Bản án số 18/2026/KDTM-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 18/2026/KDTM-PT ngày 25/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 18/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/06/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Tuyến bán hải sản cho công ty bị làm ăn thua lỗ khôgn trả tiền
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 18/2026/KDTM-PT Bản án số 18/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2026/KDTM-PT Bản án số 18/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 18/2026/KDTM-PT
Ngày: 25 -6- 2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hoá
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Quang;
Các thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Lưu Thị Thu Hường;
- Thư phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Mỹ Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ số: 05/2026/KDTM
PT ngày 12/5/2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng h.
Do bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày
23/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk bị kháng cáo theo thủ
tục phúc thẩm.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 09/2026/QĐ-PT ngày
20 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Đông
Nam, xã Đi Lãnh, tnh Khánh Hòa; (có mt)
2/ B đơn: Công ty TNHH Thy Sn Phúc BV.
Người đi din theo pháp lut: Trn Th Yến, sinh năm 1969; địa ch:
Khu ph Phước Lộc 1, phường Phú Yên, tỉnh Đắk Lk; (có mt)
3/ Người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trn Quý Phúc, sinh năm 1967; địa ch: 79 Phạm Văn Xảo, phường
Phú Th Hòa, thành ph H Chí Minh; (vng mt)
2
+ Ông Phan Cu, sinh năm 1972; đa chỉ: Thôn Tây Nam 2, Đại Lãnh,
tnh Khánh Hòa; (vng mt)
4/ Người kháng cáo: Người đại diện theo pháp luật của bị đơn Trần
Thị Yến.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, nguyên đơn
trình bày:
Bà Trần Thị Yến là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thủy
Sản Phúc BV, ông Trần Quý Phúc (nhân viên công ty) chịu trách nhiệm hoạt
động chính công ty TNHH Thủy sản Phúc BV. Ông Phúc đặt vấn đvới ông
T với nội dung: Giao nguyên liệu mực tươi cho công ty Phúc BV với giá
thỏa thuận 35.000 đồng/kg, ông T đồng ý vận chuyển hàng mực xà tươi cho
Công ty Phúc BV, cụ thể: Ngày 10/3/2025, ông Phan Cu tài xế xe biển số
79H-03495 chở giao số lượng 4.962kg mực tươi; Ngày 17/3/2025 chở giao
số lượng 5.068kg; Ngày 22/3/2025 chở giao số lượng 5.014 kg; Ngày
25/3/2025, chở giao số lượng 3.835 kg. Sau mỗi lần giao hàng, ông Phúc
nhân viên của công ty xem hàng và chuyển hàng vào kho đông lạnh của Công ty
gia công thành phẩm. Mỗi lần giao hàng xong thì ông T nhắn tin qua zalo
xác nhận với công ty ông Phúc. Tổng số lượng hàng đã giao: 18.879 kg x
35.000 đồng/kg = 660.765. 000 đồng. Do phía công ty Phúc BV không gia công
sản phẩm đầu mực, nên ông T mua lại đầu mực của Công ty Phúc BV với giá
12.000 đồng/kg, cụ thể như sau: Ngày 11/3/2025, công ty TNHH Phúc BV giao
số lượng 560 kg; Ngày 13/3/2025: số lượng 250 kg; Ngày 14/3/2025: số lượng
410 kg; Ngày 19/3/2025: số lượng 558kg; Ngày 21/3/2025: số lượng 612kg;
Ngày 24/3/2025: số lượng 675kg; Ngày 25/3/2025: số lượng 620kg; Ngày
26/3/2025: số lượng 430kg; Ngày 01/4/2025, số lượng: 820kg. Tổng số lượng
mua lại đầu mực : 4.935 kg x 12.000 đồng/kg = 59.220.000 đồng. Sau đó
ngày 19/3/2025, hai bên lập Biên bản đối chiếu công nợ thì ông T nhận
300.000.000 đồng với nội dung “Tran Gia Ngan chuyen tien mua nguyen lieu”,
sau đó Trần Thị Yến nói nếu nhận OK cho chị biết nhen. Ngày 26/3/2025,
phía Công ty TNHH Phúc BV tiếp tục chuyển khoản trả 150.000.000 đồng với
nội dung Tran Gia Ngan chuyen tien mua nguyen lieu”. Như vậy số tiền mua
nguyên liệu 660.765.000 đồng. Công ty Phúc BV đã chuyển số tiền
450.000.000 đồng, cấn trừ số tiền mua lại đầu mực 59.220.000 đồng. Như vậy
công ty TNHH Thủy sản Phúc BV n nợ 151.545.000 đồng. Nay yêu cầu
công ty phải trả số tiền 151.545.000 đồng không yêu cầu khác, án phí thì
bị đơn phải chịu.
3
Bị đơn Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV do bà Trần Thị Yến trình bày:
Bà Trần Thị Yến là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Thủy
sản Phúc BV. Công ty hiện đang hoạt động tại địa chỉ: Phước Lộc 1, Hòa
Thành, tỉnh Phú Yên. Nay Khu phố Phước Lộc 1, phường Phú Yên, tỉnh Đắk
Lắk. Ông Trần Q Phúc là nhân viên của Công ty, làm việc theo sự chỉ đạo của
Công ty nên giữa ông Phúc ông T thỏa thuận với nhau mua bán mực
tươi, trực tiếp thu mua nguyên liệu do ông T giao người trực tiếp kiểm tra
nguyên liệu, sau đó đem về kho của Công ty sản xuất bán thành phẩm. Hai bên
thỏa thuận giá ban đầu 35.000 đồng/ký mực tươi, tổng số lượng hàng giao
18.879 kg x 35.000 đồng/kg = 660.765.000 đồng. Phía công ty đã bán lại đầu
mực cho ông T với số lượng 4.935 kg x 12.000 đồng/kg = 59.220.000 đồng.
Ngày 19/3/2025, công ty ông T lập Biên bản đối chiếu công nợ, công ty
đã chuyển khoản trả cho ông T 02 lần với tổng số tiền 450.000.000 đồng nội
dung “trả tiền mua nguyên vật liệu cho ông T”. Nay ông T khởi kiện yêu cầu
công ty trả stiền nợ còn lại 151.545.000 đồng thì Công ty ý kiến sau: Nếu
hai bên thống nhất hòa giải thì phía công ty đồng ý trả 50.000.000 đồng, nếu xét
xử đề nghị tòa án xem xét. do không đồng ý trả số tiền 151.545.000 đồng
làm do làm ăn thua lỗ, giao hàng không đúng kích cỡ nên thành phẩm làm ra
cũng không đạt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Trần Quý Phúc trình bày:
Người đại diện theo pháp luật cho Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV là bà
Trần Thị Yến. Ông Phúc là nhân viên công ty Phúc BV được giao nhiệm vụ tìm
kiếm khách hàng, mua nguyên vật liệu, tchức sản xuất. Ông Phúc trực tiếp đề
nghị với ông T về việc mua bán mực tươi, ông T đồng ý giao hàng ông
Phúc, người trực tiếp nhận hàng, kiểm tra hàng đưa vkho đông lạnh của công
ty để gia công bán thành phẩm theo sự chỉ đạo của bà Yến. Tổng số lượng hàng
mực xà tươi phía ông T đã giao 18.879kg. Ông Phúc thừa nhận lời trình bày của
nguyên đơn về số lượng hàng giao, ngày tháng giao hàng. Tuy nhiên, thỏa thuận
mực trên 10 cm, với giá 35.000 đồng/ký. Nhưng khi giao hàng, con dưới
10 cm. con trên 10 cm, nhưng không tài liệu chứng minh. Nhưng do ông
T nhập hàng không đúng quy cách nên công ty không chịu thanh toán số nợ còn
lại 151.545.000 đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phan Cu trình bày:
Trong các ngày 10/3/2025, ngày 17/3/2025, ngày 22/3/2025, ngày
25/3/2025 ông Phan Cu tài xế xe biển số 79H-03495 người giao hàng mực
xà tươi từ ông T giao cho Trần Quý Phúc nhận hàng thay cho Công ty Phúc BV.
Mỗi lần giao hàng thì ông Phúc là người trực tiếp kiểm tra hàng hóa, trả phí vận
4
chuyển 2.000.000 đồng, còn 03 lần sau phí vận chuyển người trong công ty
trả. Cách thức kiểm tra: ông Phúc coi mặt hàng, sau khi coi hàng xong thì nhân
viên, ông Cu và ông Phúc cùng chuyển hàng từ xe đến kho lạnh của Công ty.
Sau khi giao hàng xong không ai ý kiến gì thì điều khiển xe về. Đề nghị Tòa án
nhân dân khu vực 11 –Đắk Lắk giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng
và căn cứ lời trình bày trên để giải quyết.
Tại bản án thẩm s01/2026/KDTM-ST ngày 23/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dng các Điều 30, Điều 35 B lut t tng dân sự; Điều 4, Điều 24,
Điều 35, Điều 44, Điều 50, Điều 51 Luật thương mi.
Tuyên x:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV trả cho Nguyên đơn số
tiền 151.545.000 đồng (một trăm năm mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi
lăm ngàn đồng) về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH
Thủy sản Phúc BV chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm tiền lãi
trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí quyền kháng cáo cho
các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/02/2026, người đại diện theo pháp luật của bị đơn Trần Thị
Yến kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện; bị đơn giữ nguyên nội
dung đơn kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư và các đương sự đã chấp
hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các chứng cứ, tài liệu được thu thập
trong hồ vụ án, kết quả tranh luận tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề
nghị: Toà không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, áp dụng khoản 1 Điều 308
của Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
5
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài
liệu, chứng cứ lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn hợp lệ về hình thức, được nộp
trong thời hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên Tòa án
cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc
thẩm thấy rằng:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thống nhất thừa
nhận giữa ông Phan Văn T Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV phát sinh
quan hmua bán nguyên liệu mực xà tươi. Theo đó, ông T đã giao cho Công ty
tổng cộng 18.879kg mực tươi trong các ngày 10/3/2025, 17/3/2025,
22/3/2025 và 25/3/2025 với đơn giá thỏa thuận 35.000 đồng/kg, thành tiền
660.765.000 đồng. Phía Công ty cũng thừa nhận đã nhận đsố lượng hàng hóa
nêu trên, trực tiếp kiểm tra hàng hóa và đưa vào kho lạnh để sản xuất, gia công
thành phẩm.
[2.2] Mặc dù, giữa c bên không lập hợp đồng bằngn bản, tuy nhiên việc
thỏa thun mua bán ng a đưc xác lập thông qua lời nói, nh vi giao nhn
ng hóa và việc thanh toán tiềnng. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 24
Luật Tơng mi về hình thức hợp đồng mua n ng a. Thực tế, ngày
19/3/2025 c n đã lập biên bản đối chiếu ng nợ phía ng ty đã chuyển
khoản thanh toán cho ông T s tiền 300.000.000 đồng với nội dung tr tiền
nguyên vật liệu”; ngày 26/3/2025 tiếp tục chuyn khoản số tiền 150.000.000 đồng
ng với nội dung thanh tn tiền nguyên vật liệu. Việc bị đơn thực hiện thanh
toán nhiều lần thể hin sự thừa nhận quan h mua n hàng hóa và nga vụ thanh
toán đối với nguyên đơn. Do đó, kng o của bđơn cho rằng không n cứ
phát sinh nga vụ thanh toán không phù hợp với tài liu, chng cứ có trong h
vụ án.
[2.3] Xét quan điểm của b đơn cho rằng: Hàng hóa nguyên đơn giao
không đúng kích cỡ, không đạt chất lượng nên Công ty không đồng ý thanh
toán số tiền còn lại, Hội đồng xét xử xét thấy: Toàn bộ quá trình giao nhận hàng
hóa, phía Công ty là bên trực tiếp kiểm tra hàng hóa thông qua ông Trần Quý
Phúc là nhân viên được giao nhiệm vụ thu mua nguyên liệu. Sau khi kiểm tra,
phía Công ty đã nhận hàng, vận chuyển toàn bộ hàng hóa vào kho lạnh để sản
6
xuất nhưng không lập biên bản ghi nhận hàng a không đạt chất lượng, không
có văn bản thông báo hay khiếu nại gửi cho nguyên đơn về việc hàng hóa không
phù hợp hợp đồng. Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn cũng không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh hàng hóa do nguyên đơn giao
không đúng quy cách, chất lượng như trình bày. Trong khi đó, theo quy định tại
Điều 39, khoản 4 Điều 44 và Điều 50 Luật Thương mại thì bên mua có nghĩa vụ
kiểm tra hàng hóa phải thông báo cho bên bán trong thời gian hợp nếu
phát hiện hàng hóa không phù hợp; trường hợp đã nhận hàng không phản
đối, không chứng minh được hàng a không đạt chất lượng thì vẫn phải thực
hiện nghĩa vụ thanh toán. Vì vậy, việc bị đơn viện dẫn lý do hàng hóa không đạt
chất lượng để từ chối thanh toán số tiền còn nợ là không có căn cứ chấp nhận.
[2.4] Cấp sơ thẩm n cứ vào lời khai thống nhất của các đương sự, biên bản
đối chiếu ng nợ, chứng từ chuyển khoản c i liệu chng cứ khác trong
hồ sơ vụ án để c định Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV còn nợ ông Phann
T số tiền 151.545.000 đồng buộc bị đơn nghĩa vụ thanh toán n cứ,
đúng pp luật. Tại cấp pc thẩm, bị đơn kng cung cấp đưc tài liệu, chứng c
mới m thay đổi nội dung vụ án n không có sở chấp nhận kháng o của bị
đơn.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xphúc thẩm thấy rằng bản án
kinh doanh thương mại sơ thẩm đã giải quyết đúng quy định pháp luật, đánh giá
đầy đủ chứng cứ và đúng bản chất quan htranh chấp. Do đó, cần giữ nguyên
bản án thẩm; không chấp nhận kháng cáo của người đại diện theo pháp luật
của bị đơn Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm: Do không được chấp
nhận đơn kháng cáo nên bị đơn là Công ty TNHH Thủy Sản Phúc BV phải chịu
án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH Thủy Sản Phúc
BV;
Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 01/2026/KDTM-
ST ngày 23/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk.
7
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Vân T.
Buộc bị đơn Công ty TNHH Thủy sản Phúc BV (người đại diện theo phap
luật là bà Trần Thị Yến) trả cho nguyên đơn ông Phan Văn T số tiền là
151.545.000 đồng (một trăm năm mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi lăm ngàn
đồng) về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”.
Kể từ ngày nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án nếu Công ty TNHH
Thủy sản Phúc BV chưa thi hành khoản tiền nêu trên thì phải chịu thêm tiền lãi
trên số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị
trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.
[2] Về án phí kinh doanh thương mại thẩm: Giải quyết theo bản án kinh
doanh thương mại sơ thẩm số: 01/2026/KDTM-ST ngày 23/01/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 11 – Đắk Lắk.
[3] Về án phí kinh doanh thương mại thẩm: Công ty TNHH Thủy sản
Phúc BV phải chịu 2.000.000đ án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm, nhưng
được khấu trừ 2.000.000đ tiền tạm ứng án p kinh doanh thương mại phúc
thẩm theo biên lai số: 0001809, ngày 13/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh
Đắk Lắk.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm 2;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
-THADS khu vực 11;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ VA.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Quang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 18/2026/KDTM-PT Bản án số 18/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2026/KDTM-PT Bản án số 18/2026/KDTM-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất