Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 13/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 13/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/05/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: T vs T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 13/2026/HNGĐ-PT
Ngày: 29/5/2026
V/v: “Ly hôn và nuôi con chung"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Văn Giang
Các Thẩm phán: Ông Hà Quang Huy và Lê Thị Hồng Phương.
- Thư phiên toà: Trần Thuỳ Dương - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Ánh Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ số:
07/2026/TLPT-HNngày 23 tháng 4 năm 2026 về "Thay đổi người trực tiếp
nuôi con sau ly hôn". Do bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 27/2026/HNGĐ-
ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên bị
kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2026/QĐPT-
HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Ngô Thị T, sinh ngày 19/3/1990.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ 9, phường Quyết T, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở hiện tại: Tổ 53, phường Phan Đình P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 22/12/1989 .
Nơi đăng ký thường t: Tổ 9, phường Quyết T, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở hiện tại: Tổ 53, phường Phan Đình P, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn là chị Ngô Th T trình y:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương
sự số 345/2024/QĐST - HNGĐ ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:
2
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngô Thị T và anh Nguyễn Văn T1 nhất trí thuận
tình ly hôn.
- Về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thăm nom con sau khi ly hôn: Anh
Nguyễn Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cháu Nguyễn Tuệ Minh
T2, sinh ngày 28/08/2016 và cháu Nguyễn Đức T3, sinh ngày 30/08/2017.
- Về quyền thăm nom con chung: Chị T quyền đi thăm nom con chung
không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết chị T quyền xin thay
đổi nuôi con sau khi ly hôn.
Sau khi ly hôn, anh T1 gây khó khăn cho chị trong việc đưa đón con đi chơi
khi anh T1 đi trực không nhà, con chung của anh chị cháu T2 cháu T3
xin được ngủ với chị thì anh T1 nhiều lần không đồng ý, quát mắng các cháu gây
khó dễ nên các cháu phải ngủ với gia sư khi anh T1 vắng nhà. Chị xác định khi ly
hôn với anh T1, vì không muốn các cháu bị tách nhau để hai cháu có chị, có em.
Nên quyết định để cho anh T1 nuôi cả hai cháu, tuy nhiên sau khi ly hôn anh T1
luôn gây khó khăn muốn chia rẽ tình cảm giữa chị các con và nói những
điều tiêu cực không tốt với các cháu. Việc anh T1 gây khó khăn cho chị trong việc
thăm nom con chungvi phạm pháp luật, đã được ghi rõ trong Quyết định thuận
tình ly hôn số 345/2024/QĐST - HNGĐ ngày 19/08/2024 của Toà án nhân dân
thành phố Thái Nguyên.
vậy, ch đề nghị Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên giải quyết cho
chị được nuôi dưỡng cháu Nguyễn Tuệ Minh T2, sinh ngày 28/08/2016, để cháu
Nguyễn Đức T3 sinh ngày 30/08/2017 cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp nuôi
dưỡng.
Theo các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn
Văn T1 trình bày:
Tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 345/2024/QĐST - HNGĐ
ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên đã công nhận về
việc thuận tình ly hôn giữa anh với chị Ngô Thị T.
- Về con chung: Hai bên thỏa thuận anh được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con
chung cháu Nguyễn Tuệ Minh T2, sinh 28/8/2016 cháu Nguyễn Đức T3,
sinh 30/8/2017.
Sau khi ly hôn thì anh vẫn cho chị Ngô Thị T được chăm sóc cháu T2 và
cháu T3. Việc chị T nói anh không cho chị đón cháu T2, cháu T3 về ngủ hàng
đêm với chị T không đúng, mỗi tháng anh vẫn cho hai cháu về ngvới mẹ
khoảng 5 đến 6 tối. Việc chị T thường xuyên xin anh cho các cháu về ngủ với chị
T hàng đêm sẽ làm ảnh hưởng đến việc học của các cháu ngày hôm sau. Ngoài ra,
khi các cháu ốm thì chT không chăm sóc các cháu, bỏ đi làm việc xa, chị T
hiện nay còn nợ tiền bên ngoài hội rất nhiều. Chị T không chu cấp tiền nuôi
con chung hàng tháng với anh. Việc chị T m đơn xin thay đổi nuôi con chung
3
tại Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên với lý do anh gây khó khăn, chia
rẽ tình cảm mẹ con là không đúng. Vì anh vẫn thường xuyên cho các cháu được
đi chơi với mẹ, chỉ riêng việc cho các cháu sang ngủ chung hàng đêm với mẹ là
không được vì ảnh hưởng đến việc học của các cháu.
Chị T xin được nuôi cháu Nguyễn Tuệ Minh T2 anh không đồng ý với lý do
chị không thường xuyên dành thời gian chăm sóc các con; chị T không đủ trình
độ học vấn để dạy con. Anh hiện có việc làm ôn định, có trình độ học vấn, do đó
anh không nhất trí với ý kiến ca chị T về việc chị xin được nuôi cháu Nguyễn
Tuệ Minh T2.
Bản án s27/2026/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 1 - Thái Nguyên quyết đnh:
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Ngô Thị T.
Về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:
- Giao cháu Nguyễn Tuệ Minh T2, sinh ngày 28/8/2016 cho chị Ngô Thị T
trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu T2 đủ 18
tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T, anh T1 không yêu cầu giải
quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Anh Nguyễn Văn T1 không trực tiếp nuôi con quyền, nghĩa vụ thăm nom
con chung mà không ai được cản trở.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 24/3/2026, anh Nguyễn Văn T1 đơn kháng cáo bản án với do:
Hội đồng xét xử thẩm không xem xét hết tài liệu, chứng cứ, không lấy ý kiến
của 02 con chung của anh chị T, xem xét nguyện vọng 02 con muốn ở với ai.
Chị T không chứng minh được công việc và thu nhập ổn định để đảm bảo kinh tế
nuôi con. Trong khi đó anh công chức nhà nước, thu nhập n định
trình độ văn hóa để nuôi dạy 02 cháu. m theo đơn kháng cáo là đơn trình bày
nguyện vọng của cháu Nguyễn Tuệ Minh T2, Nguyễn Đức T3 sao kê chi tiết
giao dịch từ ngày 01/01/2026 đến ngày 06/3/2026 của Nguyễn Văn T1 tại Ngân
hàng TMCP Công Thương Việt Nam.
Ngày 26/3/2026, anh Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo bổ sung, kháng cáo
toàn bộ bản án n nhân gia đình thẩm số 27/2026/HNGĐ-ST ngày 13
tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên vviệc Thay
đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn”. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm
giải quyết lại vụ án theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn chị Ngô Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn anh Nguyễn n T1 giữ nguyên nội dung
kháng cáo, anh cho rằng chị T không dành thời gian để nuôi con, nuôi con không
4
tốt, không có việc làm ổn định, từ khi ly hôn chị T không đóng góp tiền nuôi con,
ngoài ra các con chung của anh chị có nguyện vọng ở với anh.
Nguyên đơn chị Ngô Thị T: Không đồng ý với kháng cáo lời trình bày
của anh T1. Chị công việc ổn định, tại cấp phúc thẩm, chị nộp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần, theo đó chị Tổng Giám đốc của Công
ty cổ phần năng lượng sinh học Quang Minh, chị có thu nhập hàng tháng từ 40
50 triệu đồng, có nơi ở ổn định tổ 53, phường Phan Đình P, tỉnh Thái Nguyên.
Ch T cho rng sau khi ly hôn, anh T1 gây khó khăn cho chị trong việc đưa đón
các con đi chơi và muốn chia rẽ tình cảm giữa chị và các con, nói những điều tiêu
cực không tốt với các cháu. Khi anh T1 đi trực không có nhà, con chung của anh
chị là cháu T2 và cháu T3 xin được ngủ với chị thì anh T1 nhiều lần không đồng
ý, quát mắng các cháu gây khó dễ nên các cháu phải ngủ với gia khi anh T1
vắng nhà. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp
luật của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi
thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo
của anh Nguyễn Văn T1, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình thẩm số
27/2026/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 -
Thái Nguyên. Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Sau khi nghe ý kiến người kháng cáo,
nguyên đơn, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1 làm trong hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1]. Cả chị T anh T1 đều độ tuổi lao động, có việc làm, thu nhập,
nơi ổn định. Con chung của anh chị đang độ tuổi ăn học, hình thành nhân
cách, cần sự quan tâm, chăm sóc đầy đủ cả về thể chất tinh thần. Việc anh
T1 trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung của anh chị sẽ gây khó khăn không nhỏ
đối với anh T1. Bên cạnh đó, thời gian mà anh T1 dành để chăm sóc, giáo dục cả
02 con cũng không thể tốt bằng việc anh, chị mỗi người nuôi dưỡng, chăm sóc 01
5
con. Để bảo đảm tốt nhất cho con chung của anh chị được chăm sóc đầy đủ cả về
thể chất và tình thần. Chị T có đơn yêu cầu xin được thay đổi người trực tiếp nuôi
con theo Điều 84 ca Lut hôn nn gia đình Vit Nam cn thiết.
Theo quy định tại điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 84 Luật Hôn nhân gia
đình quy định:
“...2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi một trong
các căn cứ sau đây:
...b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con...
[2.2]. Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp thẩm các con chung của
anh chị cháu Nguyễn Tuệ Minh T2 Nguyễn Đức T3 (trên 7 tuổi) đều
nguyện vọng ở với m là chNgô Thị T.
Tại cấp phúc thẩm anh T1 có cung cấp đơn trình bày nguyện vọng của cháu
Nguyễn Tuệ Minh T2Nguyễn Đức T3 (trên 7 tui), c 02 cháu đều có nguyện
vọng được ở với bố là anh Nguyễn Văn T1.
Hội đồng xét xử thấy rằng, việc ghi nhận ý kiến của con từ đủ 07 tuổi trở lên
một trong những căn cứ để xem xét khi quyết định người trực tiếp nuôi con
theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình. Tuy nhiên, nguyện vọng của con
không phải căn cứ duy nhất tính chất quyết định, cần được xem xét
trong mối tương quan với các điều kiện thực tế về vật chất, tinh thần, môi trường
sống, khả năng trực tiếp chăm sóc, giáo dục của cha mẹ và quyền lợi mọi mặt của
con chưa thành niên.
Đối chiếu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng nguyện vọng
của các cháu tại cấp thẩm và cấp phúc thẩm không thống nhất, thể hiện sự thay
đổi trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử không thể chỉ căn cứ
vào ý kiến được ghi nhận tại một thời điểm để làmsở duy nhất quyết định việc
giao con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét toàn diện các điều kiện nuôi
con của cả cha và mẹ.
Xét điều kiện thực tế của các bên cho thấy chị Ngô Thị T nơi trú ổn
định, nguyện vọng điều kiện trực tiếp chăm sóc con; cháu Nguyễn Tuệ Minh
T2 cháu gái, đang trong độ tuổi phát triển về tâm sinh lý, cần sự quan tâm,
chăm sóc, định hướng từ người mẹ. Trong khi đó, anh Nguyễn Văn T1 do tính
chất công việc thường xuyên phải đi làm, vắng nhà vào buổi tối nên việc trực tiếp
chăm sóc con có những hạn chế nhất định.
Vì vậy, mặc dù tại cấp phúc thẩm các cháu có thay đổi nguyện vọng, nhưng
xét tổng thể các điều kiện về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục bảo đảm quyền
lợi mọi mặt của con chưa thành niên thì việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của chị Ngô Thị T, giao cháu Nguyễn Tuệ Minh T2 cho chị T trực
6
tiếp nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp quy định tại các Điều 81, 82, 83 84 Luật
Hôn nhân và gia đình.
[2.3.] Tại cấp phúc thẩm anh T1 cung cấp bảng sao kê chi tiết tài khoản của
anh để chứng minh thu nhập và 02 đơn trình bày nguyện vọng của 02 con chung
đã được nhận định ở trên. Ngoài ra, anh T1 không cung cấp thêm được bất cứ tài
liệu nào chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ.
Do vậy, không căn cứ để chấp nhận kháng cáo anh T1, cần giữ nguyên
quyết định của bản án sơ thẩm số 27/2026/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026
ca Toà án nhân n khu vc 1 - Thái Nguyên là đúng pháp luật.
[3] Về án phí: Kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1 không được chấp nhận.
Do vậy, anh Nguyễn Văn T1 phải chịu án dân sự phúc thẩm.
[4] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên
tòa là có căn cứ và đúng pháp luật, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định ván phí, lệ phí
Toà án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn T1; Giữ nguyên bản án
hôn nhân gia đình sơ thẩm số 27/2026/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn T1 phải chịu 300.000
đ
(Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào 300.000
đ
(Ba trăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001289 ngày 02/4/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
3. Các quyết định khác của bản án hôn nhân gia đình thẩm số
27/2026/HNGĐ-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 -
Thái Nguyên hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 1 Thái Nguyên;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- THADS khu vực 1 – Thái Nguyên;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Hoàng Văn Giang
7
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT Bản án số 13/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất