Bản án số 200/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 200/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 200/2025/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 200/2025/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 200/2025/DS-PT ngày 18/11/2025 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Nguyên |
| Số hiệu: | 200/2025/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 18/11/2025 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn C và chị Đỗ Ngọc Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 200/2025/DS-PT
Ngày: 18 - 11 - 2025.
V/v: Tranh chấp quyền sử
dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Hoàng Anh Tuấn.
Các Thẩm phán: Ông: Hoàng Hữu Truyền.
Bà: Lý Thị Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Nông Văn
Đổi - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 18 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2025/TLPT-DS ngày 02 tháng
10 năm 2025 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 161/2025/QĐPT-DS
ngày 29 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Trung K, sinh năm 1955. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân H,
sinh năm 1981. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1969. Có mặt.
2.2. Chị Đỗ Ngọc Q, sinh năm 1990. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của chị Q: Ông Đỗ Văn C, sinh năm 1969.
Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Bà Dương Thị L, sinh năm 1962. Có mặt.
3.2. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1969. Có mặt.
3.3. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1949. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Trần Khắc M, sinh năm 1952. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Ông Nguyễn Đình C1, sinh năm 1957. Vắng mặt.
4.3. Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1971. Có mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Văn C, chị Đỗ Ngọc Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và quá trình
giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Ngày 25/6/1998, ông K được UBND huyện (nay là thành phố) Phổ Yên
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 716, tờ bản đồ số 32
(104), diện tích 220 m² đất thổ cư, đã trừ hành lang giao thông, địa chỉ tại: xóm
D, xã H, huyện P (nay là Tổ dân phố T, P), tỉnh Thái Nguyên theo giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số I 268536, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số 02541 QSDĐ/302 mang tên Phạm Trung K.
Về nguồn gốc hình thành thửa đất: Anh trai ông K là Phạm Văn S có thửa
đất liền cạnh, khi đó gia đình ông K gồm: 2 vợ chồng và 01 đứa con ra ở riêng,
đã được anh trai cho phần diện tích đất khoảng 120 m² đất cùng thửa với đất anh
trai ông. Sau đó, vợ chồng ông làm nhà cấp IV có diện tích 70 m² trên thửa đất
đó. Đến năm 1984, cụ Nguyễn Thị Đ - mẹ ông Đỗ Văn C có thửa đất sát bên
cạnh có nhu cầu bán nên vợ chồng ông mua lại, diện tích ông không nhớ cụ thể
nhưng khoảng hơn 100 m². Khi mua bán cả hai bên có giấy tờ viết tay, có chữ
ký rõ ràng. Sau khi mua bán đất của cụ Đ và nhận tặng cho đất của ông S, đến
1998 thì Nhà nước triển khai việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì
nhà ông mới hợp nhất hai thửa và làm bìa riêng. Khi đó cơ quan đo đạc gồm
Chủ nhiệm Hợp tác xã, Địa chính xã, Chủ tịch xã lập Hội đồng đo đất, có sự
chứng kiến của hai bên gia đình, phần diện tích thực tế nhà ông sử dụng là
khoảng 240 m² nhưng khi vào bìa chỉ có 220 m².
Quá trình sử dụng đất: Khi mua bán đất xong, gia đình ông C đã xây công
trình phụ, cùng hệ thống chuồng trại và tường rào để phân chia ranh giới với nhà
ông. Xây từ sát mép đường cho đến hết kịch phần đất, xấp xỉ 40m chiều dài,
hiện nay chỉ còn phần tường dài 7 - 8m nằm phía sát mép cổng nhà ông và sát
đường 261. Hai bên đã nhất trí và sử dụng ổn định từ thời điểm năm 1984. Gia
đình ông đã sử dụng ổn định từ năm 1984 đến tháng 8/2023 thì có tranh chấp
xảy ra với nhà ông Đỗ Văn C vì lý do: Ngày 27/8/2023, ông C cùng một số
3
người đến đo đạc và đòi lại khoảng 40m² đất ở mà trong sổ đỏ ông C có nói là
đã sang tên một phần cho con gái là chị Đỗ Ngọc Q trên nền đất ở nhà ông đã
sinh sống ổn định gần 40 năm nay, đã được nhà nước cấp quyền sử dụng đất
ngày 25/6/1998, ông C cho rằng chỗ đất 40 m² đó thuộc quyền quản lý của ông
C, gia đình ông muốn làm gì thì phải hỏi xin ý kiến của ông C, gây khó khăn
cho gia đình ông khi ông muốn làm thủ tục sang tên bìa đỏ cho vợ là bà Dương
Thị L. Đây là điều vô lý, không có căn cứ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và
lợi ích hợp pháp của ông và gia đình, cho đến nay, hai bên đã hòa giải ở các cấp
chính quyền địa phương nhưng không thành.
Đối với con đường 261 đi qua trước cửa nhà ông, ban đầu rộng khoảng
4m, sau nhiều lần sửa đường, hiện nay đã rộng khoảng 7m, nhà ông cùng các gia
đình hàng xóm đều tự nguyện hiến đất, phần đất hiến của gia đình ông không bị
thu hồi, không bị điều chỉnh trong bìa. Diện tích hiến đất cụ thể ông không nhớ
rõ. Sau khi làm bìa, nhà ông không thực hiện thủ tục tặng cho, chuyển nhượng
hay đăng ký biến động tăng giảm phần diện tích trong thửa đất nêu trên.
Về phần ranh giới thửa đất từ 1984 đã có tường rào giữa phần đất nhà ông
C và nhà ông. Hiện nay phần ranh giới vẫn đang được sử dụng trên phần đất nhà
chị Q, từ lúc mua đất cho đến lúc làm bìa cấp đất đến nay đều sử dụng bờ tường
đó làm ranh giới giữa hai nhà.
Đối với kết quả đo đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành
phố P ông cho rằng không đúng, phần diện tích giữa các thửa đất đang chồng lên
nhau, ông không đồng ý với kết quả đo. Đất ông S cho gia đình ông mà giờ lại
chồng sang nhà ông S gần 100 m², vào giữa nhà ông S và vòng ra phía sau vườn.
Phần tiếp giáp nhà ông C, hai bên gia đình đã sử dụng ổn định gần 40 năm, có
bờ tường xây cố định làm ranh giới giữa hai nhà.
Nay ông khởi kiện yêu cầu công nhận phần diện tích đất tranh chấp 37,3
m² thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông, Đồng thời yêu cầu ông C, bà H1, chị
Q chấm dứt hành vi cản trở ông thực hiện quyền sử dụng đất hợp pháp đối với
phần đất nêu trên.
Bị đơn ông Đỗ Văn C trong quá trình giải quyết vụ án trình bày:
Ngày 25/3/2008, mẹ ông C là cụ Nguyễn Thị Đ đã làm thủ tục đề nghị
cấp có thẩm quyền chuyển cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông, đến ngày
13 tháng 4 năm 2009 vợ chồng ông được UBND huyện P (nay là thành phố P)
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Seri AN 861314. Số vào sổ cấp giấy
chứng nhận 4582, giấy chứng nhận mang tên Đỗ Văn C và Nguyễn Thị H1.
Thửa đất số 831, Tờ bản đồ số 104; Diện tích 1040 m² trong đó: Đất ở
900 m², thời hạn sử dụng lâu dài; đất trồng cây lâu năm 140 m², thời hạn sử
dụng đến tháng 12 năm 2058; Hình thức sử dụng: sử dụng riêng 1040 m². Địa
chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường H, thành phố P (nay là phường P), tỉnh Thái
Nguyên; Nguồn gốc sử dụng đất: Bố mẹ chuyển cho.
Năm 2018 thị xã P thực hiện công tác chỉnh trang đô thị, đầu tư nâng cấp
mở rộng đường, xây dựng mương thoát nước và lát vỉa hè 2 bên tuyến đường
4
tỉnh lộ DT 261. Ngày 03/10/2018 gia đình ông làm đơn tự nguyện xin hiến 69,5
m² đất của gia đình cho nhà nước để làm mương thoát nước và lát vỉa hè đường
DT 261. Ngày 09/10/2018 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P (nay là
thành phố P) đã đồng ý điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia
đình ông còn lại là 970,5 m² (trong đó đất ONT: 900 m², đất CLN 70,5 m²).
Năm 2018 gia đình ông đã làm thủ tục hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền
tách đất cho 02 con gái ông là Đỗ Ngọc Q và Đỗ Thị D. Ngày 19/10/2018 Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
Đỗ Ngọc Q; Số sêri: CO 236670, thửa đất số 2051, tờ bản đồ số 32, diện tích
86,2 m² đất ở, thời hạn sử dụng sử sử dụng lâu dài và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Đỗ Thị D; Số sêri: CO 651506, thửa đất số 2050, tờ bản
đồ số 32, diện tích 82,9 m² đất ở, thời hạn sử dụng sử dụng lâu dài.
Ngày 26 tháng 6 năm 2019, gia đình ông được Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất mang tên ông C, bà H1 số sêri CQ 087034. Thửa đất
số 831; Tờ bản đồ số 32, diện tích 801,4 m², trong đó: Đất ở 730,9 m² thời hạn
sử dụng lâu đài, đất trồng cây lâu năm là 70,5 m² thời hạn sử dụng đến tháng 12
năm 2058. Địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố T, phường H, thành phố P (nay là
phường P), tỉnh Thái Nguyên.
Hàng năm gia đình ông thực hiện đóng thuế sử dụng đất đầy đủ theo quy
định của nhà nước. Từ khi tách đất ở cho 2 con ông thì không có ai có ý kiến gì.
Đầu năm 2022 chị Đỗ Ngọc Q đã phá dỡ ngôi nhà cấp 4, bốn gian gia đình ông
xây dựng từ năm 1992 và đã cho chị Đỗ Ngọc Q từ năm 2018 để tiến hành xây
dựng nhà ở mới nằm trên vị trí nên nhà cũ, phía sau nhà cũ vẫn còn diện tích đất
mà gia đình chưa sử dụng khoảng hơn 01 m.
Gia đình ông sử dụng thửa đất số 831, tờ bản đồ số 32, diện tích 801,4 m²
ổn định từ trước đến nay, không tranh chấp với các hộ giáp ranh, liền kề và các
hộ gia đình khác.
Tại phiên toà sơ thẩm ông C trình bày: Ông thừa nhận nguồn gốc hình
thành thửa đất 716 của gia đình ông K là từ đất mua một phần của mẹ ông khi cụ
Đ còn sống và một phần nhận tặng cho từ ông S là anh trai ông K, không có
tranh chấp gì. Cho đến năm 2008 khi mẹ ông tặng cho đất cho vợ chồng ông thì
ông đã biết việc đất của nhà mình được cấp quyền sử dụng vẫn còn một phần
diện tích đang được gia đình ông K sử dụng nhưng thời điểm đó hàng xóm sống
với nhau hoà thuận nên ông cũng không có ý kiến gì, chỉ nghĩ đơn giản sau này
cần thì sẽ lấy lại. Năm 2018 ông tách đất cho chị Q khi làm thủ tục cấp giấy
chứng nhận mới cho chị Q ông vẫn biết việc nhà ông K đang sử dụng một phần
đất của nhà mình nhưng cũng không có ý kiến gì với cơ quan cấp đất. Đến năm
2022 chị Q làm nhà thì mới có ý kiến với gia đình ông K để lấy lại đất thì gia
đình ông K không đồng ý trả đất. Tuy nhiên, ông cũng không báo với cơ sở xóm
hoặc chính quyền địa phương để can thiệp, giải quyết tranh chấp đất đai.
Ông thừa nhận kết quả đo đạc xem xét, thẩm định của Toà án tiến hành là
đúng. Nay ông K khởi kiện yêu cầu công nhận phần diện tích tranh chấp với gia
5
đình ông là 15.7 m² ông không đồng ý vì nó nằm trong phần đất nhà ông đã
được cấp quyền sử dụng theo bản đồ địa chính.
Bị đơn chị Đỗ Ngọc Q trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất: Năm 2018, bố mẹ chị Q là ông Đỗ Văn C và bà
Nguyễn Thị H1 tách đất cho chị 86,2 m² từ thửa 831, chị được Sở Tài nguyên và
Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số CO 236670, chỉnh lý
thành thửa 2051, tờ bản đồ số 32, ngày 19/10/2018.
Quá trình sử dụng đất: Trước đó chị ở nhà cũ, nhà cấp IV, bốn gian mà bà
nội chị - cụ Nguyễn Thị Đ xây dựng từ năm 1992, sau đến năm 2022 khi chị làm
nhà thì chị mới dỡ bỏ căn nhà đó đi. Tháng 3 năm 2022 chị xây dựng nhà ở và
được UBND thị xã (thành phố) Phổ Yên cấp GPXD số 69/GPXD ngày
24/03/2022. Khi xây nhà chị còn để lại một phần đất giáp ranh giới với nhà ông
Phạm Trung K (chiều rộng phía trên và đáy hơn 1m, chiều dài hơn 15m) chị
chưa xây hết đất của gia đình, còn để lại để làm đường đi về phía sau nhà và đặt
đường ống thoát nước, đường nước sạch chạy phía dưới. Hàng năm chị thực
hiện đóng thuế đất ở đầy đủ theo quy định của Nhà nước.
Đối với kết quả đo đạc đất của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai
thành phố P, chị đồng ý. Phần diện tích đất của nhà chị vẫn còn và đang được
ông K quản lý sử dụng là 21,6 m², chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc công nhận phần diện tích 21,6 m² này thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của ông Phạm Trung K, đề nghị gia đình ông K phải trả lại cho chị
phần đất này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S trình bày:
Thửa đất hiện nay nhà ông đang sử dụng là thửa số 715, tờ bản đồ 104,
diện tích 475 m² đất thổ cư có vị trí tại xóm Â, xã H, huyện P (nay là Tổ dân phố
T, phường P), tỉnh Thái Nguyên. Thửa đất của gia đình ông mua của ông Đào
L1 và bà Hoàng Thị L2 từ năm 1982, có giấy viết tay ký bán nhà và hoa màu, có
xác nhận của Hợp tác xã Âm Diện T và xã H. Trong giấy nhượng nhà và hoa
màu không thể hiện diện tích rõ ràng, chỉ ghi giá bán là 20.000 đồng. Mốc ranh
giới được thể hiện bằng hàng rào tre, bờ ao, bụi dứa chứ không được xây bằng
tường gạch rõ ràng. Sau khi mua xong, gia đình ông sử dụng ổn định và không
tranh chấp với ai từ năm 1982 đến nay. Năm 1984, ông có cho em trai là ông K
khoảng 100 m² đất để xây nhà, đến năm 1985, ông K có mua thêm của bà
Nguyễn Thị Đ (mẹ ông C) hơn 100 m² đất nữa, phần diện tích đất mua thêm của
bà Đ ông không được biết rõ về nội dung, ông chỉ sang bảo bà Đ bán cho ông K
thêm đất, còn sự việc mua bán sự tình như nào thì do vợ chồng ông K.
Thời điểm trước khi ông cho đất cho nhà ông K thì gia đình ông K ở tại
khu tập thể Nhà máy Z131. Khi cho đất là tặng cho cả hai vợ chồng ông K. Đến
năm 1985 nhà ông K làm nhà trên đất. Quá trình sử dụng nhà ông đã nhiều lần
hiến đất, phần diện tích hiến đất làm đường 261 ông không nhớ rõ, chỉ nhớ gia
đình ông đã phải chuyển hàng rào vào nhiều lần để mở rộng đường. Phần hiến
đất không được thể hiện trong bìa.
6
Nhà ông K sử dụng ổn định từ năm 1985 cho đến khoảng tháng 8/2023 thì
ông được biết có xảy ra tranh chấp. Do hôm đó ông K - em trai ông đã phải đi
viện cấp cứu ông mới được biết sự việc ông C đo lại đất. Từ đó đến nay, hai bên
xảy ra tranh chấp không thể hòa giải. Việc cấp đất cho nhà ông K thì ông không
được ký giáp ranh do ngày xưa không có thủ tục cấp đất phải ký giáp ranh
nhưng ông có được biết về việc cấp đất của ông K. Ông có tặng cho đất cho nhà
ông K từ năm 1984, phần diện tích tặng cho khoảng 100 m². Đối với kết quả đo
đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thể hiện đất nhà ông C vẫn còn
bên nhà ông K và đất nhà ông K vẫn còn phần nhiều bên nhà ông là vô lý vì
nguồn đất nhà ông K có được là do ông tách cho và mua thêm diện tích không
nhiều và đã sử dụng hết, không có tranh chấp gì từ thời điểm 1984 - 1985 cho
đến nay nên không thể còn phần đất dôi dư nào khác nữa. Gia đình ông không
có tranh chấp gì về ranh giới đất với gia đình ông K, không có yêu cầu xem xét
giải quyết tranh chấp đất với gia đình ông K trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà nhất trí với quan điểm trình bày của chồng bà là ông Đỗ Văn C: Đối
với phần bờ tường xây gạch lửng được ông K xác định là ranh giới giới đất giữa
hai nhà thực chất là móng nhà cũ mà mẹ chồng bà là cụ Đ đã xây dựng từ năm
1992. Sau khi tách đất tặng cho chị Q, chị Q đã phá dỡ nhà cũ, xây dựng nhà
trên nền nhà cũ tuy nhiên để xây cho thẳng nhà thì chị Q để lại một phần diện
tích đất ở phía bên phải tiếp giáp với đất nhà ông K không sử dụng đến. Sau khi
nhà chị Q làm nhà xong, việc nhà ông K trình bày Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai về đo đất thì bà cũng có nói lại là đất nhà anh chị đến đâu thì đo đến
đấy, sau chồng bà về ký sau, bà không biết đất đai như thế nào. Sau khi có kết
quả, đất nhà bà hiện tại đủ diện tích, còn nhà chị Q bị thiếu 42 m², nằm trong
phần đất của nhà ông K đang sử dụng.
Bà nhất trí với kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
thành phố P do Toà án tiến hành. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của
ông K. Phần diện tích của nhà bà còn lại đang được ông K sử dụng là 15,7 m² thì
bà yêu cầu ông K phải trả lại đất cho gia đình bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Dương Thị L trình bày: Bà
nhất trí với lời trình bày của ông K và anh H.
Người làm chứng bà Đỗ Thị N trình bày: Bà là em gái của ông Đỗ Văn
C và là hàng xóm của ông Phạm Trung K. Khi ông K mua đất của cụ Đ, bà còn
nhỏ, không biết rõ việc mua bán, nhà cụ Đ là nhà cấp IV quay lưng về phía đất
nhà ông K, sau nhà vẫn còn cây mít, cây chè, nhiều loại cây dại khác nhau, còn
khoảng 2 - 3m đất nữa thì mới đến đất nhà ông K, sau này ông C sửa nhà, lấy
đất từ đó hất xuống làm móng thì không còn hàng rào và các bên gia đình không
còn hàng rào là ranh giới giữa hai nhà nữa mà cứ sử dụng ổn định như thế thế đó
đến nay;
Người làm chứng ông Trần Khắc M trình bày: Ông là con nuôi cụ Đ.
Cụ Đ trước đây có ngôi nhà cấp 4 vẫn còn phần đất chưa sử dụng, từ móng nhà
ra là 2,5m mới đến giáp đất nhà ông K. Năm 1992 cụ Đ xây nhà mới cấp 4 giáp
7
với nhà cũ, đằng sau nhà là bờ rào cúc tần đất chưa sử dụng. Đến năm 2018 ông
được biết ông C đã tách đất cho chị Q, vậy ông xác nhận phần đất phía sau nhà
ông C và cháu Q vẫn đất còn chưa sử dụng.
Người làm chứng ông Nguyễn Đình C1 trình bày: Ông là con rể cụ Đ.
Đất ở của cụ Đ trước đây có ngôi nhà chính cấp 4 sau đó đến nhà bếp, dãy
chuồng trại chăn nuôi. Đến năm 1992 cụ Đ xây thêm mới ngôi nhà cấp 4 giáp
với đường DT 261, đằng sau nhà ở vẫn còn đất chưa sử dụng, chiều rộng 2.5m.
Ông xác nhận phần đất phía sau nhà ông C và cháu Q vẫn đất còn chưa sử dụng.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 07 tháng 7 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 166, 169, 175, 176, 180, 182, 183, 185, 236 của Bộ luật
Dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 31 Luật Cải cách ruộng đất năm 1959;
Điều 16, 17, 18, 48, 49 Luật Đất đai năm 1987; Điều 20, 73, 74, 79 Luật Đất đai
năm 1993; Điều 100, 101, 106, 170, 188, 203 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ
vào Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 và Nghị định số 01/2017/NĐ-
CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Căn cứ vào Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Công nhận phần diện tích đất tranh chấp là 37,3 m², vị trí tại các điểm
(1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 1) theo trích đo hiện trạng lập ngày 08/5/2024, thuộc tổ
dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông
Phạm Trung K.
2. Buộc ông Đỗ Văn C, bà Nguyễn Thị H1 và bà Đỗ Ngọc Q chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng hợp pháp của ông K đối với phần đất tranh chấp
37,3 m
2
, vị trí tại các điểm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 1) theo trích đo hiện trạng lập
ngày 08/5/2024, thuộc tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để điều chỉnh, cập nhật hồ sơ pháp lý về đất theo đúng hiện trạng thực tế sử
dụng đất.
3. Ông Phạm Trung K và bà Dương Thị L được tiếp tục sử dụng phần tài
sản gắn liền với đất tại phần đất tranh chấp gồm: 01 trụ cổng có thể tích 0,3 m
3
;
01 phần sân lát gạch đỏ 35,77 m²; 01 phần mái tôn khung thép.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các
đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 16 tháng 7 năm 2025, bị đơn ông Đỗ Văn C, chị Đỗ Ngọc Q kháng
cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết xem
xét lại bản án.
Tại phiên toà phúc thẩm:
8
- Bị đơn ông Đỗ Văn C không nhất trí với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản
án buộc ông Phạm Trung K phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất để trả
lại diện tích đất cho ông C và chị Q.
- Nguyên đơn không chấp nhận kháng cáo của bị đơn đề nghị giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị H1 nhất trí với
kháng cáo của bị đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Dương Thị L, ông Phạm Văn
S nhất trí với ý kiến của nguyên đơn giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Thái Nguyên phát biểu: Việc tuân theo
pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo đúng quy định của
pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân khu
vực 2 - Thái Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ
thẩm đã xác định đúng thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh
chấp, người tham gia tố tụng, tiến hành thu thập, tiếp cận, công khai chứng
chứng, hoà giải, trình tự thủ tục tại phiên toà sơ thẩm đúng quy định của pháp
luật.
Đơn kháng cáo của bị đơn làm đúng theo các quy định của pháp luật nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm những người làm chứng Trần Khắc M, Nguyễn
Đình C1 vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ. Các đương sự và đại
diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án tiếp tục xét xử vụ
án. Hội đồng xét xử thấy rằng những người vắng mặt đã đã có lời khai, bản tự
khai có trong hồ sơ của vụ án, việc vắng mặt của những người này không ảnh
hưởng đến việc giải quyết, xét xử của Toà án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào
Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn tiến hàng xét xử vắng mặt họ.
[2] Về nội dung: Xét toàn bộ yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn
C, chị Đỗ Ngọc Q, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1. Về nguồn gốc đất tranh chấp và quá trình sử dụng:
2.1.1. Nguyên đơn ông Phạm Trung K khai: Nguồn gốc đất tranh chấp là
một phần do anh trai ông là Phạm Văn S cho ông diện tích khoảng 120 m
2
, một
9
phần mua với cụ Nguyễn Thị Đ (mẹ ông Đỗ Văn C) diện tích khoảng hơn 100
m
2
. Sau khi mua bán đất xong thì gia đình ông C đã xây dựng công trình phụ
cùng hệ thống chuồng trại và tường rào để phân chia ranh giới với nhà ông. Hai
bên đã sử dụng ổn định từ thời điểm năm 1984 cho đến tháng 8/2023 mới xảy ra
tranh chấp. Ranh giới đất chính là bức tường lửng hiện nay vẫn còn. Diện tích
đất tranh chấp là 37,3 m
2
hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho ông C và chị Q.
2.1.2. Bị đơn ông Đỗ Văn C khai: Nguồn gốc đất tranh chấp là do mẹ ông
là cụ Nguyễn Thị Đ chuyển cho và đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất năm 2008. Năm 2018 ông C tách đất cho 02 con gái là Đỗ
Ngọc Q và Đỗ Thị D, cụ thể: Ngày 19/8/2018, Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh T đã cấp cho chị Đỗ Ngọc Q giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CO
236670 thửa đất 2051, tờ bản đồ số 32, diện tích 86,2 m
2
đất ở và cấp cho chị
Đỗ Thị D giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CO 651506 thửa đất 2050, tờ bản
đồ số 32, diện tích 82,9 m
2
đất ở. Năm 2019, gia đình ông C được cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 087034, thửa đất số 831, tờ bản đồ số 32,
diện tích 801,4 m
2
. Gia đình ông đóng thuế sử dụng đất đầy đủ. Gia đình ông sử
dụng đất ổn định từ trước đến nay không tranh chấp với ai. Đối với nguồn gốc
thửa đất 716 của gia đình ông K là từ mua một phần đất của mẹ ông khi cụ Đ
còn sống và một phần nhận tặng cho từ ông S anh trai ông K.
2.1.3. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Về ranh giới đất giữa ông K, ông C và chị Q là tường lửng tồn tại từ
khoảng năm 1992, đến năm 2022 khi làm nhà chị Q xây lên thêm tầm 80 cm là
có căn cứ. Bởi lẽ, trên diện tích đất tranh chấp là 37,3 m
2
gia đình ông K đã quản
lý, sử dụng từ năm 1984 cho đến khi xảy ra tranh chấp năm 2023 (khoảng 38 -
39 năm) với ông C, chị Q (phần đất từ bờ tường lửng hất sang phía nhà ông K).
Trên đất tranh chấp ông K có xây 01 trụ cổng có thể tích 0,3 m
3
, lát gạch đỏ
35,77 m
2
, lợp mái tôn khung thép, quá trình xây dựng, lắp đặt ông C, chị Q và
những người trong gia đình ông C, chị Q không ai có ý kiến gì. Tức là đã thừa
nhận quyền sử dụng đất đó là của gia đình ông K. Đối với phần từ bờ tường lửng
sang phía nhà ông C, chị Q thì gia đình ông C, chị Q vẫn quản lý sử dụng không
có tranh chấp với ai. Mặt khác, ông C cho rằng năm 2007 thì đã xảy ra tranh
chấp do ông K đã tự ý xây cột cổng lấn sang đất nhà ông và khi ông phát hiện
thì đã đang xây cột cổng ông đã ngăn cản nhưng gia đình ông K vẫn cố tình xây
cột cổng lấn sang phần đất nhà ông. Tuy nhiên, đây chỉ là phần trình bày của
ông không có chứng cứ gì để chứng minh. Ông C cũng không có yêu cầu cơ
quan có thẩm quyền nào giải quyết việc tranh chấp. Tại phiên tòa phúc thẩm ông
C cũng thừa nhận đối với phần diện tích đất tranh chấp phần sân xi măng giáp
với tường lửng thì trước đây phía nhà ông K sử dụng để đặt cây cảnh.
Những người làm chứng bao gồm bà Đỗ Thị N (em gái ông C), ông Trần
Khắc M (con nuôi cụ Đ), ông Nguyễn Đình C1 (con rể cụ Đ), những người này
đều khẳng định phần đất phía sau nhà ông C, chị Q vẫn còn đất chưa sử dụng
nhưng những người này đều có quan hệ thân thiết đối với bị đơn nên những lời
khai của những người làm chứng này không khách quan.
10
Quá trình giải quyết vụ án thể hiện bản đồ địa chính năm 1992 lập sau khi
ông K đã mua đất từ cụ Đ, hợp nhất với diện tích ông S cho và sử dụng ổn định
từ năm 1984 - 1985 với diện tích khoảng 232 m
2
nhưng bản đồ địa chính lại ghi
nhận thửa 716 có diện tích là 320 m
2
, trong khi đó ông K không có diện tích đất
nào khác. Cũng từ kết quả đo đạc này thể hiện đất nhà ông C, chị Q vẫn còn nằm
một phần trên đất nhà ông K, đất nhà ông K vẫn còn một phần lớn bên nhà ông
S. Trong khi đó các hộ gia đình này nằm liền kề nhau, không có tranh chấp về
ranh giới. Các thửa đất 716 và 831 trước đây được đo đạc thủ công, chủ sử dụng
đất kê khai để xin cấp quyền sử dụng đất nên không chính xác số diện tích mà
các hộ gia đình thực tế quản lý, sử dụng nên việc đo vẽ lập bản đồ địa chính năm
1992 thiếu sự chính xác. Mặt khác,do không có hồ sơ lưu trữ của thửa đất 716
nên không không có căn cứ xác định diện tích 220 m
2
Nhà nước cấp quyền sử
dụng cho ông Phạm Trung K đã trừ hành lang giao thông là bao nhiêu mét. Như
vậy, đối chiếu với kết quả đo hiện trạng phần đất ông K đang thực tế sử dụng
bao gồm cả phần đất tranh chấp có diện tích 264,7 m
2
chênh lệch so với diện
tích được cấp quyền sử dụng 220 m
2
là 44,7 m
2
. Tuy nhiên, vì không có căn cứ
căn cứ xác định phần trừ hành lang giao thông của thửa đất nhà ông K là bao
nhiêu mét, tính từ vị trí nào nên không có căn cứ xác định nhà ông K đang sử
dụng thừa đất, mặc dù nhà ông C bị giảm 28,1 m
2
so với diện tích được cấp
quyền sử dụng và đất nhà chị Q bị giảm 25,3 m
2
so với diện tích được cấp quyền
sử dụng.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đỗ Văn C, bà
Nguyễn Thị H1 số AN 861314 ngày 13/4/2009, thửa đất số 831, tờ bản đồ số
104 địa chỉ tổ dân phố T, phường H, thành phố P (nay là phường P), sau này ông
C có tách chia cho chị Đỗ Ngọc Q với diện tích 86,2 m
2
, thửa đất số 2051, tờ
bản đồ số 32 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 236670, ngày
19/10/2018. Hội đồng xét xử nhận thấy khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cơ quan có thẩm quyền chỉ căn cứ vào bản đồ địa chính đo vẽ năm 1992 đã
được phê duyệt để thực hiện việc tách thửa đất, không đo đạc, xem xét hiện
trạng thực tế sử dụng đất đối với diện tích đất 37,3 m
2
(hiện nay đang tranh chấp
giữa ông K và ông C, chị Q) ai là người đang trực tiếp sử dụng nên đã cấp quyền
sử dụng đối với diện tích mà ông Phạm Trung K đang sử dụng cho ông Đỗ Văn
C, bà Nguyễn Thị H1 như vậy là thiếu sót trong việc kiểm tra ranh giới, diện
tích sử dụng thực tế để cấp quyền sử dụng đất.
Với những phân tích trên có cơ sở để xác định quá trình sử dụng nguyên
đơn đã trực tiếp quản lý, sử dụng đất liên tục từ năm 1984 - 1985 đến năm 2023
mới xảy ra tranh chấp với bị đơn. Tính đến thời điểm năm 2023 là năm xảy ra
tranh chấp thì gia đình nguyên đơn đã sử dụng thửa đất liên tục, ổn định công
khai 38 - 39 năm. Do đó, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn
với diện tích 37,3 m
2
là có căn cứ.
Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan
toàn bộ các chứng cứ để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị đơn
kháng cáo nhưng không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng
minh yêu cầu kháng cáo là có căn cứ pháp luật. Do vậy, yêu cầu kháng cáo của
11
bị đơn không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận, cần bác kháng cáo,
giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, Bản án sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho ông Phạm
Trung K nhưng không kèm theo bản đồ trích đo địa chính để thuận tiện cho thi
hành bản án là chưa đầy đủ. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên ông K và bà L
được tiếp tục sử dụng phần tài sản của mình tại phần đất tranh chấp là không cần
thiết. Do đó, những nội dung này Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
[3] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 148, Điều 293, khoản 1 Điều 308 của
Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn C và chị
Đỗ Ngọc Q. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2025/DS-ST ngày 07
tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên, cụ thể:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Công nhận phần diện tích đất tranh chấp là 37,3 m² vị trí tại các điểm (1,
2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 1) theo trích đo hiện trạng lập ngày 08/5/2024, địa chỉ thuộc
tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của
ông Phạm Trung K.
- Buộc ông Đỗ Văn C, bà Nguyễn Thị H1 và chị Đỗ Ngọc Q chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng hợp pháp của ông K đối với phần đất tranh chấp
37,3 m
2
, vị trí tại các điểm (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 1) theo trích đo hiện trạng lập
ngày 08/5/2024, địa chỉ thuộc tổ dân phố T, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
để điều chỉnh, cập nhật hồ sơ pháp lý về đất theo đúng hiện trạng thực tế sử
dụng đất.
(Kèm theo bản án là trích đo địa chính ngày 08/5/2024).
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Đỗ Văn C phải chịu 5.105.000đ
(Năm triệu một trăm linh năm nghìn đồng); chị Đỗ Ngọc Q phải chịu
7.017.000đ (Bảy triệu không trăm mười bảy nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm
có giá ngạch nộp Ngân sách Nhà nước.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Đỗ Văn C và chị Đỗ Ngọc Q
mỗi người phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm
nhưng được trừ vào số tiền 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân
12
sự phúc thẩm ông Đỗ Văn C đã nộp theo biên lai số 0000279 ngày 18/7/2025 và
số tiền 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm chị Đỗ
Ngọc Q đã nộp theo biên lai số 0000280 ngày 18/7/2025 tại Thi hành án Dân sự
tỉnh Thái Nguyên. Xác nhận ông C, chị Q đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo,
không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều
6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- TAND khu vực 2 - Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Phòng THA khu vực 2 - Thái Nguyên;
- THA Dân sự tỉnh Thái Nguyên;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
13
CÁC THẨM PHÁN
Lý Thị Thúy Hoàng Hữu Truyền
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Hoàng Anh Tuấn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 21/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 16/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 07/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 06/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 05/01/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 31/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 28/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm