Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 17/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 395/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 395/2026/DS-PT ngày 17/04/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 395/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: QSD đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Chi
Bà Lê Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Tô Thị Út - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Thị
Kim Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiến
hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 148/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng
02 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sthẩm số: 254/2025/DS-ST ngày 14 tháng 10 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 8 Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 288/2026/QĐ-PT ngày 06
tháng 3 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 401/2026/QĐ PT ngày 26
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1960 (có mặt)
2. Ông Võ Văn N, sinh năm 1963 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số C, ấp C, M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay số 038/GD, ấp
G, xã M, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Chí T, sinh năm 1981 (có
mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp P, xã T, tỉnh Vĩnh Long).
Theo văn bản ủy quyền ngày 14/4/2026.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1964 (vắng mặt)
2. Anh Phan Hồng Q, sinh năm 1987 (vắng mặt)
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 395/2026/DS - PT
Ngày 17 - 4 - 2026
V/v Tranh chấp quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
2
Địa chỉ: ấp X, M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp X, M, tỉnh Vĩnh
Long).
3. Anh Phan Minh T1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
4. Anh Phan Văn T2, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp B, M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là ấp B, xã M, tỉnh Vĩnh
Long).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Anh Võ Trần D1, sinh năm 1992 (có mặt)
Địa chỉ: ấp H, H, huyện G, tỉnh Bến Tre (nay ấp H, H, tỉnh Vĩnh
Long). Theo văn bản ủy quyền ngày 03/11/2023.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Phan Thị B, sinh năm 1948 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp B, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Bà Phan Thị H, sinh năm 1951 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp X, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
3. Bà Phan Thị H1, sinh năm 1955 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã M, tỉnh Vĩnh Long
- Người kháng o:Lê Thị Đ là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn Lê Thị Đ, ông Văn N và lời
khai của anh Trần Chí T người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Vào
năm 1965, nội của Thị Đ là cụ Phạm Thị N1 (Phạm Thị A, chết năm 1991)
cho cha Đ là ông Quang T3 (chết năm 1960) thửa đất số 502, tbản đồ số
25, diện tích 2.109m
2
; Thửa đất số 596, tờ bản đồ số 25, diện tích 312m
2
(thửa 502,
thửa 596 nay thửa đất số 269, tờ bản đồ s24, diện tích 2.604,9m
2
, tọa lạc M,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay xã M, tỉnh Vĩnh Long). Năm 1996, Đ
Thị C, (chết năm 2006) đã tự ý kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đối với thửa đất số 502, tờ bản đồ số 25, diện tích 2.109m
2
(số liệu cũ) và ông Hồ Văn
Đ1 cũng đã tự ý khai để xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa
đất số 596, tờ bản đồ số 25, diện tích 312m
2
. Đến năm 2004, sau khi biết được việc
cấp đất sai cho chủ sử dụng nên Đ ông Quang L (anh trai của Đ) trao
đổi với những người trong dòng họ (trong đó Thị C ông Hồ Văn Đ1)
yêu cầu C, ông Đ1 trả lại quyền sử dụng đất nêu trên cho Đ ông L (vì phần
đất này là của cụ Phạm Thị N1 cho cha bà Đ, ông L là ông Lê Quang T3). Khi đó,
C và ông Đ1 đồng ý trả quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Đ và ông L. Thời điểm đó,
do xã không tiện làm thủ tục giấy tờ nên ông L nhờ vợ chồng Đ, ông N đứng
ra làm thủ tục đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên. Để làm thủ
tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, Ủy ban nhân dân M, huyện B,
tỉnh Bến Tre (nay là M, tỉnh Vĩnh Long) hướng dẫn Đ làm thủ tục. Khi đó,
Lê Thị C ông Hồ Văn Đ1 cùng đồng ý chuyển lại cho Đ, ông N. Do vậy,
3
đến ngày 19/8/2004 Đ, ông N được Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre (nay
tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất nêu
trên, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 001606 QSDĐ/1287QĐ-UB.
Đồng thời, Đ, ông N cũng đã quản lý sử dụng ổn định quyền sử dụng đất nêu trên
cho đến nay.
Đến năm 2015, theo quy định mới của nhà nước nên Đ, ông N làm thủ
tục xin nhập thửa đối với 02 thửa đất trên xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mới theo quy định. Đến ngày 22/12/2015, Đ, ông N được Ủy ban nhân
dân huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24, diện tích 2.604,9m
2
, tọa lạc tại M,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) cho đến ngày hôm nay.
Đến năm 2018, Nguyễn Thị D (là con dâu của Thị C) được Ủy ban
nhân dân M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay M, tỉnh Vĩnh Long) vận động các
mạnh thường quân tặng cho nhà tình nghĩa. Khi đó, bà D đã năn nỉ xin bà Đ và ông L
cho xây cất nhà tình nghĩa tạm trên phần đất nêu trên. Khi đó, nghĩ tình nghĩa
trong gia đình nên Đ ông L đã đồng ý cho D xây cất nhà tình nghĩa tạm
trên phần đất có diện tích 120m
2
(ngang 8m, dài 15m) nêu trên.
Đến năm 2019, Đ ông L tổ chức cấm ranh để chia đất cho ông
Quang L ½ diện tích thửa đất nêu trên do cha ông Quang T3 để lại. Khi đó, bà
D ngăn cản không cho bà Đ và ông L cắm ranh, vì bà D cho rằng ½ diện tích thửa đất
nêu trên (khoảng 1.300m
2
) phần đất của D. Đồng thời, D còn tự ý xây dựng
các công trình phụ (nhà tắm, chuồng bò, hàng rào, …) trên phần đất nêu trên nhằm
mở rộng sự chiếm đoạt quyền sử dụng đất của Đ, ông L. Do D đã xây nhà tình
nghĩa kiên cố từ năm 2018 đã tu sửa xây dựng thêm trong quá trình Tòa án đang
giải quyết vụ án (năm 2024) nên việc tháo dỡ di dời rất khó khăn, thể gây
hỏng lãng phí tài sản. Nay bà Đ, ông N yêu cầu Tòa án giải quyết cụ thể như sau:
Yêu cầu Nguyễn Thị D trả cho Đ, ông N giá trị phần diện tích đất 347,5m
2
(phần hiệu 1 +3) thuộc một phần thửa 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc ấp X, M,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay ấp X, M, tỉnh Vĩnh Long) theo định giá của Hội
đồng định giá đã định; Yêu cầu Nguyễn Thị D tháo dỡ, di dời các công trình, tài
sản trên đất trả lại cho Đ ông N diện tích đất 537,2m
2
(phần hiệu 2) thuộc
một phần thửa 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc ấp X, M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay
là ấp X, xã M, tỉnh Vĩnh Long).
Đối với yêu cầu phản tố của bđơn về yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử
dụng đất và kiến nghị quan nhà Nước thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ hộ Lê Thị Đ, ông Văn N sang cho bị đơn đối với phần
đất có diện tích 884,7m
2
(phần 1, 2, 3 của họa đồ) thuộc thửa đất số 502, tờ bản đồ số
25, diện tích 2.109m
2
, (theo số liệu mới thuộc một phần thửa đất số 269, tờ bản đồ số
24, diện tích 2604,9m
2
) nguyên đơn hoàn toàn không đồng ý.
Theo đơn phản tố, li khai của bị đơn Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q,
anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2 lời khai của anh Trần D1 người đại
diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Nguyên thửa đất số 502, tờ bản đồ số 25, diện
tích 2109m
2
(theo số liệu mới thuộc một phần thửa đất số 269, tờ bản đồ s24, diện
4
tích 2604,9m
2
), tọa lạc M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long) có
nguồn gốc do bà ngoại chồng của bà Nguyễn Thị D là cụ Phạm Thị A (có tên thường
gọi Phạm Thị N1 để lại cho mẹ chồng D Thị C theo văn bản ngày
14/8/1970 chng thực của Ủy ban xã M. C đã trên đất từ khi sinh ra, đồng
thời trực tiếp quản lý sử dụng và có nhà ở trên đất này đến năm 2006 bà C chết, phần
đất trên C để lại cho chồng bà D ông Phan Văn T4 (chết năm 2016) theo văn
bản ngày 29/02/2012 chứng thực của Ủy ban nhân dân M, huyện B, tỉnh Bến
Tre (nay M, tỉnh Vĩnh Long). Sau khi ông Phan Văn T4 chết, phần đất trên do
bà D và các con là anh T1, anh T2, anh Q quản lý, sử dụng đến nay.
Trong quá trình quản lý, sử dụng đất này ttrước năm 1975, C đã đi
khai. Sau năm 1975 C tiếp tục khai đã được y ban nhân dân huyện B, tỉnh
Bến Tre (nay tỉnh Vĩnh Long) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm
1996 đối với thửa đất số 502, tờ bản đồ số 25. Sau khi C chết năm 2006, các con
C thống nhất lập văn bản ngày 29/02/2012 có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã
M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay M, tỉnh Vĩnh Long) thống nhất để lại cho ông
Phan Văn T4 toàn bộ di sản thừa kế, trong đó thửa đất số 502, tờ bản đồ số 25
(thuộc một phần thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24). Năm 2016, ông T4 chết để lại cho
các bị đơn tiếp tục quản sdụng phần đất diện tích khoảng 900m
2
thuộc một
phần thửa đất s502, tờ bản đồ số 25. Năm 2018 Nguyễn Thị D được Ủy ban
nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre (nay tỉnh Vĩnh Long) trao tặng Nhà nghĩa tình
đồng đội theo Quyết định số 1440/QĐ-UBND ngày 18/7/2018, nhà được xây dựng
trên thửa đất này, ngoài nhà thì trên đất các bị đơn còn xây dựng các công trình
kiến trúc gồm hàng rào, chuồng trại, mái che, nhà vệ sinh trồng trọt cây lâu năm
trên phần đất này, đồng thời quản lý sử dụng phần đất này đến nay.
Trước đó, vào khoảng năm 2004, Thị Đ là cháu ruột của C (gọi C
ruột, Đ con ruột của ông Quang T3, ông T3 em ruột của C) do
không có đất nên có đến xin C một phần đất để ở. C đồng ý cho Đ phần đất
diện tích khoảng 1000m
2
(khoảng phân nửa diện tích đất mà bà C đang quản lý sử
dụng). Tuy nhiên, lợi dụng việc C không biết chữ bà Đ đã làm giả toàn bộ thủ tục
để sang tên toàn bộ thửa đất số 502, tờ bản đồ số 25, diện tích 2109m
2
từ C sang
cho Đ. Do đó, nay bị đơn yêu cầu phản tố như sau: Yêu cầu Tòa án công nhận
quyền sdụng đất kiến nghị quan Nhà nước thẩm quyền điều chỉnh giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ hộ Thị Đ ông Văn N sang cho các b
đơn đối với phần đất diện tích 884,7m
2
(phần 1,2,3 của họa đồ) thuộc thửa đất số
502, tờ bản đồ số 25, diện tích 2109m
2
(theo số liệu mới thuộc một phần thửa đất s
269, tờ bản đồ số 24, diện tích 2604,9m
2
), tọa lạc tại M, huyện B, tỉnh Bến Tre
(nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long).
Người quyền li, nghĩa vụ liên quan Phan Thị H trình bày: con
ruột của Lê Thị C (chết vào năm 2006), bà C có tất cả 04 người con gồm: bà Phan
Thị B, Phan Thị H, Phan Thị H1, ông Phan Văn T4 (đã chết). Phần đất thuộc
thửa đất 269, tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại M, tỉnh Vĩnh Long nguồn gốc của
Phạm Thị A (cụ A là mẹ của bà C, là bà ngoại của bà H) tạo lập. Trước năm 1975, cụ
A về sinh sống trên phần đất này cùng với con gái là bà C, bà H. Sau khi lập gia đình,
H ra ở riêng và cất căn nhà kế bên nhà của cụ A, bà C. Sau khi cụ A qua đời, bà C
5
tiếp tục sống trong căn nhà này trên thửa đất 269, tờ bản đồ số 24. Khi còn sống cụ A
phân chia tài sản các phần đất cho các con trong gia đình, thửa đất 269, tờ bản
đồ số 24 cụ A chia cho hai người con trai là ông Quang P, ông Quang T3 (ông
P, ông T3 đã chết), ông T3 cha của Thị Đ. Việc tặng cho đất cho các con cụ
A lập di chúc là “Ttương phân đất ngày 18/4/1965”. Mặc đã cho phần đất
269, tờ bản đồ số 24 cho ông P, ông T3 nhưng cụ A C vẫn sinh sống trên thửa
đất này. Lý do trước đây C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa 269, tờ bản đồ số 24 (thửa 502, tbản đồ số 25) C đã sinh sống
trên phần đất này đã lâu nên vào thời điểm đo đạc thành lập bản đồ tổng thể thì bà C
đã đăng ký, khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng thực tế
thửa đất trên cụ A đã cho hai người con trai ông T3, ông P. Từ khi được cụ A cho
đất thì ông T3, ông P không vào quản lý, canh tác vẫn để cho cụ A, C sinh
sống, sử dụng. Vợ chồng ông Phan Văn T4, Nguyễn Thị D về sống với C được
khoảng một tháng thì bà C mất do bệnh. Trước đó, khoảng thời gian C bệnh thì
người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng C H. Sau khi C mất, vợ chồng ông
T4, D tiếp tục sống trong căn nhà của C để lại, thờ cúng ông bà, cha mẹ. Vào
thời gian bà C còn sống, còn minh mẫn thì ông Lê Quang P (anh thứ hai của bà C) có
đến gặpC để yêu cầu bà C làm thủ tục trả đất lại cho con của ông T3Đ, ông
L. Đồng thời chở C đến Ủy ban để làm thủ tục. H cho biết, C người
biết chữ, biết đọc, biết viết. Sau khi C trả đất cho Đ, ông L thì bà Đ, ông L
không trên thửa đất số 269, tbản đồ số 24 nhưng vẫn thường xuyên lui tới phần
đất để trong coi.
Ông Phan Văn T4, Nguyễn Thị D sống trên căn nhà do C đlại được
một thời gian tông T4 được Nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà tình đồng đội thì ông
T4, bà D đến gặp ông L, Đ để xin được xây dựng nhà trên thửa đất 269, tờ bản
đồ số 24 (thửa 502, tờ bản đồ số 25) để sống làm nơi thờ cúng ông bà, cha
mẹ n Đ, ông L đồng ý cho ông T4, bà D một phần đất đủ để cất căn nhà, khi đó
H vẫn còn sống trên đất. Sau khi ông T4 mất, thì bà D con D tiếp tục sống
trong căn nnày tự ý xây dựng mở rộng căn nhà không được sự đồng ý của
Đ. Hiện nay, do bà đã được Nhà nước hỗ trợ xây dựng nhà tình thương ở phần đất
khác nên H đã di dời đi khỏi thửa 269, tờ bản đồ số 24 (thửa 502, tờ bản đồ
số 25) để trả đất lại cho bà Đ.
Đối với giấy ủy quyền ngày 29/02/2012 chữ của các chị em H, B,
H1, ông T4 nhằm mục đích ủy quyền cho con ông T4 được hưởng phần đất nền
nhà ở B, xã M (nay là xã M) chứ không phải là phần nhà trên thửa đất 269, tờ bản đồ
số 24 (thửa cũ là 502, tờ bản đồ số 25) hiện cất trên đất của Đ.
Nay Đ khởi kiện yêu cầu Nguyễn Thị D trả cho bà Đ, ông N giá trị phần
diện tích 347,5m
2
(phần ký hiệu 1 + 3) thuộc một phần Thửa đất số 269; yêu cầu
Nguyễn Thị D tháo dỡ, di dời các công trình, tài sản trên đất trả lại cho Đ, ông N
phần diện tích 537,2m
2
(phần hiệu 2) thuộc một phần thửa đất 269 thì H thấy
đây là yêu cầu khởi kiện hợp lý vì đây là phần đất của cha bà Đ được hưởng nên bà D
phải trách nhiệm trả lại cho bà Đ. Đối với phần nền nhà từ trước đến nay Đ đã
cho không lấy bất cứ khoản chi phí nào nên nay D muốn tiếp tục thì phải
trả giá trị đất lại cho Đ. Trong vụ án nay, H không bất cứ yêu cầu
6
xác định đây là phần đất bà Đ được hưởng là đúng quy định của pháp luật, chứ không
phải phần đất của mẹ C được hưởng; trường hợp Tòa án hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cấp cho của bà Đ thì bà H sẽ tranh chấp trong vụ án khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2025/DS-ST ngày 14 tháng 10 năm 2025 và
Quyết định sửa chữa, bsung bản án thẩm số: 16/2026/QĐ SCBSBA ngày 30
tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long đã quyết định:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Đ, ông Văn N về việc:
Yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị D trả cho bà Lê Thị Đ, ông Võ Văn N quyền sử
dụng đất (phần 1 + 3 họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp), diện tích qua đo đạc thực
tế 347,5m
2
, thuộc một phần thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại M, tỉnh
Vĩnh Long bằng giá trị quyền sử dụng đất theo định giá của Hội đồng định giá.
Yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị D tháo dỡ, di dời các công trình, tài sản trên đất
trả lại cho Thị Đ ông Văn N quyền sdụng đất (phần 2 họa đồ hiện
trạng thửa đất tranh chấp) có diện tích qua đo đạc thực tế là 537,2m
2
, thuộc một phần
thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại xã M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tcủa các bị đơn Nguyễn Thị D, anh
Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2. Kiến nghị quan thẩm
quyền điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích đất qua đo đạc thực
tế 884.7m
2
(phần 1,2,3 họa đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp) thuộc một phần thửa
đất số 269 tbản đồ số 24 tọa lạc tại M, tỉnh Vĩnh Long từ Thị Đ, ông
Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang cho các đồng thừa kế của
Thị C đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tạm giao cho các bị đơn
Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2 quản lý,
sử dụng phần đất có diện tích nêu trên.
3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn: Về việc yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất và Kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất diện tích đất qua đo đạc thực tế 884.7m
2
(phần 1,2,3 họa đồ)
thuộc một phần thửa đất số 269 tờ bản đồ số 24 tọa lạc tại xã M, tỉnh Vĩnh Long từ bà
Thị Đ, ông Văn N đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sang cho
Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2 đứng tên
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
4. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp cho bà Lê Thị Đ, ông Văn N đối với thửa đất số 269 tờ bản đồ
số 24 tọa lạc tại xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 14 tháng 10 năm 2025, nguyên đơn Thị Đ kháng cáo bản án
thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa bản án thẩm theo
hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Chí T người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; ông T ý kiến thay đổi
7
nội dung kháng cáo của bà Thị Đ cụ thể: Bà Đ đồng ý giao cho bị đơn quản lý, sử
dụng phần diện tích đất 347,5m
2
(phần ký hiệu 1, 3) thuộc thửa 269, không yêu cầu bị
đơn trả giá trị; yêu cầu bị đơn di dời tài sản trả lại phần diện tích đất 537,2m
2
(phần
hiệu 2), thuộc thửa 269. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc
giải quyết vụ án.
Ý kiến của vị Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: Các bên đương sự thống nhất
diện tích đất tranh chấp 884,7m
2
, thuộc một phần thửa 269 (thửa cũ thửa 502, 596)
do cụ Phạm Thị N1 (Phạm Thị A) tạo lập vào trước năm 1975. Cụ N1 cùng con gái là
Thị C sống trên phần đất này. Sau khi cụ N1 mất, C là người trực tiếp quản
lý, sử dụng, thực hiện thủ tục đăng ký, khai được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất vào ngày 25/5/1996 đối với thửa 502, diện tích 2.109m
2
. Ông Hồ Văn Đ1
đăng ký, khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 596,
diện tích 312m
2
. Ngày 19/8/2004, Thị Đ được cấp quyền sử dụng đất thửa 269
(thửa thừa 502, 596), diện tích 2.421m
2
. Xét thấy, việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đối với thửa 502 cho Lê Thị C là đúng đối tượng sử sụng đất, đúng
trình tự, thủ tục theo quy định của luật đất đai. Theo hồ cấp quyền sử dụng đất
thửa 269 cho Thị Đ thể hiện việc cấp quyền sdụng đất không đúng trình tự,
thủ tục, đối tượng sử dụng đất theo quy định của luật đất đai. Do đó, việc Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Đ, ông
Văn N căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
Thị Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ được xem xét tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về sự vắng mặt của đương sự: Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phan Thị B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị H1 vắng mặt nhưng đã được Tòa án triệu tập
hợp lệ. Phiên tòa hôm nay là phiên tòa mở lần thứ hai nên căn cứ vào Điều 227 của
Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về mối quan hệ thân tộc: Cụ Phạm Thị N1 (Phạm Thị A, chết năm 1991)
05 người con gồm: Ông Quang P, ông Quang T3, ông Quang B1,
Thị C, Lê Thị Đ2. Ông Lê Quang T3 (chết 1960) có 02 người con gồm: Lê Thị Đ,
Quang L. Thị C (chết năm 2006) 04 người con gồm: Phan Văn T4 (chết
năm 2016), Phan Thị B, Phan Thị H1, Phan Thị H. Bị đơn Nguyễn Thị D vợ
ông Phan Văn T4; D, ông T4 03 người con gồm: Anh Phan Hồng Q, anh Phan
Minh T1, anh Phan Văn T2.
8
[2.2] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Các bên đương sự đều thống nhất xác
định phần đất tranh chấp diện tích thực đo 884,7m
2
, thuộc một phần thửa đất số
269, tờ bản đs24, diện tích 2.604,9m
2
(thửa thửa 502, 596) tọa lạc M,
huyện B, tỉnh Bến Tre (nay M, tỉnh Vĩnh Long) nguồn gốc của cụ Phạm
Thị N1 (Phạm Thị A) tạo lập trước năm 1975.
Thửa đất 502, 596 (nay thửa 269) do cụ Phạm Thị N1 (Phạm Thị A) cùng
với người con gái là bà Lê Thị C trực tiếp quản lý, sử dụng. Sau khi cụ N1 chết, bà C
người trực tiếp quản lý, sử dụng và thực hiện thủ tục kê khai, đăng ký và được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 25/5/1996 đối với thửa đất 502, diện
tích 2.109m
2
. Ông Hồ Văn Đ1 khai, đăng được cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đối với thửa đất số 596, diện ch 312m
2
vào ngày 25/5/1996 (phần đất
này cụ N1 cho ông Hồ Văn V là cha ông Hồ Văn Đ1 ở nhờ).
Đến ngày 19/8/2004, thửa đất 269 (thửa cũ 502, 596), diện tích 2.421m
2
, tờ bản
đồ số 24, tọa lạc M, tỉnh Vĩnh Long được cấp quyền sử dụng đất cho cho
Thị Đ; cấp đổi vào ngày 22/12/2015 cho bà Lê Thị Đ, ông Võ Văn N.
[2.3]. Về quá trình quản , sử dụng đất cấp quyền sử dụng thửa đất 502
cho bà Lê Thị C: Sau khi cụ N1 chết, bà C tiếp tục sống trong căn nhà cụ N1 để lại và
quản lý, sdụng thửa đất thửa 502. Vào năm 1995, C thực hiện thủ tục đăng ký,
kê khai để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 502. Hồ sơ kê
khai, đăng cấp quyền s dụng đất của bà C được niêm yết công khai tại địa
phương Ủy ban nhân dân xã M, huyện B, tỉnh Bến Tre (nay là xã M, tỉnh Vĩnh Long)
từ ngày 21/12/1995 đến ngày 01/01/1996, không ai ý kiến hay tranh chấp nên
đến ngày 25/5/1996, C được y ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 502 (BL190 - 229). Như vậy, việc cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 502 cho bà Thị C đúng đối tượng người
đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất; đúng trình, tự thủ tục theo quy định của luật đất
đai.
[2.4]. Xét quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 269 (thửa
502, 596) cho Thị Đ vào năm 2004, hồ cấp quyền sử dụng đất thể hiện: Tại
đơn đăng quyền sử dụng đất của bà Thị Đ ngày 08/6/2004, Đ khai nguồn
gốc đất ông, để lại thừa kế nhưng trong hồ cấp đất không thể hiện tài liệu nào
Đ được hưởng di chúc thửa 269 (BL 22). Đ làm đơn khiếu nại đối với thửa đất
502 vào ngày 08/6/2004 (BL 23) nhưng trước khi bà Đ khiếu nại lại Biên bản về
việc T5 thửa giữa Thị C với Thị Đ ngày 07/6/2004, nội dung biên bản
này chỉ ghi ý chung là thửa đất 502 là của bà Đ không ghi cụ thể ý kiến của bà
Thị C thừa nhận việc này không; cuối biên bản chữ chữ viết Thị C
(BL 26). Biên bản về việc T5 thửa giữa Thị C với Lê Thị Đ ngày 07/6/2004
này do cán bộ địa chính ông Nguyễn Văn T6 lập, thành phần biên bản ghi tên
các ông HVăn Ú (phó chủ tịch UBND M), ông Trần Thanh T7 (Trưởng ban
pháp Mỹ a), ông Nguyễn Văn K (Chủ tịch hội nông dân xã M), ông Nguyễn
Văn Đ3 (Trưởng ban N2) nhưng không có chữ ký của ông Ú, ông T7, ông K, ông Đ3
trong biên bản này. Qua xác minh ông Hồ Văn Ú, ông Trần Thanh T7, ông Nguyễn
Văn K, ông Nguyễn Văn Đ3 cùng xác nhận nội dung các ông không biết về sviệc
9
giải quyết khiếu nại của bà Lê Thị Đ; tại biên bản về việc tách thửa giữa bà Lê Thị C,
Thị Đ ngày 07/6/2004 tên của các ông trong thành phần tham dự giải quyết
nhưng các ông đều không biết sự việc này và không có ký tên vào biên bản (BL 267 -
274). Qua xác minh ông Phan Văn T8 (nguyên thư chi bộ ấp X mới), trước đây
vào khoảng năm 1995 - 2006 thì ông có làm việc với bà Lê Thị C trong vụ việc tranh
chấp quyền sử dụng đất giữa ông Lê Quang B1 với bà Lê Thị Đ2, khi lập biên bản thì
C chỉ lăn tay chứ không tên (BL 260 - 261); ông Nguyễn Văn P1 (từ 1988
1998 Phó Trưởng công án M, 1998 đến 2015 công an viên ấp X) xác nhận
trong quá trình công tác làm việc với C thì ông biết C không biết chữ, chỉ lăn
tay vào các biên bản (BL 262 263). Điều này cho thấy, biên bản về việc tách thửa
giữa bà Lê Thị C, bà Lê Thị Đ ngày 07/6/2004 chưa đảm bảo về tính khách quan. Tại
phiên tòa phúc thẩm hôm nay, anh Võ Trần D1 là người đại diện cho bị đơn cho rằng
Biên bản về việc T5 thửa giữa Thị C với Thị Đ ngày 07/6/2004, ông
Nguyễn Văn T6 lập không ý kiến của C, chữ trong biên bản tách thửa này
không phải của bà C, bà C không biết chữ, chỉ lăn tay.
Thị Đ khai nguồn gốc đất của ông, để lại nhưng theo Danh sách
các chủ sử dụng đất đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất ny
23/6/2004 (Kèm theo biên bản xét duyệt ngày 08/6/2004) thể hiện nguồn gốc đất
tập đoàn sản xuất giao khoán; điều này thể hiện sự mâu thuẫn về nguồn gốc đất (BL
30). Biên bản về việc T5 thửa giữa bà Lê Thị C với bà Lê Thị Đ ngày 07/6/2004 được
Ủy ban nhân dân xã M xác nhận vào ngày 23/6/2004 cùng ngày với biên bản về
việc kết thúc công khai hồ đăng đất (BL 28); từ đó thể hiện thủ tục công khai
hồ đăng ký, khai của Đ chưa đúng quy định. Như vậy cho thấy, trong khi
thửa đất 502, Lê Thị C đã được cấp quyền sử dụng hợp pháp vào năm 1996 nhưng
đến năm 2004 lại cấp quyền sử dụng cho Thị Đ nhưng không ý kiến của
C là không đúng quy định của luật đất đai.
[2.5] Từ những chứng cứ và phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Việc Tòa
án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Đ, ông
Văn N sở, đúng pháp luật; kháng cáo của Thị Đ không có sở
chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như phân tích ở phần trên, Hội đồng xét xử
xét thấy có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Thị Đ người cao tuổi, có đơn xin
miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Lê Thị Đ.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 254/2025/DS-ST ngày 14 tháng 10 năm
2025 Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án thẩm số: 16/2026/QĐ SCBSBA
ngày 30 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 8 – Vĩnh Long.
10
Áp dụng Điều 166 ca Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng Điều 26 ca Luật đất đai năm 2024;
Áp dng Ngh quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 ca
Ủy ban Thường v Quc hội quy định v mc thu, min, gim, thu, np, qun
s dng án phí và l phí Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị Đ, ông
Văn N: Yêu cầu bị đơn Nguyễn Thị D trả giá trị theo định giá của Hội đồng định
giá cho Thị Đ, ông Văn N phần diện tích đất 347,5m
2
(phần hiệu 1, 3),
thuộc một phần thửa đất số 269, tờ bản đsố 24, tọa lạc M, tỉnh Vĩnh Long; Yêu
cầu bị đơn bà Nguyễn Thị D tháo dỡ, di dời các công trình, tài sản trên đất trả lại cho
Thị Đ, ông Văn N phần diện tích đất 537,2m
2
(phần hiệu 2) thuộc một
phần thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc xã M, tỉnh Vĩnh Long.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của các bị đơn Nguyễn Thị D, anh
Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2.
Công nhận cho hàng tha kế ca Lê Th C gm: Phan Văn T4 (người tha
kế chuyn tiếp gm: Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh
Phan Văn T2), Phan Thị B, Phan Thị H1, Phan Thị H đưc quyn qun lý, s dng
diện tích đất 884,7m
2
(phần hiệu 1, 2, 3), loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một
phần thửa đất số 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc M, tỉnh Vĩnh Long. Phần diện tích
đất 884,7m
2
(phần hiệu 1, 2, 3) vị trí, tcận theo họa đồ hiện trạng thửa đất
tranh chấp ngày 13/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện B (nay
là khu vực 25).
Hàng tha kế ca Lê Th C gm: Phan Văn T4 (người tha kế chuyn tiếp
gm: Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh Phan Văn T2),
Phan Thị B, Phan Thị H1, Phan Thị H được quyền đến quan Nhà nước thẩm
quyền làm thủ tục khai, đăng cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích đất
884,7m
2
(phần hiệu 1, 2, 3), loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa đất
số 269, tờ bản đồ số 24, tọa lạc xã M, tỉnh Vĩnh Long trên theo quyết định của Bản án
này.
Tạm giao cho Nguyễn Thị D, anh Phan Hồng Q, anh Phan Minh T1, anh
Phan Văn T2 quản lý, sử dụng diện tích đất 884,7m
2
(phần hiệu 1, 2, 3), loại đất
trồng cây lâu năm, thuộc một phần thửa đất số 269, tbản đồ số 24, tọa lạc M,
tỉnh Vĩnh Long.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm cho Thị
Đ.
4. Các quyết định khác của bản án thẩm quyết định sửa chữa, bổ sung
bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị, không bị cải sửa hiệu lực pháp
luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
11
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND Khu vực 8 – Vĩnh Long;
- Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.
Đặng Văn Hùng
Tải về
Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 395/2026/DS-PT Bản án số 395/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất