Bản án số 246/2024/DS-PT ngày 23/12/2024 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 246/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 246/2024/DS-PT ngày 23/12/2024 của TAND tỉnh Hậu Giang về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hậu Giang
Số hiệu: 246/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Các nguyên đơn tranh chấp quyền sử dụng đất của cha mẹ bị đơn đã dduwwocj cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẬU GIANG
Bản án số: 246/2024/DS - PT
Ngày 23 - 12 - 2024
“V/v Tranh chấp thừa kế quyền
sử dụng đất và tranh chấp
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Phượng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thọ
Bà Đào Thị Thủy
- Thư phiên tòa: Ông Phan Minh Nhựt Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Hậu Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Phùng Bích Tuyền
- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2024, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh
Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 234/2024/TLPT
- DS ngày 08 tháng 10 năm 2024, về việc Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS - ST, ngày 26 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 234/2024/QĐPT - DS
ngày 22 tháng 10 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2024/QĐ-PT
ngày 08 tháng 11 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 46A/2024/QĐ-
PT ngày 25 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1953. (Có mặt)
Địa chỉ: Số F ấp L, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
1.2. Ông Nguyễn Hoàng Â, sinh năm 1948. (Có mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
1.3. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1961. (Có mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2
1.4. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1944. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1981. (Có mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Lê Thị N. (Có mặt)
3.2. Bà Nguyễn Thị Minh T1. (Vắng mặt)
3.3. Bà Nguyễn Thị Minh T2. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.4. Bà Dương Thị Mộng C1. (Vắng mặt)
3.5. Ông Dương Minh P. (Vắng mặt)
3.6. Bà Nguyễn Thị Bé T3, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.7. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
3.8. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
3.9. Bà Nguyễn Thị Bé B, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp H, thị trấn K, huyện P, tỉnh Hậu Giang.
3.10. Bà Nguyễn Thị Bé T4, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp S, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang.
3.11. Bà Nguyễn Thị Bé C2, sinh năm 1982. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.12. Bà Nguyễn Thị Bé S, sinh năm 1972. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
3.13. Bà Phùng Thị Ánh T5, sinh năm 1953. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm các tài liệu có trong hồ thì nội dung vụ án như
sau:
Nguyên đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Cha của ông cụ Nguyễn Hữu
T6 (chết năm 2005), mẹ cụ Hồ Thị L2 (chết năm 1989), cha mẹ ông tất cả
05 người con gồm: Ông Nguyễn Văn T7 (chồng bà Nguyễn Thị L), ông Nguyễn
Hoàng Â, ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị N1. Vào năm
1979, khi cha mẹ còn sống có họp gia đình để chia đất cho các con. Theo đó, cha
3
mẹ ông 7,5 công đất ruộng 02 công đất vườn, chia cho ông T7 02 công
ruộng, cho ông 02 công ruộng, N1 02 công ruộng, còn lại 1,5 công ruộng để
cho bà N1 làm nuôi mẹ vì khi đó bà N1 ở chung với mẹ. Phần đất vườn chia cho
ông T7 và bà L 02 cái bờ là phần đất hiện nay có mộ của ông T7, chia cho bà N1
01 cái bờ, cho ông 01 cái bờ, cho C 01 cái bờ, còn lại 01 cái bờ dài 01 b
ngắn mẹ ông để lại canh tác khi nào mẹ chết thì cho ông cái bờ dài, cho ông  i
bờ ngắn.
Thời điểm năm 1979, ông  sống bên vợ, được cho 10 công ruộng, 02 công
bờ nên ông  không cần được chia đất, vì vậy mẹ không chia cho ông Â. Sau này
khi ông  vợ bé, khoảng 1990 trở về, sống dưới ghe nhiều lần xin ông lên bờ
cất nhà ở, thấy anh em khổ nên ông mới để ông  lên bờ cất nhà đcho đến
nay.
vậy, trong vụ án này, ông yêu cầu công nhận cho ông phần đất gồm 02
cái bờ, một cái mộ của N1, một cái mộ của cha mẹ ông cụ L2 cụ
T6. Phần đất ruộng ông được cho ông đã làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, còn đất bờ diện tích nhỏ nên không làm Giấy chứng nhận được. Việc mẹ
của ông họp gia đình tặng cho đất không có làm giấy tờ nhưng anh em trong nhà
ai cũng biết và thừa nhận.
Hai cái bờ ông T yêu cầu công nhận là phần đất số 8A và 8B trên mảnh trích
đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện. Về cây trồng trên
đất, ông T xác định nằm trên đất ai được chia thì người đó hưởng, không tranh
chấp. Các phần đất nằm ngoài thửa 145 ông không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của ông
T. Bà xác định năm 1979 được cha mẹ cho một cái bờ nhưng do đã có gia
đình, bà chưa nhận, đến nay bà yêu cầu công nhận cho bà cái bờ này là phần đất
số 7 trên mảnh trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện
C. Cái bờ này từ khi được cho đến nay C không nhận đất cũng không
canh tác, sử dụng. C cũng xác định ông  người trồng cây, sử dụng phần
đất này. Việc ông  sử dụng đất bà không đồng ý nhưng cũng không có hành vi
cản trở. Bà đồng ý giá trị cây trồng trên phần đất số 7 là 12.000.000đồng, nếu
công nhận quyền sdụng phần đất này cho thì sẽ trả lại cho ông  giá trị
cây trồng 12.000.000đồng. Các phần đất nằm ngoài thửa 145, không yêu cầu
Toà án giải quyết.
Nguyên đơn Nguyễn Thị L trình bày như sau: vợ của ông Nguyễn
Văn T7 (chết năm 1987), thống nhất lời trình bày của ông T. m 1979 m
4
chồng của bà đã cho vợ chồng bà 0 công đất ruộng và 02 cái bờ với cái nền nhà,
02 công đất ruộng đã nhận xong. Trong vụ án này yêu cầu công nhận cho
một nền nhà đang ở, hai cái bờ tương ứng phần đất số 3, số 6, số A và 11
trên trên mảnh trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện.
Từ trước đến nay không sang bán đất cho N1. Các phần đất nằm ngoài
thửa 145, bà không yêu cầu Toà án giải quyết.
Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng  trình bày như sau: Ông xác nhận năm
1979 mẹ ông họp mặt gia đình để chia đất cho các con. Theo đó phần đất ruộng
chia đúng như ông T trình bày. Riêng phần đất vườn thì ông được cho 01 cái bờ,
một cái mương, phần C không nhận nên mẹ của ông đã lấy lại cho ông.
Trong vụ án này, ông yêu cầu công nhận cho ông phần nhà ông đang tại vị trí
số 1, số 4, số 9 số 7 trên mảnh trích đo địa chính của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện C. Cây trồng trên phần đất s7 do ông trồng và khai thác
từ trước đến nay. Ông đồng ý giá trị cây trồng trên phần đất này giá trị
12.000.000đồng nhưng ông không đồng ý nhận giá trị cây để giao đất cho C.
Phần đất nằm ngoài thửa 145 ông không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 trình bày như sau: Ông nghe mẹ của ông
nói lại là khi ông bà ngoại của ông là cụ T6 cụ L2 còn sống có chia đất cho c
con, trong đó có cho mẹ của ông là bà Nguyễn Thị N1 02 công đất ruộng, và đất
vườn. Năm 1996 mẹ của ông đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất.
Việc các cậu cho rằng năm 1979 ông ngoại cho các cậu đất
có. Nhưng các cậu dì sau đó không canh tác đất nên ông ngoại của ông đã
tặng cho hết đất vườn lại cho mcủa ông đứng tên. Trong vụ án này, ông đồng
ý tách ra cho ông T một cái bờ có mồ mả của cụ T6, cụ L2, chia cho bà L cái nền
nhà L đang phần nền mộ của ông T7, phần đất số 11 ông không đồng ý
chia cho bà L. Ông đồng ý chia cho ông  phần đất ông  đang ở, còn cái bờ mà
ông Â, C đang tranh chấp trước đó là cho nhưng C không nhận, ông Â
mới sử dụng. Đến nay ông đồng ý công nhận cho ông  vì ông  đã nhận đất và
trồng cây.
Đối với phần đất số 11, đầu tiên ông, bà ngoại của ông có cho ông T7 và bà
L, tuy nhiên ngày 06/4/1995, bà L và con trai là Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn H1
đã cầm cố cho mẹ ông, đến ngày 25/6/1995 thì sang bán cho mẹ của ông nên ông
không đồng ý công nhận phần này cho bà L. Việc sang bán có giấy tay nhưng đã
bị thất lạc bản gốc, chỉ còn bản photocoppy. Việc cố đất và mua bán đất giữa
5
L mẹ của ông ông Trần Văn B1, Nguyễn Quốc H2 làm chứng nhưng những
người này nay đã chết, ông Nguyễn Văn S1 thì còn sống.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Thị N trình bày như sau:
vợ của ông Nguyễn Văn L1 (nhưng đã ly hôn vào năm 2023). Ông, ngoại
chồng của bà là cụ Nguyễn Hữu T6 (chết năm 2004) và cụ Hồ Thị L2 (chết năm
1989). Ông, ngoại tất cả 05 người con là: Ông Nguyễn Văn T7 (đã chết
trước cha và mẹ), ông Nguyễn Hoàng Â, bà Nguyễn Thị N1 (chết sau cha mẹ),
Nguyễn Thị C ông Nguyễn Văn T. Ông Nguyễn Văn T7 vợ Nguyễn
Thị L (ông T7 L 07 người con); N1 01 người con ông Nguyễn
Văn L1, chồng của N1 đã chết.
Cụ Nguyễn Hữu T6 trước khi chết để lại di chúc toàn bộ đất lại cho
Nguyễn Thị N1 nên N1 mới được đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của N1 diện tích hơn 5.000m
2
,
nhưng bà N1 đã sang nhượng hết đất ruộng chỉ còn lại đất vườn và thổ cư. Giấy
chứng nhận hiện tại bà N đang giữ.
Đối với yêu cầu của các nguyên đơn, chỉ đồng ý chia cho ông T, bà C,
L phần những người này được cho. Đối với ông  thì chỉ đồng ý chia cho ông Â
cái nền nhà ông  đang ở. Phần còn lại thì bà và ông L1 hưởng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T3 trình bày:
Thống nhất lời trình bày của bà L, bà L không có cố hay sang bán đất cho N1.
L ông T7 tất cả 09 người con gồm: Ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn
Văn H, Nguyễn Thị T4, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị B,
Nguyễn Thị Bé T3, bà Nguyễn Thị Bé C3 những người còn sống và hai người
chết từ nhỏ không có vợ, chồng là anh thứ N2 và bà Nguyễn Thị Bé M. Trong vụ
án này bà đồng ý để bà L đứng ra khởi kiện ông L1 yêu cầu công nhận quyền s
dụng phần đất mà ông bà nội đã cho cha mẹ của bà là ông T7 và bà L.
Những người quyền li nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T4,
Nguyễn ThB, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị C2, ông Nguyễn Văn
H1 trình bày thống nhất như sau: Các ông, con của bà Nguyễn Thị L và ông
Nguyễn Văn T7. Trong vụ án này, ông, bà đồng ý để bà L đứng ra khởi kiện ông
L1 yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất mà ôngnội của đã cho ông
T7, L. Đồng ý công nhận quyền sử dụng cho Nguyễn Thị L các phần đất
mà bà L yêu cầu.
6
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông
là con của bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Văn T7, ông đồng ý để bà L đứng ra
khởi kiện yêu cầu công nhận đất ông, nội cho cha mẹ của ông. Việc ông L1
cho rằng cha mẹ của ông và ông đã bán phần đất số 11 cho bà N1 là không đúng
chỉ cầm cố cho N1. Việc ông cầm cố đất cho N1, ông không yêu cầu
giải quyết trong vụ án này, nếu sau này giữa ông và ông L1 có tranh chấp sẽ yêu
cầu giải quyết thành vụ án khác.
Tại Bản án thẩm số 64/2022/DS-ST, ngày 26/7/2024 của Tòa án nhân
dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang, tuyên xử như sau:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn
T, bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất được tặng cho.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng  về việc công nhận
quyền sử dụng đất được tặng cho.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị C về việc yêu cầu
công nhận quyền sử dụng đất được tặng cho.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng phần đất số 8A diện tích
295,2m
2
loại đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho bà Nguyễn Thị N1 thể
hiện tại mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Công nhận cho ông Nguyễn Hoàng  quyền sử dụng phần đất số 1 diện tích
23,7m
2
, số 4 diện tích 180,9m
2
, số 9 diện tích 109,0m
2
, phần đất số 7 diện tích
208,6m
2
, loại đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho bà Nguyễn Thị N1 thể
hiện tại mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Công nhận cho Nguyễn Thị L quyền sử dụng phần đất số 3 diện tích
185,9m
2
, phần đất số 6 diện tích 171,4m
2
và phần đất số 10 diện tích 82,5m
2
loại
đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay Châu Thành A,
tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho Nguyễn Thị N1 thể hiện tại mảnh
trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
7
Ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Hoàng Â, Nguyễn Thị L quyền liên hệ
quan nhà nước thẩm quyền để làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với các
phần đất được công nhận.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.)
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo
quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 09/8/2024, nguyên đơn Nguyễn Thị C kháng cáo Bản án thẩm
số 64/2024/DS-ST, ngày 26/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A,
yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị
C phần đất số 7 trên mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi
nhánh VPĐKĐĐ huyện Châu Thành A.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị C vẫn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa nhận
định từ khi thụ ván đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử
đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đối với các đương sự từ khi thụ vụ án đến nay nguyên đơn và bị đơn,
người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy
định tại Điều 71, Điều 72, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Nguyễn Thị C, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn
Thị C. Áp dụng khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự giữ nguyên Bản án dân
sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án
Theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, ông Nguyễn Văn T, ông
Nguyễn Hoàng Â, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị L cùng khởi kiện bị đơn ông
Nguyễn Văn L1 tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất. Tòa án nhân dân huyện
Châu Thành A thụ lý, xác định quan hệ “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.
Tuy nhiên, đến xét xử vụ án, Tòa thẩm xác định quan hệ “Tranh chấp hợp
đồng tặng cho quyền sdụng đất”, nhưng các đương sự không đơn thay đổi
yêu cầu khởi kiện. Xét thấy, hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất giữa cụ
Nguyễn Hữu T6 và cụ Hồ Thị L2 với các người con gồm ông Nguyễn Văn T,
8
ông Nguyễn Hoàng Â, ông Nguyễn Văn T7 (đã chết có vợ là bà Nguyễn Thị L),
Nguyễn Thị C đã hoàn thành, các nguyên đơn đã nhận đất quản canh
tác. Năm 1997 cụ T6 lại tiếp tục tặng tất cả quyền sử dụng đất lại cho mẹ của bị
đơn Nguyễn Thị N1. Đến N1 chết, bị đơn làm thủ tục nhận thừa kế quyền
sử dụng đất mới phát sinh tranh chấp. Như vậy, các nguyên đơn ông Nguyễn Văn
T, ông Nguyễn Hoàng Â, bà Nguyễn Thị L khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng
đất. Riêng bà Nguyễn Thị C khởi kiện tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng
đất. Do đó, Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp theo yêu cầu khởi
kiện của các nguyên đơn là tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp thừa kế
quyền sử dụng đất, theo quy định tại Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015.
[1.2] Về thủ tục kháng cáo
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09 tháng 8 năm 2024, nguyên đơn Nguyễn
Thị C đơn kháng cáo đúng qui định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo trình
tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung
Nguyên đơn Nguyễn Thị C kháng cáo, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc
thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu chia thừa kế cho bà đối
với diện tích đất 208,6 m
2
tại vị trí số 7 theo mảnh trích đo địa chính số 73-2024,
ngày 19/6/2024 của Chi nhánh VP ĐKĐĐ huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc đất:
Đất tranh chấp nguồn gốc của cụ ông Nguyễn Hữu T6 (chết năm 2005)
cụ Hồ Thị L2 (chết năm 1989) diện tích 7,5 công đất ruộng 02 công
đất vườn. Cụ T6, cụ L2 tất cả 05 người con gồm ông Trương Văn T8 (chết năm
1987 là chồng của bà Nguyễn Thị L), ông Nguyễn Hoàng Â, ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị C Nguyễn Thị N1. Các nguyên đơn cho rằng vào khoảng
năm 1979, khi cụ T6, cụ L2 còn sống đã chia đất cho các con. Cụ thể:
Ông Nguyễn Văn T cho rằng cha mẹ cho ông 02 công đất ruộng 01 cái
bờ đất vườn. Phần đất vườn sau khi chia còn lại 01 cái bờ dài 01 cái bờ ngắn,
mẹ đlại canh tác khi nào chết thì cho ông cái bờ dài, cho ông  cái bờ ngắn. Ông
T yêu cầu công nhận cho ông T quyền sử dụng phần đất số 8A và 8B trên mảnh
trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
9
đất đai huyện C, tương ứng với hai cái bờ mà ông được cha mẹ tặng cho khi còn
sống. Đất ruộng ông đã nhận xong không yêu cầu giải quyết.
Ông Nguyễn Hoàng  cho rằng ông được cha mẹ cho 01 cái bờ, một cái
mương, phần bà C được cho 01 cái bờ mà bà C không nhận, cha mẹ lấy cho ông
được 02 cái bờ và 01 cái mương. Trong vụ án này, ông  yêu cầu công nhận cho
ông phần đất số 1, s4, số 7 số 9 trên mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày
19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tương ứng với hai
cái bờ và 01 cái mương mà ông được cha mẹ tặng cho khi còn sống.
Nguyễn Thị L vợ ông Nguyễn Văn T7 cho rằng khi cha mẹ còn sống
cho vợ chồng bà 0 công ruộng, 02 cái bờ 01 nền nhà. Trong vụ án này,
yêu cầu công nhận cho bà quyền sử dụng phần đất số 3, số 6, số A số 11 tn
mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện C, tương ứng với phần đất mà và ông T7 được cha mẹ
tặng cho khi còn sống. Phần đất ruộng vợ chồng đã nhận xong nên không
yêu cầu giải quyết.
Nguyễn Thị C cho rằng được cha mẹ tặng cho 01 cái bờ nên bà yêu cầu
công nhận cho quyền sử dụng phần đất số 7 trên mảnh trích đo địa chính số
73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C,
tương ứng với cái bờ mà bà được cha mẹ tặng cho khi còn sống.
Ông T, ông Â, L, bà C đều xác định việc được mẹ cụ L2 tặng cho quyền
sử dụng đất không được lập thành văn bản, chỉ nói miệng, khi tặng cho chỉ nói
cho cái bờ, cái mương chứ không đo đạc, cặm ranh chia đất trên thực tế. Các
nguyên đơn cũng xác định thời điểm cụ L2 tặng cho đất cụ L2 chưa được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền cấp quyền sử dụng các phần đất này. Đến năm 1989 cụ
L2 chết, cụ T6 là người trực tiếp quản lý, sử dụng đất.
Hội đồng xét xử xét thấy, ông T, ông Â, L, bà C yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất trên cơ sở được cha mẹ tặng cho. Nhưng các nguyên đơn không xuất
trình được giấy tờ, tài liệu chứng minh việc tặng cho. Thời điểm năm 1979, pháp
luật vđất đai chưa quy định cho nhân quyền được tặng cho quyền sử dụng
đất, do vậy cụ L2 cũng không có quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho các con.
Do đó, giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất từ cụ L2 cho các con là không có
sở để được công nhận.
[2.2] Về quyền sử dụng đất s000327 mang tên Nguyễn Thị N1: Năm
1996 bà Nguyễn Thị N1 đã đăng ký quyền sử dụng 2.178m
2
đất vườn trên cơ sở
được cha cụ Nguyễn Hữu T6 tặng cho, chính quyền địa phương xác nhận.
Đến ngày 11/12/1997 N1 được cấp Giấy chứng quyền sử dụng đất. Việc N1
10
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến khi phát sinh tranh chấp vào
năm 2020 23 năm không bị khiếu nại. Đồng thời, UBND huyện C cũng xác
định việc cấp Giấy chứng nhận số 000327 ngày 11/12/1997 cho Nguyễn Thị
N1 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về đất đai.
[2.3] Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn
Bị đơn ông Nguyễn Văn L1 người thừa kế duy nhất của bà Nguyễn Thị
N1 thừa nhận cụ Nguyễn Hữu T6 và cụ Hồ Thị L2 có tặng cho quyền sử đất cho
ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Â1, Nguyễn Thị C, ông Trương Văn T8,
nhưng những người này không canh tác đất. Đến năm 1996 cụ T6 đã ký tặng cho
hết đất vườn cho mẹ ông là bà Nguyễn Thị N1.
Đến nay, ông đồng ý công nhận cho ông T một cái bờ tương ứng phần đất số
8A mồ mcủa cụ Nguyễn Hữu T6 cụ Hồ Thị L2. Công nhận cho ông Â1
phần đất số 1, số 4, số 9; Công nhận cho L phần đất số 3, số 6 số 10. Đối
với phần đất số 7 ông L1 cho rằng khi cụ T6 và cụ L2 còn sống cho C nhưng
C không nhận, sau đó ông Â1 mới nhận và canh tác cho đến nay. Ông L1 đồng
ý công nhận phần này cho ông Â1.
Trên sở sự tự nguyện của bị đơn ông Nguyễn Văn L1, Tòa án cấp thẩm
ghi nhận sự tnguyện của bị đơn công nhận quyền sdụng đất cho các nguyên
đơn là có cơ sở chấp nhận.
Cụ thể như sau: Công nhận cho ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng phần đất
số 8A diện tích 295,2m
2
, công nhận cho ông Nguyễn Hoàng  quyền sử dụng
phần đất số 1 diện tích 23,7m
2
, phần đất số 4 diện tích 180,9m
2
, phần đất số 9 diện
tích 109,0m
2
; công nhận cho Nguyễn Thị L quyền sử dụng phần đất số 3 diện
tích 185,9m
2
, số 6 diện tích 171,4m
2
và số 10 diện tích 82,5m
2
theo sự đồng thuận
của bị đơn Nguyễn Văn L1. Tất cả các phần đất này thuộc thửa 145, loại đất
CLN thể hiện trên mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi
nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Đối với phần đất số 8B, ông T cho rằng ông được cho nhưng ông không canh
tác quản lý, không cắm trụ làm ranh để N1 canh tác, đến nay thì bị đơn
canh tác, trên đất có phần mcủa N1. Do đó, ông L1 người thừa kế của bà
N1 không thừa nhận việc ông T được cho phần này nên Tòa án cấp thẩm không
công nhận quyền sử dụng phần đất số 8B này cho ông T.
Đối với phần đất số 7: Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Hoàng  đều cho
rằng được cho và yêu cầu công nhận. Hội đồng xét xử xét thấy, bà C cho rằng bà
được cho phần đất này nhưng không nhận đất thực tế, không canh tác, quản .
Trong khi đó, ông  đã nhận đất canh tác, trồng nhiều cây lâu năm trên đất.
11
Việc ông  trồng cây lâu năm và canh tác đất được bà C và ông L1 thừa nhận là
có. Việc ông  trồng cây lâu năm bà C cũng không ngăn cản hoặc phản đối. Ông
Nguyễn Văn L1 cũng xác định đồng ý công nhận phần này cho ông Â. Hội đồng
xét xử phúc thẩm, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
Nguyễn Thị C.
[2.4] Về các phần đất nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
Nguyễn Thị N1: Đối với phần đất số 8C, 9, 12 thuộc thửa 143 nằm ngoài giấy
chứng nhận của Nguyễn Thị N1 các đương skhông yêu cầu giải quyết nên
không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đnghị Hội đồng xét xử không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Thị C, giữ nguyên bản án sơ
thẩm. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ, phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[4] Các phần quyết định của Bản án thẩm không bị Viện kiểm sát kháng
nghị, không bị đương sự kháng cáo, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm
Nguyên đơn Nguyễn Thị C kháng cáo, không được Tòa án chấp nhận,
phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, C thuộc trường hợp
người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghquyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm xem xét miễn án phí phúc thẩm cho bà C.
[6] Về chi phí tố tụng
Nguyên đơn Nguyễn Thị C kháng cáo yêu cầu xem xét thẩm định
định giá lại đối với phần đất và cây đang tranh chấp. Do kháng cáo của bà không
có cơ sở, không được Hội đồng xét xử chấp nhận, nên bà phải chịu.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về qui định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
12
1. Ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn ông Nguyễn Văn L1.
Công nhận cho ông Nguyễn Văn T quyền sử dụng phần đất số 8A diện tích
295,2m
2
loại đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho bà Nguyễn Thị N1 thể
hiện tại mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Công nhận cho ông Nguyễn Hoàng  quyền sử dụng phần đất số 1 diện tích
23,7m
2
, số 4 diện tích 180,9m
2
, số 9 diện tích 109,0m
2
, phần đất số 7 diện tích
208,6m
2
, loại đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay
Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho bà Nguyễn Thị N1 thể
hiện tại mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Công nhận cho Nguyễn Thị L quyền sử dụng phần đất số 3 diện tích
185,9m
2
, phần đất số 6 diện tích 171,4m
2
và phần đất số 10 diện tích 82,5m
2
loại
đất CLN thuộc thửa 145 tờ bản đồ số 04, thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số 000327 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cần Thơ (nay Châu Thành A,
tỉnh Hậu Giang) cấp ngày 11/12/1997 cho bà Nguyễn Thị N1 thể hiện tại mảnh
trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Hoàng Â, Nguyễn Thị L quyền liên hệ
quan Nnước thẩm quyền đlàm giấy chứng nhận quyền sdụng đối với các
phần đất được công nhận.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính số 73-2024 ngày 19/6/2024 của Chi nhánh
Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, tỉnh Hậu Giang.)
2. Về án phí: Các nguyên đơn Nguyễn Văn T, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị C
được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn Nguyễn n L1 phải chịu 600.000đồng (sáu trăm ngàn đồng) án
phí dân sự sơ thẩm.
Nguyễn Thị C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 500.000đồng
(năm trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tán ngày
22 tháng 10 năm 2020 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành A, tỉnh
Hậu Giang.
3. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá:
3.1. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá sơ thẩm:
13
Ông Nguyễn Văn T phải chịu 1.125.000đồng (một triệu một trăm hai mươi
lăm ngàn đồng). Ông Nguyễn Văn T đã nộp xong.
Nguyễn Thị L phải chịu 1.125.000đồng (một triệu một trăm hai mươi lăm
ngàn đồng). Bà Nguyễn Thị L đã nộp xong.
Nguyễn Thị C phải chịu 2.250.000đồng (hai triệu hai trăm năm mươi
ngàn đồng). Bà Nguyễn Thị C đã nộp xong.
Ông Nguyễn Văn L1 phải chịu 5.625.000đồng (năm triệu sáu trăm hai mươi
lăm ngàn đồng). Số tiền này ông Nguyễn Văn L1 nộp để trả lại cho ông Nguyễn
Văn T số tiền 1.125.000đồng (một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng), trả
lại cho Nguyễn Thị L số tiền 1.125.000đồng (một triệu một trăm hai mươi
lăm ngàn đồng), trả lại cho ông Nguyễn Hoàng  số tiền 2.250.000đồng (hai
triệu hai trămm mươi ngàn đồng).
3.2. Về chi phí đo đạc, thẩm định giá phúc thẩm:
Buộc nguyên đơn Nguyễn Thị C phải chịu chi phí tố tụng phúc thẩm số
tiền 4.600.000đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), bà đã thực hiện xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án
hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và Điều 9 của Luật thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND tỉnh Hậu Giang;
- TAND huyện Châu Thành A;
- Chi cục THADS Châu Thành A;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Phượng
14
CÁC THẨM PHÁN
Lê Thị Thọ Đào Thị Thủy
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tải về
Bản án số 246/2024/DS-PT Bản án số 246/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 246/2024/DS-PT Bản án số 246/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất