Bản án số 242/2025/DS ngày 25/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 242/2025/DS

Tên Bản án: Bản án số 242/2025/DS ngày 25/09/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 242/2025/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ngày 11 tháng 6 năm 2025, bị đơn ông Ngô Văn P có Đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Bảo K về việc yêu cầu ông P có nghĩa vụ thanh toán số tiền 800.000.000 đồng. Lý do, theo giấy xoá nợ có điều kiện bà K viết ngày 30/9/2015
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 242/2025/DS - PT
Ngày: 25-9-2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Bà Mai Vương Thảo
Bà Trần Thị Thanh Mai
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Diễm - Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Ông Lương Quốc
Phòng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 62/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 7
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của
Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Tòa án nhân dân Khu vực
11 - thành phố Đà Nẵng) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 304/2025/QĐ-PT ngày
15 tháng 8 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 377/2025/QĐ PT
ngày 27 tháng 8 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 413/2025/QĐPT-
DS ngày 12/9/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Trương Thị Bảo K, sinh năm 1973; CCCD số
049173005078; Địa chỉ: Thôn L, V, thành phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Quảng Nam cũ). Có mặt
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ngô Thế B, sinh năm 1987,
CCCD số 049087015616; Địa chỉ: thôn T, Q, thành phố Đà Nẵng; người
được ủy quyền (theo Hợp đồng ủy quyền số 1878/2025/CCGD tại Văn phòng C, số
I H, xã Đ, thành phố Đà Nẵng). Có mặt
2
2. Bị đơn: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1975; CCCD số 049075018270; Địa
chỉ: Thôn M, xã V, thành phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ).
mặt
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Huỳnh Phan Q, sinh năm 1995,
CCCD số 049095015830 Dương Thị Ngọc T, sinh m 1998, CCCD số
051198011972; Cùng địa chỉ liên hệ: Số E M, phường H, thành phố Đà Nẵng là
người đại diện theo uỷ quyền. (Theo Giấy uỷ quyền lập ngày 11/6/2025 tại Văn
phòng C1, thành phố Đà Nẵng). Ông Q có mặt; Bà T vắng mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Văn N, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn L, V, thành phố Đà
Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Ông N ủy quyền cho bà Trương Thị
Bảo K đại diện tham gia tố tụng (theo Giấy ủy quyền lập ngày 24/9/2025 tại Ủy ban
nhân dân xã V, thành phố Đà Nẵng). K có mặt.
3.2. Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn N, H, thành
phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Hiện đang thi hành án phạt
tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt
3.3. Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1983; Địa chỉ: Thôn N, H, thành
phố Đà Nẵng (xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Có đơn xin xét xử vắng mặt
3.4. Ông Đức D, sinh năm 1958; Địa chỉ: Thôn P, Đ, thành phố Đà
Nẵng (nay là xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam cũ). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn Trương Th Bo K, tại Đơn khởi kin ngày 15/12/2023, quá
trình tham gia t tng và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 11/4/2015 ông NVăn P vay ca bà Trương Thị Bo K s tin
800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) để làm ăn. Ông P ghi Giấy mượn tin
hẹn đến 30/4 Âm lịch năm 2015 sẽ thanh toán đ tin. Tuy nhiên, t đó đến nay,
ông P không trả. Do đó, K khi kin yêu cu Toà án nhân dân huyện Đại Lc
buc ông P tr s tiền 800.000.000 đồng gc và lãi phát sinh t ngày 30/4 âm lch
2015 đến khi tr xong n gc vi lãi suất 10%/năm. Tại phiên toà sơ thm, bà K rút
li yêu cầu tính lãi 10%/ năm t ngày 30/4 âm lịch 2015 cho đến khi tr xong n
gc.
Ông Ngô Thế B là người bo v quyn và li ích hp pháp ca bà Trương Thị
Bo K trình bày: Đề ngh Hội đồng xét x áp dng khoản 3 Điều 26, điểm a khon 1
Điều 35, đim a khoản 1 Điều 39 B lut T tng dân sự; Điều 463; 466; 468 ca
B lut dân s, chp nhn yêu cu của nguyên đơn bà Trương Thị Bo K buc ông
Ngô Văn P phải nghĩa vụ thanh toán cho K s tiền 800.000.000 đồng; Đình
ch yêu cầu tính lãi 10%/ năm t ngày 30/4 âm lịch 2015 cho đến khi tr xong n
gc, do bà K rút yêu cu.
3
* B đơn Ngô Văn P, người đại din theo y quyn ca ông P ông Hunh
Phan Q Dương Thị Ngc T trong quá trình gii quyết v án ti phiên tòa
sơ thẩm trình bày:
Khoảng năm 2014 - 2015 ông Ngô Văn P làm ăn chung vi ông Nguyn
Thành T1 và v chng bà Trương Thị Bo K, anh Lê Văn N. Quá trình cùng làm ăn,
ông P ghi n v chng K s tiền 800.000.000 đồng, ông Nguyn Thành T1
cũng có nợ tin ông P.
Năm 2010, ông Nguyn Thành T1 nhn chuyển nhượng t nhóm h ông
Đức D thông qua giy t viết tay chuyn quyn s dụng 10,1ha đất rng ti tha
đất s 4, t bản đồ 207 (nay là tha s 191, t bản đồ s 2), mục đích sử dụng là đất
rng sn xuất, địa ch ti thôn T, Đ, huyện Đ, tnh Qung Nam (cũ), Giấy chng
nhn quyn s dụng đất do nhóm h ông Đức D. Theo đó, các bên tho thun:
Ông T1 s chuyn quyn s dụng 10,1ha đất rng cho v chng K ông N;
K xoá n cho ông P, ông P xoá n cho ông T1. Các s kin xảy ra đu phù hp vi
nhau v mt thi gian, s tin n 800.000.000 đồng, giá tr chuyn nhượng và din
tích đất rng chuyển nhượng, c th: Ngày 11/4/2015 ông Ngô Văn P lp giy nhn
n vi K s tiền 800.000.000 đồng. Đến ngày 03/8/2015, Nguyn Th Kim H
(v ông T1) viết giy nhn n vi K s tiền 800.000.000 đồng. Cùng trong ngày
03/8/2015, v chng ông Nguyn Thành T1 Nguyn Th Kim H ng viết
giy n tin ông Ngô Văn P s tiền 600.000.000 đồng. Sau đó ông Nguyn Thành
Trung L giy chuyển 10,1ha đất rng cho v chng K, ông N vi giá
800.000.000 đồng.
Ti Biên bn ghi li khai ngày 12/9/2024, Nguyn Th Kim H trình bày:
Giấy mượn tin ngày 03/8/2015 do ghi viết theo ý kiến ca ông T1 (chng
H) ch ông T1 không vay tin ca K. H ng khẳng định rng gia ông T1
vi ông P cũng không còn nợ nần hay liên quan đến nhau nên hơn mười năm nay
các bên không còn liên lc vi nhau.
Ti bn t khai ngày 29/10/2024 ông Đức D trình bày: Chúng tôi có
chuyển nhượng viết tay cho ông Nguyn Thành T1 Đ, Đ chúng tôi giao hn
Giy chng nhn Quyn s dụng đất cho ông T1, mi th tc pháp chuyn cho
ông T1 t làm tôi không biết, cũng không biết bao nhiêu và s dng s tin làm gì".
T đó cho thy, h ông D không chuyển nhượng 10,1ha đất rng cho ông N, K,
mà do ông T1 thc hin, ông D cũng không biết và không nhn tin t v chng ông
N và bà K.
Vi li khai của nguyên đơn K người quyn lợi nghĩa v liên
quan ông n N: Ti Biên bn ghi li khai ngày 11/9/2024, B1 t khai ngày
22/01/2023 ghi li khai bà K cũng thừa nhn K xác lập văn bn xoá n
800.000.000 đồng cho ông P. K, ông N đã thừa nhn nhn chuyển nhượng
10.1ha đất rng t ông T1 do h ông Lê Đức D đại diện đứng tên.
T các tài liu chng c li khai nêu trên cho thy ông T1 đã chuyển
nhượng 10,1ha đt rng ca h ông Đức D đại din cho ông Lê Văn N
Trương Thị Bo K. Đồng thi, ông T1 đã giao toàn bộ Giy chng nhn quyn s
dụng đất h ông Đức D cho ông P cùng v chng ông N K để làm th tc
4
sang tên. Do, 10,1ha đất rng ca ông Trung chuyn N1 nhưng giấy chng nhn còn
đứng tên h ông Lê Đức D đại diện, do đó, đ được đứng tên trong giy chng 10.1
ha đt rng, K mi lập văn bản xoá n điều kin cho ông P ngày 30/9/2015.
Ghi nhn "Nếu khi nào ông Ngô Văn P làm th tc chuyển nhượng bìa đỏ quyn s
dụng đất rng 10 ha sang tên Lê Văn N, tôi đồng ý xoá n 800.000.000 đồng cho
ông Ngô Văn P". Ngày 04/8/2016 v chng K, ông N đưc cp giy chng nhn
quyn s dụng đt s CC996242 đối vi 10,1ha do nhn chuyển nhượng t h ông
D. Như vậy, ông P hoàn thành nghĩa v tr n đưc xác lp theo giấy n tin
ngày 1/4/2015 cho bà K.
Căn cứ khoản 1 Điều 120 BLDS v giao dch dân s điều kiện quy định:
“Trường hp các bên tho thun v điu kin phát sinh hoc hu b giao dch dân
s thì khi điu kiện đó xảy ra giao dch dân s phát sinh hoc hu b". Căn cứ quy
định tại Điều 373 BLDS 2015 quy định: Nghĩa vụ được hoàn thành khi bên có nghĩa
v thc hin toàn b hoc thc hin mt phần nghĩa vụ nhưng phần còn lại được bên
có quyn cho min thc hin.
T căn c trên, ông P đã hoàn thành nghĩa vụ cho K, K khi kin yêu
cu Toà án buc ông P tr cho bà K s tiền 800.000.000 đồng là không có cơ sở.
Đối vi yêu cu khi kin tin lãi chm tr vi lãi sut 10% t ngày
30/4/2015 Âm lịch đến khi tr xong n gc ca s tiền vay 800.000.000 đng. Ti
phiên toà nguyên đơn đã rút yêu cầu đ ngh Hội đồng xét x đình chỉ. T các căn
c trên, đ ngh áp dng khoản 1 Điều 120, khoản 3 Điều 150, khoản 1 Điều 370;
Điều 373: Điều 429 ca B lut dân s 2015, không chp nhn yêu cu khi kin
của nguyên đơn v vic buc ông Ngô Văn P phải nghĩa vụ thanh toán cho
Trương Thị Bo K s tin gốc 800.000.000 đồng.
* Những người có quyn li, nghĩa v liên quan trong v án:
- Ông Nguyn Thành T1 ti Biên bn ghi li khai ngày 30/10/2024 ngày
19/3/2025 trình bày: Trước đây, ông T1 n ông Ngô Văn P 300.000.000 đồng
còn các khon n khác cng dồn 800.000.000 đồng. Ông P lên nói vi ông T1
vic ông P có n v chng K, ông N ng 800.000.000 đồng. Ông P nói vy nên
ông T1 có giao s đ cho anh P để chuyển nhượng 10ha đất rng trên cho bà K, ông
N. Ông T1 không nhn tin chuyển nhượng. Vic chuyn tr khon n ông n
ông P tr thay cho khon n ông P n bà K, ông N thì không có lp biên bn ghi li.
Tại Biên bản đối chất giữa ông Nguyễn Thành T1, Trương Thị Bảo K, ông Ngô
Văn P ngày 19/3/2025, ông T1 nhiều lần xác định: Ông T1 nhận tiền của ông P
ông N nhiều lần cộng dồn 800 triệu, K buộc vợ ông (bà H) viết giấy nợ
K 800 triệu ông T1 đã nhận của ông P ông N. Ông T1 đã chuyển 10,1ha đất
rừng cho bà K để trả số tiền 800 triệu đồng mà vợ ông đã viết giấy nợ bà K.
- Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 Biên bn ghi li khai ngày 12/9/2024
Đơn xin xét x vng mt Nguyn Th Kim H trình bày: Ông T1 chng H
làm ăn vi ông P v chng ông N, K. H không quan h gì, không làm
ăn với ba người này. H viết giy nhn n vi K s tiền 800.000.000 đồng
viết theo ý kiến ca ông T1, bn gc không còn chắc đã thanh toán xong. Mi quan
h làm ăn, mua bán 10ha đt rng vi ông N, K như thế nào do ông T1 làm vic,
5
H không biết, không nhn tin, không biết vic v chng bán 10ha đất rng
800.000.000 đồng đ cn tr tin ông P n ông N, K. Gia đình H n ông P
tin không thì do ông T1 làm vic trc tiếp vi ông P, theo chc không còn
liên quan gì, hơn 10 năm nay không thấy ông P lên.
- Ti Bn t khai ngày 29/01/2024, Biên bn ly li khai ngày 24/01/2024
ông Văn N trình bày: Vic ông Ngô Văn P ghi giấy mượn tin K v ông thì
ông không biết. Ông N không biết v ông viết giy v vic ông P chuyn 10ha rng
cho ông thì xóa n cho ông P như ông P trình bày, ng không biết ông P rng
hay không. T năm 2014 đến nay ông P không có chuyển nhượng diện tích đất rng
cho v chng ông, ch ông Nguyn Thành Trung chuyn N1 cho v chng ông
10,1ha đất rng. Vic chuyển nhượng đất rng ca ông T1 không liên quan đến ông
P.
- Ti Bn t khai ngày 29/10/2024 Biên bn ghi li khai ngày 27/12/2024
ông Đức D trình bày: Ông đứng tên đại din nhóm h trong giy chng nhn
10,1ha đất rng, gm: ông Hunh Văn H1, ông Mai Văn A, ông Đoàn Ngọc Q1.
Nhóm h ông chuyển nhượng 10,1 ha rng này cho ông Nguyn Thành T1, ông
đại din có viết giy tay và làm y quyn cho ông T1 làm t tc sang tên cho ông T1
hoc chuyển nhượng li cho ai tùy ông T1. Sau này ông Trung chuyn nhượng đt
rng này cho ai thì ông không biết, ông cũng không biết s tin chuyển nhượng
đưc bao nhiêu và dùng s tin chuyển nhượng vào vic gì.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2025/DS-ST
ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam
(nay là Tòa án nhân dân Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng) quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản
2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự
- Khoản 2 Điều 155; Điều 429, khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị Bảo K, buộc
bị đơn ông Ngô Văn P nghĩa vụ trả cho Trương Thị Bảo K s tiền
800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng) về khoản nợ gốc ông Ngô Văn P viết giấy
mượn ngày 11/4/2025.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật đơn yêu cầu thi hành án của
Trương Thị Bảo K, thì hàng tháng ông Ngô Văn P còn phải chịu khoản lãi của số
tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự.
2. Đình chỉ yêu cầu tính lãi 10%/năm phát sinh từ ngày 30/4 ân lịch năm 2015
cho đến khi trả xong khoản nợ gốc 800.000.000 đồng.
6
3. Về án phí dân sự thẩm: Ông Ngô văn P phải chịu 36.000.000 đồng. Trả
lại cho Trương Thị Bảo K số tiền tạm ứng án phí đã nộp 18.000.000 đồng theo
Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - Đà Nẵng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo của đương sự.
* Ngày 11 tháng 6 năm 2025, bị đơn ông Ngô Văn P Đơn kháng cáo một
phần bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn Trương Thị Bảo K về việc yêu cầu ông P nghĩa vụ thanh toán số
tiền 800.000.000 đồng. Lý do, theo giấy xoá n có điều kin bà K viết ngày
30/9/2015: "Nếu khi nào ông Ngô Văn P làm th tc chuyển nhượng bìa đ quyn
s dụng đất rng 10 ha sang tên Lê Văn N, tôi đồng ý xoá n 800.000.000 đồng cho
ông Ngô Văn P". Ông P đã thực hin xong vic chuyn quyền 10,1ha đt rng ca
ông T1 (do ông T1 nhn chuyển nhượng ca nhóm h ông Lê Đức D) cho v chng
bà K và ông N, do đó không còn nợ số tiền 800.000.000 đồng như bà K khởi kiện.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị đơn ông Ngô Văn P, người đại diện theo ủy
quyền của ông P giữ nguyên nội dung đã kháng cáo. Các bên không tha thuận được
vi nhau v vic gii quyết v án.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành ttụng và tham gia tố tụng tại cấp
phúc thẩm đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong q
trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa ngày 12/9/2025, ông Văn P1 trình bày
các nội dung liên quan đến quá trình tham gia thực hiện việc chuyển nhượng quyền
sử dụng 10,1ha đất rừng từ giấy chứng nhận đứng tên nhóm hộ Lê Đức D (ông
Nguyễn Thành T1 đã nhận chuyển nhượng nhưng chưa sang tên) qua cho ông
Văn N và Trương Thị Bảo K, cụ thể: ông P1 đã liên hệ với ông V cán bộ Văn
phòng đăng đất đai huyện C (cũ) cùng ông V ông N thực hiện việc đo đạc
diện tích đất rừng đchuyển nhượng qua tên ông N, K. Quá trình thực hiện việc
đo đạc có làm rơi cái nắp của máy đo. Ông P1 cũng cùng ông V, ông N đến nhà ông
Lê Đức D để ký tờ khai về đất đai. Ông D ủy quyền cho bà T2 vợ ông D, ông Q1 ủy
quyền cho mẹ là bà Y đại diện giấy tờ chuyển nhượng 10,1ha đất rừng từ giấy
chứng nhận đứng tên hộ ông Đức D qua cho K ông N. Nội dung, ông P1
trình bày, ông N và bà K không xác nhận, cho rằng ông P1 trình bày là không có căn
cứ. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị tạm ngừng
phiên tòa để thu thập thêm tài liệu, chứng cứ liên quan để làm nội dung ông Ngô
Văn P trình bày.
Trong thời gian tạm ngừng, nguyên đơn Trương Thị Bảo K cung cấp tài
liệu, chứng cứ trong đó có Giấy ủy quyền ngày 09/4/2016 của ông Lê Đức D cho vợ
Huỳnh Thị T2, ông Đoàn Ngọc Q1 ủy quyền cho mẹ Thị Y thay mặt
các văn bản để chuyển nhượng 10,1ha đất rừng từ hộ ông Lê Đức D đại diện cho
7
ông N bà K. Tòa án đã xác minh tại Chi nhánh Văn phòng C (Chi nhánh Văn phòng
đăng ký đất đai huyện C ). Ông Nguyễn Quốc V hiện là Phó Giám đốc Chi nhánh
Văn phòng C, đồng thời là người trực tiếp thực hiện việc đo đạc và thực hiện các thủ
tục về việc chuyển nhượng 10,1ha đất rừng từ nhóm hộ ông Đức D qua cho ông
N, K, thể hiện: Ông P người liên hVPĐKĐĐ huyện Đại Lộc (trực tiếp
ông Nguyễn Quốc V) trao đổi, nhờ thực hiện thủ tục đo đạc đối với diện tích 10,1ha
đất rừng từ hộ ông D qua cho ông N bà K. Sau khi thống nhất, ông P mới dẫn ông N
bà K đến gặp ông V mang theo bìa đỏ để thực hiện việc đo đạc. Quá trình thực
hiện việc đo đạc ông P cùng ông V và ông N thực hiện và có rớt nắp của máy đo nên
quay lại tìm. Ông P dẫn ông V ông N đến nhà ông Đức D để tờ khai về
đất đai. Quá trình thực hiện thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ rừng đứng tên từ hộ ông
Đức D qua cho ông N, bà K ông P tham gia. Ông P và ông N đều nói đcấn nợ
từ ông T1 số tiền 800.000.000 đồng.
Căn cứ nội dung trình bày của ông Ngô Văn P, tài liệu, chứng cứ các bên
cung cấp trong hồ vụ án xác minh của Tòa án, sở xác định trình bày
của ông Ngô Văn P căn cứ. Ông P đã tham gia thực hiện thủ tục chuyển
nhượng quyền sử dụng 10,1ha đất rừng qua tên ông N, K để cấn trừ số tiền
800.000.000 đồng như Giấy cam kết xóa nợ điều kiện K viết ngày 30/9/2015.
Do đó, kháng cáo của ông Ngô Văn P là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị HĐXX chấp nhận
kháng cáo của bị đơn Ngô Văn P. Sửa Bản án thẩm, không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Trương Thị Bảo K vviệc buộc ông Ngô Văn P nghĩa vụ trả
cho bà Trương Thị Bảo K số tiền 800.000.000 đồng về khoản nợ gốc ông Ngô Văn
P viết giấy mượn ngày 11/4/2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thời hạn, nội dung kháng cáo của đương sự: Bị đơn ông Ngô Văn P
có đơn kháng cáo vào ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với một phần Bản án dân sự sơ
thẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ) đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Về thời hạn và nội
dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P đảm bảo theo quy định tại các Điều
271, 272, 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được thụ lý, giải quyết theo trình tự
phúc thẩm.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, gồm: ông Nguyễn Thành T1, Nguyễn Thị Kim
H ông Đức D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Quá trình
giải quyết vụ án đã có văn bản trình bày và xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại
khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục tiến hành phiên
tòa xét xử vắng mặt đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P:
8
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trương Thị Bảo K bị đơn
ông Ngô Văn P xác nhận, ông P có viết Giấy mượn tiền ghi ngày 11/4/2015 thể hiện
ông P ợn của bà K số tiền 800.000.000 đồng. Về nguồn gốc số tiền nợ do
ông P cùng ông Nguyễn Thành T1 vợ chồng ông Văn N, Trương Thị Bảo
K hợp tác làm ăn dẫn đến khoản nợ. Thời điểm viết giấy nợ 11/4/2015
(23/02/2015 Âm lịch) hẹn đến 30/4/2015 Âm lịch (02 tháng 07 ngày) sẽ thanh
toán đủ số tiền nợ cho K. Tuy nhiên, hết thời hạn cam kết trả n vào ngày
30/4/2015 Âm lịch đến khi khởi kiện tháng 12/2023, hơn 08 năm không tài liệu,
chứng cứ nào sở xác định bà K yêu cầu ông P thực hiện nghĩa vụ trả nợ
như cam kết tại Giấy mượn tiền ghi ngày 11/4/2015.
[2.2] Ông Ngô Văn P xác định khoản nợ 800.000.000 đồng ông viết Giấy
mượn tiền ngày 11/4/2015 đã được ông P trả xong thông qua việc thỏa thuận cấn trừ
diện tích 10,1ha đất rừng do nhóm hộ ông Đức D đứng tên trong giấy chứng
nhận, diện tích đất rừng này đã được ông Nguyễn Thành T1 mua lại vào năm 2010.
Sau khi ông N, bà K được đứng tên trên diện tích 10,1ha đất rừng thì ông P hết n
K ông T1 cũng hết nông P. Trương Thị Bảo K xác nhận ngày 30/9/2015
viết giấy a nợ điều kiện cho ông Ngô Văn P: khi ông P m thủ tục chuyển
nhượng bìa đỏ QSD đất rừng 10ha sang tên ông N thì đồng ý xóa nợ 800.000.000
đồng cho ông P. Sau khi viết giấy a nợ điều kiện cho ông P trên, vợ chồng
K, ông N đã được ông Trung chuyển N1 diện tích 10,1ha đất rừng (do ông Đức
D đại diện đứng tên), đến ngày 04/8/2016 vợ chồng K, ông N đã được cấp lại sổ mới
đối với 10,1ha đất rừng nêu trên. Tuy nhiên, bà K cũng như ông N cho rằng diện tích
đất rừng này ông Trung chuyển N1 lại cho vợ chồng K, ông N để cấn trừ khoản
nợ 800.000.000 đồng H vợ ông T1 đã viết Giấy nợ tiền bà K vào ngày
03/8/2015, không liên quan đến khoản nợ 800.000.000 đồng ông P viết Giấy mượn
tiền ngày 11/4/2015, cũng không liên quan đến vic chuyển nhượng bìa đỏ quyn s
dụng đất rng 10ha sang tên ông N như giấy xóa nợ có điều kiện cho ông P bà K
đã viết cho ông P vào ngày 30/9/2015. T m 2014 đến nay ông P không
chuyển nhượng diện tích đất rng nào cho v chng bà K.
[2.3] Xét, nội dung do Trương Thị Bảo K cam kết tại văn bản xóa nợ
điều kiện ngày 30/9/2015: khi ông P làm thủ tục chuyển nhượng bìa đỏ QSD đất
rừng 10ha sang tên ông N thì đồng ý xóa nợ 800.000.000 đồng cho ông P. Như vậy,
tại giấy cam kết này, bà K chỉ xác định khi ông P làm thủ tục chuyển nhượng bìa đỏ
QSD đất rừng 10ha sang tên ông N tđồng ý xóa nợ 800.000.000 đồng cho ông P
không xác định chuyển nhượng bìa đỏ QSD đất rừng 10ha đứng tên ông P qua
cho ông N, cũng không xác định 10ha đứng n ông T1 hay đứng tên người nào
khác qua cho ông N. Quá trình giải quyết ván cũng như tại phiên tòa phúc thẩm
ngày 12/9/2025, phiên tòa ngày 25/9/2025, K, ông N đều xác định hoàn toàn
không biết ông P đất rừng hay không. Do đó, việc K cho rằng viết cam kết
xóa nợ ngày 30/9/2015 cho ông P khi ông P chuyển nhượng đất rừng của ông P
cho ông N thì mới xóa nợ, còn việc chuyển nhượng đất rừng từ ông T1 qua cho
vợ chồng không liên quan đến việc xóa nợ cho ông P không phù hợp với thực
tế đã diễn ra và nội dung tại giấy cam kết xóa nợ bà K đã viết ngày 30/9/2015.
9
[2.3.1] Ông Đức D xác nhận diện tích đất rừng do ông đại diện đứng tên
trên đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Thành T1 từ năm 2010, giấy chứng nhận đã
bàn giao cho ông T1, việc ông Trung chuyển N1 cho vợ chồng bà K lúc nào, giá bao
nhiêu ông D không biết, do đất rừng đã bán cho ông T1 nên không có liên quan. Tại
Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Thành T1 vào ngày 19/3/2025 tại Trại tạm
giam Công an tỉnh Q (cũ) do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành có xác nhận của Giám thị
Trại tạm giam, ông T1 xác nhận: Trước đây ông có nợ ông P 300 triệu và các khoản
nợ khác cộng dồn khoảng 800 triệu. Anh P lên nói anh P nợ vợ chồng K, N
cũng 800 triệu, anh P nói như vậy nên ông T1 giao sổ đỏ cho anh P để chuyển
nhượng 10ha rừng trên cho K, ông N. Số tiền 800 triệu ông T1 không lấy, không
viết giấy tờ, không hợp đồng công chứng. Tại Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn
Thành T1 vào ngày 30/10/2024 ông T1 xác nhận: Các bên làm ăn tin tưởng nhau
nên không lập biên bản giấy tờ trừ nợ cho ông P. Tại Biên bản đối chất tại Trại
giam Công an tỉnh Q (cũ) giữa ông Nguyễn Thành T1, Trương Thị Bảo K, ông
Ngô Văn P do Tòa án cấp sơ thẩm lập ngày 19/3/2025, ông T1 nhiều lần xác định và
yêu cầu Thẩm phán ghi rõ: Ông T1 có nhận tiền của ông P và ông N nhiều lần cộng
dồn 800 triệu, K buộc vợ ông (bà H) viết giấy nợ K 800 triệu mà ông T1
đã nhận của ông P ông N. Ông T1 đã chuyển 10ha đất rừng cho K để trả số
tiền 800 triệu đồng mà vợ ông đã viết giấy nợ K. Ti Biên bản đối cht này, ông
P xác nhn ni dung trình bày ca ông T1 là đúng, bà K cũng không phản đối ni
dung trình bày này ca ông T1. Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 Biên bn ghi li
khai ngày 12/9/2024 bà Nguyn Th Kim H cũng xác nhận, ông T1 chng bà có làm
ăn vi ông P v chng ông N, K. H không quan hệ, không làm ăn,
không mượn tiền ba người này. Bà H xác nhn có viết giy nhn n vi bà K s tin
800.000.000 đồng viết theo ý kiến ca ông T1 chng bà. Mi quan h làm ăn,
mua bán đất rng vi ông N, bà K như thế nào do ông T1 làm vic, bà H không biết,
không nhn tiền. Như vậy, sở xác định s tiền 800.000.000 đng H viết
Giấy mượn tin K vào ngày 03/8/2015 chính khon tin ông T1 nhận của ông
P ông N nhiều lần cộng dồn 800 triệu như trình bày ca ông T1 ti biên bn
đối cht trên, không phi ông P n bà K 800 triệu đồng H cũng n K 800
triu đồng, hai khon n này là khác nhau như bà K trình bày. Cũng ngày 03/8/2015
K buc H viết giy n 800 triệu đồng, thì H ông T1 cũng viết giy xác
nhn n ông P s tiền 600.000.000 đồng. Giy n tin này ông P đang giữ bn chính
cung cp trong h vụ án. Ông P xác nhn khon n này đã được cn tr khi
chuyển nhượng đất rng ca ông T1 qua cho v chng bà K và ông N. Ông T1 cũng
xác nhn không còn n tin ông P. Ti Bn t khai ngày 12/9/2024 Biên bn ghi
li khai ngày 12/9/2023, tr li câu hi ca Tòa án v việc gia đình H n ông
P tin gì không thì bà H cho rng n hay không do ông T1 làm vic trc tiếp vi ông
P, theo bà chắc không n liên quan hơn 10 năm nay không thy ông P lên.
Vi trình bày của các bên như trên, vic ông P xác đnh s tin K buc H viết
giy n 800 triệu đồng cho K s tin ông T1 nhn ca ông P và ông N chng
K, cũng chính s tin ông P viết giy n K 800 triệu đồng vào ngày
11/4/2015 là có căn cứ.
10
[2.3.2] Ngay sau khi Trương Thị Bảo K khởi kiện được Tòa án cấp
thẩm thụ lý, giải quyết ông Ngô Văn P đã trình bày khoản tiền ông viết giấy nợ bà K
vào ngày 11/4/2025 đã được cn tr vào 10,1ha đt rng ca ông T1 (do h ông
Đức D đại diện đng tên) chuyển nhượng qua cho K, đng thi cung cp giy
xóa n điều kin do K đã viết ngày 30/9/2015 đề ngh đưa những người
tên trong giy chng nhận 10,1ha đất rng do ông Đức D đại din, gm: ông
Đoàn Ngọc Q1, ông Mai Văn A ông Huỳnh Văn H2 vào tham gia t tụng để làm
s tht khách quan ca v án. Quá trình gii quyết v án, ông P cũng trình bày
sau khi K viết giy cam kết xóa n điều kin vào ngày 30/9/2015, ông P đã
thc hin các th tục để chuyển nhượng quyn s dụng 10,1ha đất rng ca ông T1
(do ông D đi diện đứng tên) qua cho ông N K. Ti phiên tòa phúc thm m
ngày 12/9/2025, ông P trình bày chi tiết các th tục cũng như công việc ông đã cùng
ông N, K thc hiện để chuyn quyn s dng 10,1ha đất rng qua cho ông N
K, c th: Sau khi giy cam kết xóa n ca K, ông P đã liên h vi ông
Nguyn Quc V, thời điểm năm 2015 cán b ca Văn phòng C Chi nhánh Đ
ngưi trc tiếp ph trách việc đo đạc thc hin các th tục để cp giy chng
nhn quyn s dụng đt ti khu vc Đ, huyện Đ (cũ), nơi diện tích đất trng
rng 10,1ha ca ông T1 đã nhận chuyển nhượng t h ông Đức D đại din, theo
Giy chng nhận QSDĐ số Q 153518 do UBND huyện Đ cp ngày 10/7/2003. Sau
khi thng nht vi ông V thì ông P dn ông N K mang theo s đỏ (Giy
CNQSDĐ) đến gp ông V để thc hin các th tc chuyển nhượng, trong đó có trc
tiếp cùng ông V ông N thc hin việc đo đạc đi với 10,1ha đất rng trên. Ông P
mô t chi tiết v v trí đất, đường dẫn đến diện tích đất và c quá trình thc hin vic
đo đạc làm rt cái np của máy đo nên mọi người phi quay li tìm. C vic ông
P dn ông V cùng ông N đến nhà ông Đức D để giy t v vic chuyn
nhưng ông D y quyn cho v là Hunh Th T2, ông Đoàn Ngc Q1 y
quyn cho mbà Lê Th Y thay mt ký giy t liên quan vic chuyển nhượng qua
tên ông N và bà K. Quá trình gii quyết v án cũng như tại phiên tòa ngày
12/9/2025, v chng bà K, ông N đều khẳng định ni dung ông P trình bày như trên
không căn cứ, cho rng ông P không tham gia cũng không quyn tham
gia vào vic thc hin các th tục để chuyển nhượng 10,1ha đt rng qua tên ông N
và bà K như ông P trình bày.
[2.3.3] Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
tại phiên tòa ngày 12/9/2025, HĐXX đã tạm ngừng phiên tòa để các bên đương s
cung cấp tài liệu, chứng cứ xác minh làm ni dung ông Ngô Văn P đã trình
bày. Tại Biên bản xác minh của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng tại Chi nhánh
Văn phòng C (Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cũ). Ông Nguyễn
Quốc V hiện Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai Khu vực 6,
tại thời điểm năm 2015 ông V là cán b ca Văn phòng C Chi nhánh Đ là người trc
tiếp ph trách việc đo đc các th tục liên quan đến vic chuyển nhượng 10,1ha
đất rng t h ông Đức D qua tên ông N K đã xác nhận: Ông P người
liên hệ VPĐKĐĐ huyện Đ (liên lạc trực tiếp với ông V) trao đổi, nhờ thực hiện
11
thủ tục đo đạc đối với diện tích 10,1ha đất rừng từ hộ ông D để chuyển nhượng qua
cho ông N K. Sau khi thống nhất với ông V, ông P mới dẫn ông N K đến
gặp ông V mang theo bìa đỏ để thực hiện việc đo đạc. Quá trình thực hiện việc đo
đạc ông P ng ông V ông N thực hiện rớt nắp của máy đo nên quay lại
tìm. Ông P dẫn ông V ông N đến nhà ông Đức D để tờ khai về đất đai.
Quá trình thực hiện thủ tục cấp Giấy CNQSDĐ rừng đứng tên từ hộ ông Đức D
qua cho ông N, K ông P tham gia. Ông P ông N đều nói để cấn nợ tông
T1 số tiền 800.000.000 đồng. Sau khi giấy chứng nhận QSDĐ thì K, ông N
trực tiếp đến nhận, ông P không quyền nhận. Sau khi sổ đỏ thì K, ông N
làm thủ tục đổi qua sổ hồng. Tài liệu do K cung cấp sau khi HĐXX ngừng phiên
tòa vào ngày 12/9/2025 Giấy ủy quyền của ông Đức D cho Huỳnh Thị T2
vào ngày 09/4/2016 Giấy ủy quyền của ông Đoàn Ngọc Q1 cho Thị Y vào
ngày 11/4/2016 để đại diện các văn bản chuyển nhượng đất rừng do hộ ông
Đức D đại diện qua cho ông N, bà K. Như vậy, nội dung trình bày của ông Ngô Văn
P căn cứ, ông P đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình với cam kết xóa nợ
điều kiện K viết cho ông P ngày 30/9/2015, phù hợp với diễn biến logic của s
việc. Tại phiên tòa hôm nay, sau khi được công bố nội dung xác nhận của ông V -
Phó Giám đốc Chi nhánh Văn phòng C, bà K cho rằng việc ông P đi cùng ông N
chồng khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng 10,1ha đất rừng do là bạn bè thân
thiết và cùng đi để cho ông N mạnh dạn không phải để cấn trừ nghĩa vụ trả khoản nợ
800.000.000 đồng không phù hợp sthật khách quan, cũng như cam kết xóa nợ
của K như nêu trên. Do đó, ông P xác định số tiền ông P viết giấy nợ K
800.000.000 đồng vào ngày 11/4/2015 cũng chính khon tin ông T1 nhận của
ông P và ông N nhiều lần cộng dồn là 800 triệuK buộc bà H viết giấy ợn tiền
ngày 03/8/2015 và đã được cấn trừ vào việc chuyển nhượng 10,1ha đất rừng của ông
T1 (hộ ông D đứng tên) qua cho vợ chồng K ông N sở chấp nhận.
Diện tích đất rừng này, ông N K đã được chỉnh biến động đứng tên trong
giấy chứng nhận 10,1ha từ ngày 14/7/2016, sau đó đã thực hiện thủ tục đổi lại sổ
hồng và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q (cũ) cấp lại giấy chứng nhận vào
ngày 04/8/2016 và đã chuyển nhượng cho ông Trần Duy K1, sinh năm 1982, trú tại:
thôn P, Đ, huyện Đ (cũ), được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện C
đăng ký chỉnh lý biến động vào ngày 19/10/2017.
[3] Từ những căn cứ, nhận định trên, xét thấy nội dung kháng cáo của bị đơn
ông Ngô Văn P, trình bày của đại diện theo y quyền của ông P tại phiên tòa phúc
thẩm sở chấp nhận. Bản án thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà K1 buộc ông P có nghĩa vụ thanh toán số tiền 800.000.000đ viết giấy
mượn ngày 11/4/2015 không phù hợp với sự thật khách quan, ảnh hưởng đến
quyền, lợi ích hợp pháp của ông P như đã nhận định phân tích trên. Nội dung trình
bày của nguyên đơn Trương Thị Bảo K, người đại diện theo ủy quyền của K,
ông Lê Văn N không có căn cứ chấp nhận.
12
[4] Về ý kiến của đại diện VKSND thành phố Đà Nẵng tại phiên tòa, đề nghị
chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn P, sửa Bản án thẩm, không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Bảo K về việc buộc ông Ngô Văn P
nghĩa vụ trả cho K số tiền 800.000.000 đồng về khoản nợ ông P viết giấy ợn
ngày 11/4/2015 phù hợp với phân ch nhận định trên của HĐXX nên sở
chấp nhận. Trình bày của nguyên đơn Trương Thị Bảo K, người đại diện của
K tại phiên tòa phúc thẩm đnghị không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn P,
giữ nguyên Bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Về án phí:
[5.1] Án phí thẩm: Do sửa Bản án thẩm nên HĐXX tính lại án phí
thẩm theo quy định của pháp luật. Căn cứ khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ
phí Tòa án, Trương Thị Bảo K phải chịu án phí thẩm 36.000.000 đồng do
yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 18.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
hành án dân shuyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 11 - Đà Nẵng), số tiền án phí sơ thẩm còn lại phải nộp là 18.000.000 đồng.
Ông Ngô Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
[5.2] Án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số:
326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016, ông Ngô Văn P không phải chịu, được
trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000 đồng đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của b đơn ông Ngô Văn P.
Sửa Bản án dân sthẩm số: 42/2025/DS-ST ngày 02 tháng 6 năm 2025
của Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ), nay Tòa án nhân dân
Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng.
Căn cứ:
- Các điều 147, 227, 266, 267, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 120, Điều 373, Điều 274, Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Khoản 1 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về
mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trương Thị Bảo K
về việc yêu cầu bị đơn ông Ngô Văn P nghĩa vụ trả cho bà Trương Thị Bảo K số
tiền 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng) về khoản nợ gốc ông NVăn P viết
giấy mượn ngày 11/4/2015.
2. Đình chỉ yêu cầu tính lãi 10%/năm phát sinh từ ngày 30/4 Âm lịch năm
2015 cho đến khi trả xong khoản nợ gốc 800.000.000 đồng.
13
3. Về án phí:
3.1. Án phí sơ thẩm:
- Trương Thị Bảo K phải chịu án phí thẩm 36.000.000 đồng do yêu
cầu khởi kiện không được chấp nhận, được trừ vào số tiền tạm ứng án pđã nộp
18.000.000 đồng theo Biên lai thu số 0016586 ngày 19/12/2023 của Chi cục Thi
hành án dân shuyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay Phòng Thi hành án dân sự
Khu vực 11 thành phố Đà Nẵng), số tiền án phí thẩm K còn lại phải nộp
18.000.000 đồng.
- Ông Ngô Văn P không phải chịu án phí sơ thẩm.
3.2. Án phí phúc thẩm: Ông Ngô Văn P không phải chịu, được trả lại số tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000đ, theo Biên lai thu số 0017071 ngày
16/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (cũ),
nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 11 - thành phố Đà Nẵng).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh
án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành
án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Phòng THADS Khu vực 11;
- THADS Tp Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân Khu vực 11 ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Hiếu
Tải về
Bản án số 242/2025/DS Bản án số 242/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 242/2025/DS Bản án số 242/2025/DS

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất