đích nên ông P liên hvợ chồng ông H, N để hỏi mua. Sau đó, vợ chồng
ông H, N cho biết hiện đang thỏa thuận cho bên Công ty TNHH D thuê để làm
trang trại nuôi heo giống công nghệ cao (Theo Biên bản ghi nhớ s03032023/BGN
ngày 03/03/2023 giữa Công ty TNHH D ông Nguyễn Tấn H giao kết), khi ông P
mua thì vợ chồng ông H, N sẽ cam kết chịu trách nhiệm làm thủ tục đề nghị quan
nhà nước thẩm quyền cấp toàn bộ giấy phép đủ điều kiện để kinh doanh trang trại
nuôi heo giống công nghệ cao để ông P thể cho Công ty TNHH D thuê trang trại.
Vợ chồng ông H, N còn thỏa thuận nếu không giao kết được hợp đồng thuê với
Công ty TNHH D tvợ chồng ông H, N strách nhiệm m một đơn vị khác
thuê lại trang trại nuôi heo giống nêu trên. Nếu vợ chồng ông H, bà N muốn cùng ông
P hợp tác đầu chung thì ông P sẽ kết một văn bản thỏa thuận hợp tác riêng.
vậy, ông P đồng ý mua của vợ chồng ông H, bà N các thửa đất và tài sản gắn liền trên
đất.
Các thửa đất gồm:
1. Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 2, diện tích 386m
2
, tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858763, số vào sổ
cấp GCN số CH00122 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
2. Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 6, diện tích 9.649m
2
, tọa lạc tại thôn G, L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 809919, số vào sổ
cấp GCN số H02544/QD: 5629 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
07/12/2009.
3. Thửa đất số 28, tờ bản đồ số 2, diện tích 258m
2
, tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858764, số vào sổ
cấp GCN số CH00121 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
4. Thửa đất số 25, tờ bản đồ số 2, diện tích 19.440m
2
, tọa lạc tại thôn G, L, tỉnh
Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858765, số vào sổ cấp
GCN số CH00120 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
5. Thửa đất số 93, 44, tờ bản đồ số 2 và thửa 197, tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại thôn
G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Các thửa đất này hiện vợ chồng ông H, bà N đang
làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tài sản trên đất gồm: Toàn bộ tài sản gắn liền trên đất trừ trang thiết bị máy móc
trong mỗi chuồng trại.
Theo đó, ngày 04/07/2023, ông P ông H hợp đồng đặt cọc để mua đất
tài sản gắn liền trên đất đối với các thửa đất nêu trên, giá cam kết chuyển nhượng
35.000.000.000 đồng. Ngay khi hợp đồng đặt cọc thì ông P đã đặt cọc cho vợ chồng
ông H, bà N số tiền 5.000.000.000 đồng. Đến ngày 16/08/2023 vợ chồng ông H, bà N
tiến hành bàn giao tài sản cho ông P, đồng thời đề nghị ông P đặt cọc thêm số tiền
3.000.000.000 đồng. Với thiện chí mong muốn mua đất hợp tác dài lâu, nên ngay
khi ký Biên bản giao tài sản ngày 16/08/2023 thì ông P đã đặt cọc thêm cho vợ chồng
ông H số tiền 3.000.000.000 đồng.
Do thiếu tiền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa
93; 44; 197 nên ông H đã ứng thêm tiền chuyển nhượng 02 lần cụ thể ngày 05/9/2023
ứng 200.000.000 đồng, ngày 25/9/2023 ứng thêm 100.000.000 đồng. Tổng cộng ông P
đã đặt cọc cho vợ chồng ông H, N số tiền 8.300.000.000 đồng. Vợ chồng ông H,
N trách nhiệm lo hồ sơ, thủ tục pháp đđđiều kiện chuyển nhượng quyền sử
dụng đất tài sản gắn liền trên đất; thực hiện các thtục pháp lý để đđiều kiện chăn
nuôi heo đủ điều kiện để Công ty TNHH D thuê trước ngày 30/09/2023 (cũng
ngày hai bên thỏa thuận kết hợp đồng chuyển nhượng tại phòng công chứng). Khi
hoàn tất các thủ tục nếu trên thì ông P sẽ giao đủ số tiền còn lại cho vợ chồng ông H,
N. Vchồng ông H, N cam kết nếu vi phạm, không thực hiện hoặc thực hiện
nhưng chưa đầy đủ và đúng thời hạn này thì ông P đương nhiên chủ sử dụng toàn bộ
đất và tài sản gắn liền trên đất mà không phải thanh toán cho vợ chồng ông H, bà N số
tiền còn lại.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay ông H, N đã không thực hiện theo đúng
thỏa thuận nên ông P tiếp tục gửi văn bản thông báo ông H, bà N đã vi phạm thời hạn
thỏa thuận và đề nghị ông H, N tiếp tục thực hiện, hoàn thiện các thủ tục pháp để
ký Hợp đồng chuyển nhượng với ông P tại Văn phòng công chứng nhưng đến nay ông
H, bà N vẫn im lặng, không chịu chuyển nhượng đất cho ông P. Trên thực tế các thửa
44, 93 197 chưa được cấp GCNQSD đất cho ông H nên không thể thực hiện việc
chuyển nhượng các thửa đất này.
Do đó, ông P khởi kiện yêu cầu cụ thể như sau:
- Công nhận sự thoả thuận giữa ông P vợ chồng ông Nguyễn Tấn H, Hồ
Ánh N theo Hợp đồng đặt cọc ngày 04/7/2023 và Biên bản bàn giao tài sản vào ngày
16/8/2023. Cụ thể, công nhận cho ông Đỗ Thành P được dụng các thửa đất tài sản
gắn liền trên đất là trang trại nuôi heo có thông tin cụ thể như sau:
1. Thửa đất số 37, tờ bản đồ số 2, diện tích 386m
2
, tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858763, số vào số
cấp GCN số CH00122 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
2. Thửa đất số 76, tờ bản đồ số 6, diện tích 9.649m
2
, tọa lạc tại thôn G, L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 809919, số vào sổ
cấp GCN số HO2544/QD: 5629 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày
07/12/2009.
3. Thửa đất số 28, tờ bản đồ số 2, diện tích 258m
2
, tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện
B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858764, số vào sổ
cấp GCN số CH00121 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
4. Thửa đất số 25, tờ bản đsố 2, diện tích 19.440m
2
, tọa lạc tại thôn G, xã L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA 858765, số
vào sổ cấp GCN số CH00120 do UBND huyện B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 15/04/2010.
5. Thửa đất số 93, 44, tờ bản đồ số 2 và thửa 197, tờ bản đồ số 06 tọa lạc tại thôn
G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng. Các thửa đất này hiện vợ chồng ông H, bà N đang
làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- T1 đề nghị quan có thẩm quyền đăng quyền sử dụng đất kiến nghị thu hồi
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã cấp cho ông Nguyễn Tấn H Hồ
Ánh N. Đề nghị quan thẩm quyền đăng biến động cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Đỗ Thành P.
- Buộc ông Nguyễn Tấn H Hồ Ánh N bàn giao lại toàn bộ Quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền trên đất là toàn bộ trang trại nuôi heo cho ông Đỗ Thành P theo
như biên bản bàn giao ngày 16/8/2023.
Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ hợp pháp ông P
cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm bản gốc hợp đồng đặt cọc ngày 04/7/2023, biên bản
bàn giao tài sản ngày 16/8/2023.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông H trình bày: Ông H xác nhận là có nhận s
tiền cọc của ông P 8.300.000.000 đồng như phía nguyên đơn trình bày; ông H cho
rằng ông không vi phạm hợp đồng đặt cọc ngày 04/7/2023 ng như biên bản bàn giao
ngày 16/8/2023. Do đó, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng
thời cho rằng ông đồng ý bán toàn bộ diện tích đất trên toàn bộ trại heo với giá
70.000.000.000 đồng, không phải 35.000.000.000 đồng như ông P trình bày. Các thửa
đất đã thỏa thuận bán gồm thửa số 25; 28; 37 tờ bản đồ 02 và thửa 76 tờ bản đồ số 6,
tọa lạc tại thôn G, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng đã được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đứng tên Nguyễn Tấn H hiện chưa đăng ký biến động cho bất kỳ cá nhân,
tổ chức nào. Đối với 03 thửa đất còn lại 93, 44 tờ bản đồ 02 và thửa 197 tờ bản đồ 06
tọa lạc tại thôn G, L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông hiện nay trên sổ mục địa chính đang đứng tên Trần Thị
T. Nguồn gốc các thửa đất trên ông mua lại của T năm 2020. Hiện ông đang làm thủ
tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên T xong sẽ lập hợp đồng chuyển
nhượng sang tên cho ông. Những thửa đất này vẫn nằm trong diện tích đất được UBND
huyện B cấp thỏa thuận địa điểm cho ông xây dựng trại heo giống công nghệ cao T2
do Genetis theo văn bản số 2459 ngày 06/9/2021.
Để chứng minh cho trình bày của ông là có căn cứ và hợp pháp ông Hậu cung C
tài liệu, chứng cứ gồm bản photo giấy chứng nhận đủ điều kiện chăn nuôi ngày
27/3/2024; Giấy phép môi trường ngày 22/9/2023.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T trình bày: Toàn bộ diện
tích đất tranh chấp giữa ông P và ông H hơn 6 ha có nguồn gốc do bà khai phá từ năm
1993, trong đó có phần đất được cấp GCNQSD đấtphần đất suối, sình khoảng 1.4
ha nay thửa 93, 44, 197 chưa được cấp GCNQSD đất. Năm 2020, đã chuyển
nhượng toàn bộ diện tích đất trên cho bà T3; sau đó bà T3 chuyển nhượng lại cho ông
H. Phần đất đã cấp GCNQSD đất đã sang tên trực tiếp qua cho ông H; phần chưa
được cấp GCNQSD đất thì ông H nhờ làm thủ tục đứng tên xong sẽ lập hợp đồng
chuyển nhượng lại cho ông H. Đất này bà đã chuyển nhượng cho ông H nên bà không
tranh chấp đề nghị giải quyết tranh chấp của ông P ông H theo quy định của
pháp luật.
Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị H2 trình bày: Nguồn gốc
thửa 197 do khai phá năm 1990, đã bán đất này cho T3 nhưng hiện nay s
mục vẫn đứng tên bà, không tranh chấp thửa đất y đề nghị giải quyết
tranh chấp của ông P và ông H theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày 21/4/2025: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn ông H xác nhận tài sản giao dịch với nguyên đơn khoảng 7 ha nằm trong
khuôn viên tường rào xây bao bọc trại heo gồm các thửa đất có ghi trong hợp đồng đặt
cọc ngày 04/7/2023 và biên bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023 gồm các thửa 93, 25,
28, 44, 21, 37, 76, 197; kể cả các thửa không ghi trong hợp đồng đặt cọc và trong biên
bản bàn giao tài sản thừa 21 và 42 như kết quả đo vẽ và tài sản trên đất như trại heo,
nhà ở công nhân, nhà ăn, ... nhưng không bao gồm trang thiết bị, máy móc đi kèm với
chuồng trại. Bị đơn ông H cho rằng ông không cung cấp đầy đủ thông tin các thửa đất
trên nên khi lập hợp đồng đặt cọc ngày 04/7/2025 và bàn giao tài sản ngày 16/8/2023
đã thiếu số thửa 21 và 42; đồng thời ông H cho rằng giá trị chuyển nhượng
70.000.000.000 đồng, không phải 35.000.000.000 đồng, hợp đồng đặt cọc ngày
04/7/2023 biên bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023 bản chất hợp đồng hợp tác
làm ăn không phải thỏa thuận chuyển nhượng.
Tại phiên tòa ngày 15/5/2025: Nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, yêu cầu
công nhận thêm thửa 21 42 tờ bản đồ 02 cho nguyên đơn c thửa này thuộc phần
diện tích 7 ha đã thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông P với vợ chồng ông H; Công
nhận toàn bộ diện tích 70.423,7m
2
gồm các thửa 93, 25, 42, 37, 44, 21 tờ bản đồ 02 và
thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 theo kết quả đo đạc địa chính thửa đất ngày 09/01/2025 và
28/4/2025 như ông H đã trình bày phần diện tích đất này đều nằm trong giao dịch
chuyển nhượng với ông P tại phiên tòa ngày 21/4/2025; rút một phần yêu cầu đối với
thửa 28 theo đo đạc bản đồ mới 2021 qua xác minh thì thửa s28 đã nhập vào
thửa số 42.
Tại phiên tòa ngày 11/6/2025:
- Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền trên đất Biên bản bàn giao tài sản ngày
16/8/2023 xác lập giữa ông ĐThành P ông Nguyễn Tấn H đối với thửa đất 93, 25,
42, 37, 44, 21, tờ bản đ02 thừa 76, 197 tờ bản đồ 06 L, huyện B, tỉnh m
Đồng; Công nhận cho ông Đỗ Thành P được quyền sử dụng thửa đất 93, 25, 42, 37,
44, 21, tờ bản đồ 02 thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng trừ đi
86,6m tường xây thuộc phần diện tích chưa đo đạc bản đồ địa chính không nằm
trong giao dịch chuyển nhượng trên đất 01 n nhà ăn diện tích 93.8m
2
và trừ đi
74,9m tường xây trên phần diện tích 123,3m
2
thuộc một phần thửa 90 tờ bản đồ 02 theo
họa đồ đo vẽ ngày 26/5/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện B; được
quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên đất theo kết quả thẩm định ngày 23/4/2025 trừ đi
trang thiết bị, máy móc đi kèm với chuồng trại; ông P tự nguyện thanh toán cho vợ
chồng ông H, N 27 tỷ đồng; ông P đồng ý nhận các tài sản do vợ chồng ông H bà N
tạo lập sau thỏa thuận chuyển nhượng như trạm điện, mái hiện, khu khử trùng đồng
ý thanh toán trị giá là 973.480.000 đồng. Đối với 300.000.000 đồng ông P chuyển qua
tài khoản của ông H các ngày 05-25/9/2023 bản chất là tiền chuyển nhượng nhưng do
khi chuyển ông P ghi cho mượn làm giấy tờ nên ông P rút yêu cầu đối với số tiền này
sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Đối với chi phí tố tụng đề nghị giải quyết theo quy
định của pháp luật.
- Ông H không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, cho rằng không
chuyển nhượng các thửa 21 42, số tiền 3.000.000.000 đồng giao nhận tại biên bản
bàn giao tài sản ngày 16/8/2023 là tiền cọc không phải thanh toán chuyển nhượng, do
ông P khởi kiện nên Công ty T4 không đồng ý thuê; mặt khác, ông P chưa thanh toán
27.000.000.000 đồng nên vợ chồng ông không thể ký hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản trên đất được nên không phải lỗi của vợ chồng ông.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại Bản án dân sự thẩm số 28/2025/DS-ST ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Tòa
án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay a án nhân n khu vực 4 Lâm
Đồng) đã xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thành P về việc
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với bị đơn
ông Nguyễn Tấn H, bà Hồ Ánh N.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đất là Biên bản bàn
giao tài sản ngày 16/8/2023 xác lập giữa ông Đỗ Thành P và ông Nguyễn Tấn H đối
với thửa đất 93, 25, 42, 37, 44, 21, tờ bản đồ 02 thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 xã L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Công nhận cho ông Đỗ Thành P được quyền sử dụng thửa 42, 21, 37, 25 tờ bản
đồ 02 và thửa 76 tờ bản đồ 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
(Kèm theo họa đồ đo vẽ ngày 26/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện
B, tỉnh Lâm Đồng kèm theo).
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Tấn H, Hồ Thị N1 nghĩa vụ giao cho ông P
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa 42, 21, 37, 25 tbản đồ 02 thửa
76 để thực hiện việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp
ông H, bà N1 không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì ông P quyền
yêu cầu quan thẩm quyền hủy cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
các thửa đất nêu trên.
- Tạm giao cho ông Đỗ Thành P được quyền sử dụng các thửa đất 44, 93 tờ bản
đồ 02 và thửa 197, tờ bản đồ 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (Có họa đồ đo vẽ ngày
26/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng kèm theo). Ông
P được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật đất
đai năm 2024.
- Buộc ông P nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông H, bà N1 số tiền chuyển
nhượng còn lại 27.000.000.000 đồng (Hai mươi bảy tỷ đồng).
- Giao cho ông Đỗ Thành P được quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên đất
thuộc các thửa 93, 25, 42, 37, 44, 21, tờ bản đồ 02 và thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 xã L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng gồm: Khu chuồng trại 1 diện tích 6369,7m
2
; khu chuồng trại
2 diện tích 5548,8m
2
; nhà công nhận 548,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà ăn
diện tích 122,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (năn) diện tích
94,2m
2
thuộc một phần thửa đất s76 21; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 151,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 19,8m
2
thuộc một
phần thửa đất số 76; nhà ăn trưa công nhân diện tích 80,3m
2
thuộc một phần thửa đất
số 21; Nhà văn phòng diện tích 265,8m
2
; hầm bioga diện tích 872,8m
2
thuộc một phần
thửa đất số 25; bể chứa diện tích 12,6m
2
; hồ chứa diện tích R4.5 63,6m
2
thuộc một
phần thửa đất số 25; hồ chứa a.11+a15 diện tích 346,0m
2
thuộc một phần thửa đất s
25; khu xchất thải diện tích 1220m
2
thuộc một phần thửa đất số 25 21; ao (1)
diện tích 1079,9m
2
; ao (2) diện tích 1947,7m
2
; đường bê tông diện tích 1595,8m
2
; nhà
khử trùng 1, diện tích 37,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 21, nkhử trùng 2 diện tích
29,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 197; mái hiên diện tích 155,9m
2
; 01 trạm điện diện
tích 42,7m
2
; tường rào xây diện tích 2478,5m
2
. (Có họa đồ đo vẽ ngày 26/5/2025 của
Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng kèm theo).
- Buộc ông P thanh toán lại cho ông H, bà N1 số tiền 973.480.000 đồng gồm g
trị nhà khử trùng 2 diện tích 29,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 197 trị giá 77.298.000
đồng; mái hiện diện tích 155,9m
2
trị giá 326.182.000 đồng; 01 trạm điện diện ch
42,7m
2
thuộc phần thửa 76 có trị giá 570.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của ông P đối với số tiền 300.000.000 đồng đã chuyển H mượn
vào các ngày 05-25/9/2023.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo trách
nhiệm thi hành án của các đương sự.
- Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 05/QĐ-VKS-DS ngày 26/6/2025 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay Viện
kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng) đề nghị sửa Bản án dân sự thẩm số
28/2025/DS-ST ngày 11/6/2025 của Toà án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng
theo hướng:
+ Xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc và tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.
+ Hủy hợp đồng đặt cọc theo Biên bản bán tài sản ngày 16/8/2023 giữa ông Đỗ
Thành P với vợ chồng ông Nguyễn Tấn H, bà Hồ Ánh N.
+ Buộc ông Nguyễn Tấn H trả lại cho ông Đỗ Thành P 8.000.000.000 đồng.
+ Buộc nguyên đơn chịu án phí 300.000 đồng, buộc bị đơn chịu án phí đối với số
tiền 8.000.000.000 đồng phải trả cho nguyên đơn. Buộc nguyên đơn bị đơn mỗi bên
chịu ½ chi phí tố tụng.
- Ngày 16/6/2025 bị đơn ông Nguyễn Tấn H đơn kháng cáo đề nghị hủy một
phần hoặc toàn bộ bản án thẩm; không buộc ông phải chuyển nhượng 2 thửa đất 21,
42; xem xét lại toàn bộ nội dung hợp đồng, các tài sản trong biên bản bàn giao
giá trị thực tế.
- Ngày 25/6/2025 nguyên đơn ông Đỗ Thành P có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản
án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Ông H đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản án sơ thẩm. Người đại diện của
ông H cho rằng, ông P khởi kiện yêu cầu giải quyết 3 nội dung nhưng Tòa án cấp
thẩm cho đóng tạm ng án phí 300.000 đồng không đúng. Luật của của ông H
cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định sai quan hệ tranh chấp, giải quyết vượt quá yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn, một số thửa đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nên áp dụng Điều 408 Bộ luật Dân sự, xác định hợp đồng không thể thực
hiện được, đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm.
- Ông P rút toàn bộ kháng cáo. Ông P không đồng ý với kháng cáo của ông H và
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, đề nghị giải quyết
như án sơ thẩm. Người đại diện của ông P cho rằng số tiền 3.000.000.000 đồng ông P
thanh toán cho ông H tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tin nhắn cũng ghi
chuyển mua trại heo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự
tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay: đã chấp hành đúng quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, rút toàn bộ Quyết định kháng nghị phúc thẩm số
05/QĐ-VKS-DS ngày 26/6/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo
Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Đề nghị HĐXX: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm (nay Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 4 Lâm Đồng); đình chỉ đối với kháng cáo của nguyên đơn; không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Đỗ Thành P, ông Nguyễn Tấn H; kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm; người kháng cáo, kháng nghị; thủ tục
kháng cáo, kháng nghị được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273,
278, 279 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm
(nay Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 Lâm Đồng) kháng cáo của ông Đỗ
Thành P, ông Nguyễn Tấn H:
[2.1] Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng rút
toàn bộ kháng nghị nguyên đơn ông P rút toàn bộ kháng cáo n đình chỉ xét xử
phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm
(nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng) và kháng cáo của nguyên đơn
ông P.
[2.2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn H thì thấy rằng:
Tại phiên tòa đại diện bđơn cho rằng đơn khởi kiện của nguyên đơn 3 yêu
cầu: Thứ nhất: công nhận sự thỏa thuận giữa ông P với vợ chồng ông H, bà N được sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất (trại heo); Thứ hai: đề nghị quan thẩm quyền
đăng ký quyền sử dụng đất, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông
H, bà N, đăng biến động sang tên ông P; Thba: buộc ông H, bà N bàn giao quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (trại heo) cho ông P. Như vậy, nguyên đơn phải
đóng án phí không giá ngạch là 900.000 đồng, cấp sơ thẩm cho ông P đóng 300.000
đồng không đúng. Tuy nhiên, đây bản tự khai của ông P (BL 14-16). Đơn khởi
kiện (BL 08-09) ông P yêu cầu: buộc ông H, N tiếp tục thực hiện nghĩa vụ kết
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông P với các thửa đất tài sản trên
đất. Do đó, Tòa án cấp thẩm cho ông P đóng 300.000 đồng tạm ứng án phí không
giá ngạch xác định quan hệ tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” là đúng quy định, nên trình bày của đại
diện bị đơn là không có căn cứ chấp nhận.
Ngày 04/7/2023 ông P ông H kết hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất tài sản gắn liền với đất các thửa 28, 37, 25, 44, 93 tờ bản đồ s2 thửa
76, 197 tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại thôn G, L, huyện B với giá 35.000.000.000 đồng,
ông P đặt cọc cho ông H 5.000.000.000 đồng. Đến ngày 16/8/2023 vợ chồng ông H,
N ông P lập hợp đồng bàn giao tài sản, theo đề nghị của ông H, N thì ông P
đặt cọc thêm 3.000.000.000 đồng. Như vậy, số tiền 3.000.000.000 đồng ông H nhận
ngày 16/8/2023 tiền chuyển nhượng. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ
tranh chấp là“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất” là đúng pháp luật.
Đối với kháng cáo của ông H đề nghị hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, không đồng ý
chuyển nhượng thửa 21, 42, đề nghị xem xét lại toàn bộ nội dung hợp đồng, các tài sản
có trong biên bản bàn giao và giá trị thực tế, thì thấy rằng:
Ông H cho rằng hai thửa đất 21, 42 tờ bản đồ số 2, xã L, huyện B (cũ), không có
trong biên bản bàn giao, chưa sang tên cho ông, không thuộc phạm vi tài sản ông đồng
ý chuyển nhượng. Tuy nhiên, tại phiên tòa thẩm ngày 21/4/2025ngày 15/5/2025
ông H thừa nhận đã thỏa thuận chuyển nhượng khoảng 7 ha đất và tài sản gắn liền với
đất nằm trong khuôn viên trại heo, đã xây tường rào bao quanh. Bao gồm cả quyền sử
dụng đất các thửa ghi trong hợp đồng đặt cọc, biên bản bàn giao và cả các thửa 21, 42
không được ghi trong hợp đồng đặt cọc, biên bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023. Án
sơ thẩm nhận định thửa 21, 42 tài sản trên đất nằm trong thỏa thuận chuyển nhượng
là có căn cứ. Bởi lẽ, các bên đều xác nhận diện tích chuyển nhượng là 7 ha; tổng diện
tích đo đạc 70.523.7m
2
(chưa trừ diện tích 392.1m
2
chưa được đo đạc bản đồ địa
chính). Như vậy, nếu không tính diện tích thửa 21, 42 thì diện tích đất chỉ n ới
năm mươi ngàn mét vuông là không thực tế. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã xác minh tại
cơ quan chuyên môn thì các thửa 21, 42 đã cấp quyền sử dụng đất cho ông H và chưa
có đăng ký biến động. Tại phiên tòa hôm nay ông H thừa nhận hệ thống trang trại nuôi
heo cũng nằm trên thửa 21 và 42. Ngoài ra, ông H cho rằng giao dịch giữa ông và ông
P tại hợp đồng đặt cọc ngày 04/7/2023 biên bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023 bản
chất hợp đồng hợp tác làm ăn, không phải hợp đồng chuyển nhượng giá trị chuyển
nhượng 70.000.000.000 đồng, không phải 35.000.000.000 đồng nhưng ông H không
tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Căn cứ Điều 3 của
Hợp đồng đặt cọc và mục 1 phần II Biên bản bản giao tài sản đều ghi nhận giá trị Hợp
đồng là 35.000.000.000 đồng.
Tại thời điểm ký Biên bản bàn giao ngày 16/8/2023 các bên đều biết các thửa
93, 44, 197 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, vẫn đứng tên bà T, bà
H2 trên sổ mục kê. Tuy nhiên, đây các thửa đất nguồn gốc hợp pháp, do bị đơn
quản lý, sử dụng ổn định, không tranh chấp, đang hoàn tất hồ để được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất chỉ thủ tục hành chính tạm thời. Các thửa đất này cũng nằm trong phần diện tích
được UBND huyện B cấp thỏa thuận địa điểm cho ông H xây dựng trại heo nên không
cản trở việc thực hiện giao dịch.
Căn cứ tại mục 4 phần II của Biên bản bàn giao tài sản ngày 16/8/2023 thể hiện
điều kiện của hợp đồng chuyển nhượng như sau: “Bên A trách nhiệm nghĩa vụ
thực hiện các thủ tục đủ điều kiện để cho thuê nêu trên chậm nhất ngày 30/9/2023.
Trường hợp sau ngày y bên A không thực hiện và/hoặc thực hiện nhưng chưa
đầy đủ đúng thời hạn này thì bên B đương nhiên chủ sử dụng toàn bộ đất tài
sản gắn liền trên đất mà không phải thanh toán cho bên A số tiền còn lại”.
Căn cứ Điều 120 Bluật dân sự về giao dịch dân sự điều kiện các n thỏa
thuận bên A (vợ chồng ông H), Công ty T4 thuê hoặc đơn vị khác thuê, giấy phép
xây dựng, giấy phép môi trường, giấy tờ pháp về đủ điều kiện chăn nuôi heo, giấy
tờ pháp đủ điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất các thửa 44, 93, 197 cho bên
B ng P) trước ngày 30/9/2025. Tuy nhiên, vợ chồng ông H chỉ xin được giấy phép
môi trường ngày 22/9/2023, các điều kiện còn lại không thực hiện được nên đã vi phạm
thỏa thuận tại mục 4 phần II nêu trên nên phát sinh hiệu lực của giao dịch này. Điều đó
nghĩa ông P đã thực hiện đầy đủ nghĩa vtrong giao dịch tại biên bản bàn giao
tài sản ngày 16/8/2023. Tại thời điểm kết hợp đồng đặt cọc và biên bản bàn giao tài
sản chủ thể ký kết đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự, các bên
tham gia giao dịch đều tự nguyện, không bị cưỡng ép, đe dọa, không trái pháp luật và
đạo đức xã hội.
Điều 129 Bộ luật dân sự về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định
về hình thức: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định
bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai
phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra
quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này các bên không
phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”. Mặc , biên bản bàn giao tài sản vi
phạm về hình thức nhưng Tòa án cấp thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch
cơ sở.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thẩm, ông H thừa nhận chỉ xin được
giấy phép môi trường ngày 22/9/2023, các điều kiện còn lại không thực hiện được và
không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh lý do khách quan của việc không
thực hiện được vi phạm thỏa thuận tại mục 3, 4 phần II của Biên bản bàn giao tài sản
ngày 16/8/2023 là lỗi hoàn toàn thuộc về vợ chồng ông H. Do đó căn cứ mục 04 phần
II biên bản bàn giao tài sản thì cósở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông
P ông P không phải thanh toán cho vợ chồng ông H số tiền chuyển nhượng còn lại.
Tuy nhiên, ông P tự nguyện thanh toán cho vợ chồng ông H 27.000.000.000 đồng nên
Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện của ông P là phù hợp.
Về tài sản trên đất nằm trong giao dịch chuyển nhượng: Căn cứ bản vẽ ngày
26/5/2025, nhận định nêu trên thừa nhận của ông H tại biên bản thẩm định ngày
23/4/2025, gồm có: diện tích 5548,8m
2
; Khu chuồng trại 1 diện tích 6369,7m
2
; khu
chuồng nhà công nhân 548,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà ăn diện ch
122,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 94,2m
2
thuộc
một phần thửa đất số 76 21; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 151,8m
2
thuộc một
phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 19,8m
2
thuộc một phần thửa đất
số 76; nhà ăn trưa công nhân diện tích 80,3m
2
thuộc một phần thửa đất số 21; Nhà văn
phòng diện tích 265,8m
2
; hầm bioga diện tích 872,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 25;
bề chứa diện tích 12,6m
2
; hồ chứa diện tích R4.5 63,6m
2
thuộc một phần thừa đất số
25; hồ chứa a.11+a.15 diện tích 346,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 25; khu xử chất
thải diện tích 1220m2 thuộc một phần thửa đất số 25 và 21; ao (1) diện tích 1079,9m
2
;
ao (2) diện tích 1947,7m
2
; đường tông diện tích 1595,8m
2
; nkhử trùng 1 diện tích
67,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 21; tường rào xây diện tích 2478,5m (2640m -
161,5m).
- Tài sản không nằm trong giao dịch chuyển nhượng gồm có:
+ Phần tài sản vợ chồng ông H tạo lập sau khi các bên kết hợp đồng đặt cọc
bàn giao tài sản gồm: Nhà khử trùng 2 diện tích 29,0m
2
thuộc một phần thửa đất s
197 trị giá 77.298.000 đồng ã làm tròn); mái hiên diện tích 155,9m trị giá
326.182.000 đồng (đã làm tròn); 01 trạm điện diện tích 42,7m thuộc phần thửa 76
trị giá 570.000.000 đồng. Tổng trị giá 973.480.000 đồng. Phần tài sản này nếu tháo rời
sẽ làm mất công năng sử dụng. Do đó, giao cho ông P sở hữu, sử dụng; ông P có trách
nhiệm thanh toán lại cho vợ chồng ông H giá trị là 973.480.000 đồng là phù hợp.
+ Phần tài sản không nằm trong giao dịch chuyển nhượng nhưng thuộc khuôn
viên tường xây bao quanh gồm: Phần diện tích chưa đo đạc theo bản đồ địa chính
392,1m
2
trên đất có 01 nhà ăn 93,8m
2
, tường rào xây 74,9m thuộc phần diện tích chưa
đo đạc theo bản đồ địa chính và 2105,4m
2
có 86,6m tường rào xây thuộc phần thửa 90
tờ bản đồ 02 là đường giao thông. Ông P cho rằng phần diện tích đất này không thuộc
thỏa thuận chuyển nhượng, chưa được đo đạc thuộc đường giao thông nên không
yêu cầu vì vậy không xem xét giải quyết.
+ Đối với trang thiết bị máy móc đi kèm với chuồng trại: Do chuyển nhượng tài
sản này, ông H xác nhận tài sản trên tháo rời ra được không mất đi công năng sử dụng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại giai đoạn thi hành án vợ chồng ông H tự tháo
gỡ, di dời.
Đối với số tiền 300.000.000 đồng ông P chuyển cho ông H ngày 05-25/9/2023:
Do ông P t yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết, ông P quyền khởi
kiện bằng vụ án dân sự khác.
Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn
Tấn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định, đo vẽ định giá tài sản stiền
174.324.000 đồng ng P đã ứng chi quyết toán xong). Do yêu cầu khởi kiện của
ông P được chấp nhận nên buộc vợ chồng ông H, N phải thanh toán lại cho ông P
số tiền này.
[4] Về án phí:
Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên ông H phải chịu án phí dân s
phúc thẩm theo quy định.
Sung công số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm ông P đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng
án phí và lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4
Lâm Đồng) và kháng cáo của nguyên đơn ông Đỗ Thành P.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tấn H, giữ nguyên bản án
sơ thẩm.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đỗ Thành P về việc
“Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất”
với bị đơn ông Nguyễn Tấn H, bà Hồ Ánh N.
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đất là Biên bản bàn
giao tài sản ngày 16/8/2023 xác lập giữa ông Đỗ Thành P và ông Nguyễn Tấn H đối
với thửa đất 93, 25, 42, 37, 44, 21, tờ bản đồ 02 thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 xã L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Công nhận cho ông Đỗ Thành P được quyền sử dụng thửa 42, 21, 37, 25 tờ bản
đồ 02 và thửa 76 tờ bản đồ 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
(Có họa đồ đo vẽ ngày 26/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B, tỉnh
Lâm Đồng kèm theo).
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Tấn H, Hồ Thị N1 nghĩa vụ giao cho ông P
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa 42, 21, 37, 25 tbản đồ 02 thửa
76 để thực hiện việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo quy định. Trường hợp
ông H, bà N1 không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này thì ông P quyền
yêu cầu quan thẩm quyền hủy cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
các thửa đất nêu trên.
- Tạm giao cho ông Đỗ Thành P được quyền sử dụng các thửa đất 44, 93 tờ bản
đồ 02 và thửa 197 tờ bản đồ 06 xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng (có họa đồ đo vẽ ngày
26/5/2025 của Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng kèm theo). Ông
P được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của Luật đất
đai năm 2024.
- Buộc ông P nghĩa vụ thanh toán cho vợ chồng ông H, bà N1 số tiền chuyển
nhượng còn lại 27.000.000.000 đồng (Hai mươi bảy tỷ đồng).
- Giao cho ông Đỗ Thành P được quyền sở hữu toàn bộ tài sản gắn liền trên đất
thuộc các thửa 93, 25, 42, 37, 44, 21, tờ bản đồ 02 và thửa 76, 197 tờ bản đồ 06 xã L,
huyện B, tỉnh Lâm Đồng gồm: Khu chuồng trại 1 diện tích 6369,7m
2
; khu chuồng trại
2 diện tích 5548,8m
2
; nhà công nhận 548,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà ăn
diện tích 122,7m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (năn) diện tích
94,2m
2
thuộc một phần thửa đất s76 21; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 151,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 76; nhà văn phòng (nhà ăn) diện tích 19,8m
2
thuộc một
phần thửa đất số 76; nhà ăn trưa công nhân diện tích 80,3m
2
thuộc một phần thửa đất
số 21; Nhà văn phòng diện tích 265,8m
2
; hầm bioga diện tích 872,8m
2
thuộc một phần
thửa đất số 25; bể chứa diện tích 12,6m
2
; hồ chứa diện tích R4.5 63,6m
2
thuộc một
phần thửa đất số 25; hồ chứa a.11+a15 diện tích 346,0m
2
thuộc một phần thửa đất s
25; khu xchất thải diện tích 1220m
2
thuộc một phần thửa đất số 25 21; ao (1)
diện tích 1079,9m
2
; ao (2) diện tích 1947,7m
2
; đường bê tông diện tích 1595,8m
2
; nhà
khử trùng 1, diện tích 37,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 21, nkhử trùng 2 diện tích
29,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 197; mái hiên diện tích 155,9m
2
; 01 trạm điện diện
tích 42,7m
2
; tường o xây diện tích 2478,5m
2
(có họa đồ đo vngày 26/5/2025 của
Chi nhánh Văn phòng đất đai huyện B, tỉnh Lâm Đồng kèm theo).
- Buộc ông P thanh toán lại cho ông H, N1 số tiền 973.480.000 đồng (Chín
trăm bảy ơi ba triệu bốn trăm tám mươi ngàn đồng) gồm giá trị Nhà khử trùng 2
diện tích 29,0m
2
thuộc một phần thửa đất số 197 trgiá 77.298.000 đồng; mái hiện diện
tích 155,9m
2
trị giá 326.182.000 đồng; 01 trạm điện diện tích 42,7m
2
thuộc phần thửa
76 có trị giá 570.000.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của ông P đối với số tiền 300.000.000 đồng đã chuyển H mượn
vào các ngày 05-25/9/2023.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi nh án (đối với khoản
tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc vợ chồng ông H, N1 hoàn trả ông P 174.324.000
đồng (Một trăm bảy mươi bốn triệu ba trăm hai mươi bốn ngàn đồng) chi phí xem xét
thẩm định, đo vẽ và định giá tài sản.
3. Về án phí:
Buộc ông Nguyễn Tấn H, bà Hồ Ánh N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm. Buộc ông H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sphúc thẩm nhưng được trừ
vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0000269
ngày 11/7/2025 của Thi hành án dân stỉnh Lâm Đồng. Ông H, N còn phải nộp
300.000 đồng.
Buộc ông Đỗ Thành P phải chịu 135.937.000 đồng án phí dân sự thẩm
300.000 đồng án phí phúc thẩm nhưng vào số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí
thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0006999 ngày 22/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Bảo Lâm, tỉnh m Đồng (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Lâm
Đồng) và 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu số 0000333 ngày
14/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Ông P còn phải nộp 135.637.000
đồng án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế
thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân
sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
- Phòng GĐ, KT, TT&THA (01);
- TAND khu vực 4 – Lâm Đồng 01);
- Phòng THADS khu vực 4 Lâm Đồng
(01);
- Đương sự (04);
- Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án (03).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Nguyệt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 264/2025/DS-PT Bản án số 264/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 264/2025/DS-PT Bản án số 264/2025/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất