Bản án số 145/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 145/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 145/2026/DS-PT ngày 09/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 145/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
T3 PHỐ CẦN THƠ
———-————
Bản án số: 145/2026/DS-PT
Ngày: 09/3/2026
“V/v Tranh chấp thừa kế, thực H
nghĩa vụ của người chết để lại,
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền S dụng đất, hợp đồng tặng
cho quyền S dụng đất, hợp đồng tín
dụng, vay tài sản và tranh chấp lối
đi qua bất động sản liền kề”
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN T3 PHỐ CẦN THƠ
- T3 phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chế Linh
Các Thẩm phán: Ông Võ Bảo Anh
Ông Nguyễn Vĩnh Khương
- Thư phiên tòa: Trần Ngọc Niềm Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
T3 phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân T3 phố Cần Thơ
tham gia phiên tòa:
Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 04 và 09 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân T3
phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án th số 17/2026/TLPT-DS ngày
16 tháng 01 năm 2026 về việc “Tranh chấp thừa kế, thực H nghĩa vụ của người
chết để lại, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền S dụng đất, hợp đồng tặng
cho quyền S dụng đất, hợp đng tín dụng, vay tài sản và tranh chấp li đi qua bất
động sản liền k.
Do Bản án dân sự thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 234/2026/QĐ-PT ngày
12 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
- N1 đơn:Nguyễn Thị N, sinh năm 1942.
Địa chỉ: Ấp 7, xã X, T3 phố C.
- Bị đơn:
1. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1962.
2
2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969.
3. Ông Nguyễn Minh H, sinh năm 1957.
Cùng địa chỉ: Ấp 7, xã X, T3 phố C.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977.
2. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1965.
Cùng địa chỉ: Ấp 7, xã X, T3 phố C.
3. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1967.
4. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1971.
Cùng địa chỉ: Ấp 10, xã X, T3 phố C.
5. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979.
Địa chỉ: Ấp 1, xã X, T3 phố C.
6. Bà Nguyễn Thị Hằng E, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu vực Thạnh Hiếu, phường L, T3 phố C.
7. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1946.
8. Ông Nguyễn Hùng L, sinh năm 1974.
9. Ông Nguyễn Dũng A, sinh năm 1972.
10. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969.
11. Bà Lê Thị U, sinh năm 1978.
12. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981.
13. Ông Phạm Thanh M, sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Ấp 7, xã X, T3 phố C.
14. Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức T, chức vụ: Phó Giám đốc Chi nhánh
huyện L.
Địa chỉ trụ sở: Ấp 3, xã V, T3 phố C.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* N1 đơn cụ bà Nguyễn Thị N (gọi tắt là cụ N) trình bày:
Vợ cH cụ Nguyễn Thị N cụ ông Nguyễn Văn T3 kết hôn với nhau
vào khoảng năm 1960-1961. Vợ cH cụ N và cụ T3 tự khai phá nhận chuyển
3
nhượng được khối tài sản chung là các phần đất gồm: 15.597m
2
, tại các thửa 924
diện tích 1000m
2
(đất LNK và T), thửa 920 diện tích 2.942m
2
loại đất Lá, thửa
768 diện tích 11.655m
2
loại đất Lúa, các phần đất này đã được Ủy ban nhân dân
huyện L cấp giấy chứng nhận quyền S dụng đất số 000204 ngày 22/8/1995 cho
cụ ông Nguyễn Văn T3, ngoài ra vợ cH cụ N cụ T3 nhận chuyển nhượng
của Nguyễn Thị N3 một phần đất tại thửa 926 diện tích khoảng 1000m
2
, nhưng
chưa làm thủ tục tách quyền S dụng đất.
Cụ N cụ T3 tổng cộng 09 người con là: (1) Nguyễn Thị N1 (bị
đơn), (2) ông Nguyễn Văn T (bị đơn), (3) ông Nguyễn Minh H (bị đơn), (4) ông
Nguyễn Văn C, (5) ông Nguyễn Văn N2, (6) ông Nguyễn Văn S, (7) ông Nguyễn
Văn Đ, (8) bà Nguyễn Thị H và (9) bà Nguyễn Thị Hằng E.
Tuy nhiên, lúc cụ T3 còn sống thì vợ cH cụ N cụ T3 đã tặng cho các con
các phần đất như sau: Cho ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn
Văn N2, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn Đ mỗi người 01 công tầm 3m đất
ruộng tại thửa 768, cho Nguyễn Thị Hằng E 01 công đất ruộng, nhưng tính giá trị
tương đương 01 chiếc ghe trị giá 50.000.000 đồng, ngoài ra còn cho ông C phần
đất tại thửa 920 diện tích 2.942m
2
, còn lại Nguyễn Thị N1, Nguyễn Minh H
Nguyễn Thị H chưa cho đất. Trong đó, phần đất ruộng 01 công tại thửa 768 cho
ông C, thì ông C đã bán lại cho ông T và ông T đã làm thủ tc tách quyền S dụng
đất, còn lại đất của ông N2, ông S, ông Đ thì chưa tách quyền S dụng đất. Ngoài
ra, tại một phần thửa 924 926 thì lúc cụ T3 còn sống vợ cH cụ N cụ T3
tặng cho ông T phần đất nền nhà để cất nhà ở ven sông, khi cho làm giấy tay
đến nay cũng chưa tách quyền S dụng đất.
Mặc khác, năm 2011 cụ T3 cụ N cố cho ông Nguyễn Hoàng Anh
phần đất 7,5 công đất ruộng với giá 190.000.000 đồng, trong số tiền cố đất này
thì cụ T3 cụ N cho ông Nguyễn Văn T mượn cố đất với số tiền 55.000.000
đồng, Nguyễn Thị H mượn cố số tiền 40.000.000 đồng, đến năm 2020 đến hạn
chuộc đất cụ T3 cụ N không tiền chuộc lại đất nên ông Nguyễn Văn Đ
con trai U đã xuất tiền ra cho c T3 và cụ N mượn 95.000.000 đồng, ông T mượn
55.000.000 đồng H mượn 40.000.000 đồng để chuộc lại phần đất này, số
tiền 95.000.000 đồng mà cụ T3 và cụ N mượn ông Đ đến nay chưa trả, còn ông T
và bà H thì không biết có trả chưa.
Cụ T3 chết năm 2022 không đlại di chúc, cụ N muốn cải tạo đất để xây
dựng nhà nhưng các con là bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn
Minh H ngăn cản tranh chấp không cho cụ N S dụng đất và bà N1 yêu cầu cụ N
phải chia cho N1 01 công của phần đất ruộng, cụ N không đồng ý nên phát
sinh tranh chấp.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng
quyền S dụng đất giữa cụ Nguyễn Văn T3, cụ Nguyễn Thị N Nguyễn Thị
4
N3 tại thửa 926 theo diện tích đo đạc thực tế. Yêu cầu phân chia di sản thừa kế
của cụ ông Nguyễn Văn T3 cH cN chết để lại theo quy định pháp luật.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 ( gọi tắt bà N1) yêu cầu phản tố trình bày:
Nguyễn Thị N1 là con gái thứ hai của cN và cụ T3, cha mẹN1 lúc
sinh thời tạo lập được một số tài sản các quyền S dụng đất như cụ N trình
bày là đúng.
Cụ T3 chết năm 2022 không để lại di chúc, đối với phần đất ruộng tại thửa
768 lúc cụ T3 còn sống thì có phân chia cho các em ông C, ông T, ông S, ông
N2, ông Đ, mỗi người 01 công tầm 3m, Hằng E thì cho chiếc ghe trị giá
50.000.000 đồng, còn N1, ông H và H chưa cho. Phần đất cha mẹ cho
ông T và ông C đã tách quyền S dụng đất xong, phần đất còn lại của ông N2, ông
S ông Đ thì chưa tách quyền S dụng đất. Đối với phần đất tại thửa 920 diện
tích 2.942m
2
loại đất Lá cha mẹ đã cho em trai ông Nguyễn Văn C cha mẹ hứa
tặng cho ông T phần đất đang cất nhà ven sông để thì N1 biết. Đối với
việc cụ N cho rằng cụ N và cụ T3 mượn tiền để chuộc lại đất cố của ông Hoàng
Anh thì bà N1 cũng biết.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại, bà N1 có yêu cầu phản tố yêu cầu phân chia di sản thừa kế cho bà N1
phần đất 1300m
2
tại một phần thửa 768 cho bà N1 sở hữu, N1 yêu cầu nhận H
vật.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn T (gọi tắt ông T) yêu cầu phản tố trình
bày:
Ông T con trai thứ sáu của cụ ông Nguyễn Văn T3 và cụ bà Nguyễn Th
N, cha mẹ ông T có khai phá tạo lập các phần đất tại các thửa 924, 920 và 768 với
tổng diện tích 15,597m
2
cụ T3 được cấp giấy chứng nhận quyền S dụng đất số
000204 ngày 22/8/1995, ngoài ra cha mẹ còn chuyển nhượng thêm một phần đất
của bà sáu N3 diện tích khoảng 1000m
2
là phần đất liền kề đang cất nhà ở H tại.
Cụ T3 chết năm 2023 không đlại di chúc, nhưng lúc còn sống vào năm
1999 cha mẹ cho ông T 01 phần đất tại thửa 924 để cất nhà ngang 20m dài
19m cặp mé sông để cất nhà ở ra riêng khi ông T có vợ và lối đi từ lộ xuống nhà,
lúc cho đất cha mẹ làm giấy tay cha mẹ tên 02 người chứng kiến
ruột Nguyễn Thị Ngọc cH Ngọc ông Đổ Văn Chính, trên phần
đất này trước đây vợ cH ông T cất căn nhà tạm đề ở sau đó nhà hư vợ cH ông mới
xây dựng kiên cố như ngày nay và ở ổn định từ đó đến nay.
Bên cạnh đó, trong số đất của cha mẹ để lại thì đã có cho ông Nguyễn Văn
C phần đất tại thửa 920 diện tích khoảng 2.942m
2
. Đối với phần đất ruộng tại thửa
768 thì cha mẹ đã cho các anh em như sau: Cho ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn
Văn C, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn Đ mỗi người
5
diện tích 1.300m
2
, cho Nguyễn Thị Hằng E 01 công nhưng tương đương 01
chiếc ghe trị gái 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, phần đất của ông C đã chuyển
nhượng lại cho ông T và ông T đã tách quyền S dụng đất xong, phần đất của ông
N2 thì ông N2 đã chuyển nhượng cho ông S, sau đó ông S đã chuyển nhượng lại
cho ông Đ toàn bộ diện tích 2.600m
2
nhưng chưa tách quyền S dụng đất, bà H và
ông H thì cha mẹ chưa cho, còn bà N1 cha mẹ cũng có cho 01 công đất nhưng bà
N1 không nhận.
Ngoài ra, vào năm 2011 cha mẹ ông T cố cho ông Nguyễn Hoàng Anh
phần đất ruộng với giá 190.000.000 đồng, trong số tiền cố đất này thì cha mẹ
cho ông T mượn 02 công để cố với số tiền 55.000.000 đồng, phần của cha mẹ c
cho ông Hoàng Anh 5,5 công với số tiền 135.000.000 đồng, trong số đất này
cha mẹ có ai mượn để cố nữa không thì ông T không biết, đến năm 2020 đến hạn
chuộc đất ông Đ xuất tiền ra cho cha mẹ ông T mượn tiền để chuộc lại phần
đất này, trong đó ông Đ cho cha mẹ mượn là 135.000.000 đồng, cho ông T mượn
55.000.000 đồng, số tiền ông T mượn của ông Đ chuộc đất thì ông T và ông Đ đã
thỏa thuận, ông T giao cho ông Đ 02 công đất của ông T để canh tác, khi nào ông
T có tiền trả cho ông Đ thì ông Đ trả lại đất cho ông T.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại ông T yêu cầu phản tố yêu cầu công nhận cho ông T phần đất nền
nhà tại vị trí IV trong đó một phần thửa 924 tại vị trí IVa diện tích 91,1m
2
và một
phần thửa 926 tại vị trí IVb diện tích 77m
2
, đây các phần đất lúc còn sống cụ
T3 và cụ N đã cho và yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền lề cho ông T tại vị
trí V diện tích 34.1m
2
tại một phần thửa 924 theo quy định. Về việc phân chia
thừa kế đối với di sản thừa kế của cụ T3 để lại thì ông T không yêu cầu phân chia
do đã được cT3 cho đất và đã tách quyền S dụng đất xong.
* Tại biên bản ghi lời khai bị đơn ông Nguyễn Minh H (gọi tắt là ông H)
có yêu cầu phản tố trình bày:
Ông H là con trai thứ ba của cụ T3 và cụ N, lúc sinh thời c T3 và cụ N có
tạo lập được khối tài sản các phần đất tại thửa 926, 768, 924 920 tổng diện
tích các phần đất theo giấy chứng nhận quyền S dụng đất cụ T3 được cấp
15.597m
2
, trong đó phần đất sang của bà Nguyễn Thị N3 (sáu N3) tại thửa 926
diện tích khoảng 1000m
2
, nhưng chưa tách giấy chứng nhận quyền S dụng đất.
Khi cụ T3 chết năm 2023, không để lại di chúc nên toàn bộ các phần đất do
mẹ là cụ N quản lý toàn bộ, đối với phần đất ruộng tại thửa 768 thì cha mẹ có cho
các anh em mỗi người một phần nhưng chưa cho ông H, các phần đất cho các anh
em thì chỉ tách quyền S dụng diện tích 2.600m
2
cho ông T, còn các anh em khác
vẫn còn chung trong giấy chứng nhận quyền S dụng đất của cụ T3 chưa tách quyền
S dụng đất. Đối với phần đất ông Nguyễn Văn T yêu cầu công nhận phần đất ông
T được cụ T3 cho thì ông H cũng có được nghe cụ T3 nói lúc còn sống, còn việc
6
cụ T3 cho đất ông T mà có làm giấy tgì không thì ông H không rõ. Đối với việc
cụ N cho rằng cụ N cụ T3 mượn tiền của ông Đ để chuộc lại đất cố của ông
Hoàng Anh thì ông H cũng biết.
Nay mẹ là cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế là các phần đất của cụ
T3 chết để lại ông H yêu cầu phản tố yêu cầu được phân chia phần đất 1300m
2
tại một phần thửa 768 cho ông H sở hữu, ông H yêu cầu nhận H vật. Tuy nhiên,
ông H đang sống chung nhà cùng N1 (chị hai) nên ông H yêu cầu nhận phần
đất cặp bà N1 hoặc ông H và N1 nhận chung một phần đất để thuận tiện canh
tác.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn Đ (gọi tắt
là ông Đ) có yêu cầu độc lập trình bày:
Ông Đ con trai U của cụ N cụ T3, ông Đ thống nhất nguồn gốc phần
đất tranh chấp của cha mẹ là cụ N và cụ T3 tạo lập nên c thể: Thửa 768, 920, và
924 tổng diện tích 15.597m
2
các thửa này cụ T3 đã được cấp giấy chứng nhận
quyền S dụng đất phần đất tại thửa 926 diện tích khoảng 1000m
2
cha mẹ chuyển
nhượng của bà Nguyễn Thị N3 chưa tách quyền S dụng đất. Trong số đất của cha
mẹ để lại thì khi còn sống cha mẹ đã có cho ông Nguyễn Văn C phần đất tại thửa
920 diện tích 2.942m
2
, phần đất rung tại thửa 768 thì cha mẹ cho các anh em cụ
thể như sau: cho ông Đ diện tích 1.300m
2
, cho ông Nguyễn Văn T 1.300m
2
, cho
ông Nguyễn Văn C 1.300m
2
, nhưng ông C đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn
Văn T (ông T đã tách quyền S dụng đất xong diện tích 2.600m
2
), cho Nguyễn Văn
S diện tích 1.300m
2
, cho ông Nguyễn Văn N2 1.300m
2
, nhưng ông N2 đã chuyển
nhượng cho ông S, sau đó ông S đã chuyển nhượng lại cho ông Đ toàn bdiện
tích 2.600m
2
(chưa tách quyền S dụng đất), cho chị gái Nguyễn Thị Hằng E 01
công đất nhưng cho bằng trị giá chiếc ghe là 50.000.000 đồng, Nguyễn Thị H,
ông Nguyễn Minh H chưa cho, còn N1 thì cha mẹ cũng cho 01 công đất
nhưng N1 không nhận. Đối với phần đất ông T yêu cầu công nhận hợp đồng
tặng cho mở lối đi thì theo ông Đ biết lúc cụ T3 còn sống chỉ nói cho ông T
mượn, ông Đ không nghe cụ T3 nói nói tặng cho ông T, cũng không làm
giấy tờ gì.
Ngoài ra, năm 2011 cha mẹ cố cho ông Nguyễn Hoàng Anh 7,5 công
đất ruộng với giá 190.000.000 đồng, trong số tiền cố đất này thì cha mẹ cho ông
Nguyễn Văn T mượn cố đất với số tiền 55.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H mượn
cố số tiền 40.000.000 đồng, đến năm 2020 đến hạn chuộc đất ông Đ đã xuất tiền
ra cho cha mẹ, ông T và bà H mượn tiền để chuộc lại phần đất này, số tiền này H
nay cha mẹ, ông T và bà H chưa ai trả lại cho ông Đ.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại ông Đ có yêu cầu độc lập như sau:
7
- Đối với yêu cầu phân chia thừa kế: Ông Đ yêu cầu được phân chia thừa
kế đối với phần đất tại thửa 768 theo quy định, ngoài ra ông Đ yêu cầu được phân
chia một nền nhà để cất nhà ở, ông Đ yêu cầu nhận H vật.
- Đối với yêu cầu thực H nghĩa vụ của người chết để lại: Ông Đ yêu cầu cụ
N và các anh chị em của ông Đ gồm bà N1, ông H, ông T, ông C, ông N2, ông S,
H, Hằng E thực H nghĩa vụ trả nợ số tiền 95.000.000 đồng của cụ T3 đã
mượn trước khi chết để lại theo quy định. Yêu cầu bà Nguyễn Thị H trả lại số tiền
đã mượn để chuộc lại đất cố là 40.000.000 đồng.
* Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn S (gọi tắt
là ông S) có yêu cầu độc lp trình bày:
Ông S con trai th5 của cụ ông Nguyễn Văn T3 cụ bà Nguyễn Thị N,
cha mẹ ông S các phần đất như cụ N các anh em của ông S trình bày đúng,
nguồn gốc đất do cha mẹ tự khai phá và nhận chuyển nhượng, không phải đất
ông bà để lại. Ông S thừa nhận lúc cụ T3 còn sống phân chia đất cho các anh
chị em như lời tình bày của cụ N ông Đ, ông S được cha mẹ cho phần đất ti
thửa 768 diện tích 1.300m
2
, ông S nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 1300m
2
của ông N2, ông S đã chuyển nhượng lại toàn bộ diện tích 2.600m
2
cho ông Đ,
đến nay vẫn chưa tách quyền S dụng đất, vẫn còn chung trong giấy chứng nhận
quyền S dụng đất của cụ T3. Ngoài ra, lúc cụ T3 n sống thì ông S cũng có nghe
nói cho ông T mượn phần đất nền nhà ông T đang cất nhà ở, không nghe cụ
T3 nói cho. Đối với việc cụ N và ông Đ cho rằng cụ N cụ T3 mượn tiền ông Đ
để chuộc lại đất cố của ông Hoàng Anh thì ông S cũng biết.
Nay mẹ là cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế là các phần đất của cụ
T3 chết để lại ông S có yêu cầu độc lập yêu cầu được phân chia phần đất 1300m
2
tại một phần thửa 768 theo quy định pháp luật. Ông S đồng ý tách quyền S dụng
đất cho ông Đ ông S đã chuyển nhượng lại cho ông Đ. Ông S đồng ý thực H
nghĩa vụ trả nợ của cT3 khi chết để lại theo quy định pháp luật.
* Người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn C (gọi tắt
ông C) trình bày:
Ông C con trai thứ 4 của cụ Nguyễn Văn T3 cụ Nguyễn Thị N, cha
mẹ ông C lúc sinh thời khai phá các phần đất tại thửa 768, 920, 924 tổng
diện tích 15.597m
2
các thửa này cụ T3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền S dụng
đất và phần đất tại thửa 926 diện tích khoảng 1000m
2
là nhận chuyển nhượng của
Nguyễn Thị N3 chưa tách quyền S dụng đất. Trong s các phần đất này thì khi
cụ T3 còn sống, cụ T3 và cụ N đã tặng cho ông C phần đất tại thửa 920 diện tích
2.942m
2
, nhưng chưa tách quyền S dụng đất, cho 01 công đất ruộng tại thửa 768
nhưng ông C đã chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn T (ông T đã tách quyền
S dụng đất xong diện tích 2.600m
2
), Ngoài ra, cha mẹ còn cho ông S, ông N2, ông
Đ mỗi người diện tích 1.300m
2
, cho Hằng E 01 công đất nhưng cho bằng trị
8
giá chiếc ghe 50.000.000 đồng, Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Minh H chưa
cho, còn N1 thì cha mẹ cũng có cho 01 công đất nhưng N1 không nhận. Đối
với phần đất ông T cho rằng cụ T3 lúc còn sống có cho ông T phần đất ven sông
thì ông C không biết cụ T3 có cho hay không, có làm giấy tờ gì không thì ông C
không rõ. Đi với phần nhà của ông C đang cất trên phần đất tranh chấp ông C sẽ
tháo dở di dời trả lại đất nếu cụ N yêu cầu hoặc phần đất được phân chia cho
người khác. Đối với việc cụ N ông Đ cho rằng cụ N cụ T3 mượn tiền của
ông Đ để chuộc lại đất cố của ông Hoàng Anh thì ông C cũng biết.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại ông C yêu cầu độc lập yêu cầu được tiếp tục sở hữu phần đất thửa
920 diện ch 2.942m
2
. Tuy nhiên, ông C đơn rU lại yêu cầu độc lập không yêu
cầu trong cụ kiện này, để cụ N các anh chị em của ông C phân chia thừa kế
xong thì ông C sẽ thực H thủ tục nhận thừa kế đối với phần đất này theo quy định.
Ông C đồng ý thực H nghĩa v trả nợ của cụ T3 khi chết để lại theo quy định pháp
luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N2 (gọi tắt là
ông N2) có yêu cầu độc lập trình bày:
Ông N2 con trai thứ 7 của cụ Nguyễn Văn T3 và cụ Nguyễn Thị N, cha
mẹ lúc sinh thời có tạo lập được khối tài sản chung nmẹ là cụ N các anh chị
em của ông N2 trình bày là đúng, nguồn gc đất là do cha mẹ tự khai phá và nhận
chuyển nhượng. Ông N2 thừa nhận lúc cụ T3 còn sống phân chia đất cho các
anh chị em như: Phân chia cho ông S, ông T, ông C, ông Đ và ông N2 mỗi người
01 công tầm 3m tại thửa 768, phần đất của ông N2 được cho ông N2 đã chuyển
nhượng lại cho ông S và ông S cũng đã chuyển nhượng lại cho ông Đ, nhưng vẫn
chưa tách quyền S dụng đất, vẫn còn chung trong giấy chứng nhận quyền S dụng
đất của cụ T3. Ngoài ra, lúc cụ T3 còn sống tông N2 cũng không nghe nói
cho ông T phần đất nền nhà, chỉ biết là cho mượn, còn việc có cho hay không hay
làm giấy tờ gì hay không thì ông N2 không rõ. Đối với việc cụ N và ông Đ cho
rằng cụ N và cụ T3 mượn tiền ông Đ để chuộc lại đất cố của ông Hoàng Anh t
ông N2 ng biết.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại ông N2 yêu cầu độc lập yêu cầu được phân chia phần đất 1300m
2
tại một phần thửa 768 theo quy định pháp luật. Ông N2 đồng ý tách quyền S dụng
đất cho ông Đ ông N2 đã chuyển nhượng cho ông S ông S đã chuyển nhượng
lại cho ông Đ. Ông N2 đồng ý thực H nghĩa vụ trả nợ của cụ T3 khi chết để lại
theo quy định pháp luật.
* Người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H (gọi tắt là
H) có yêu cầu độc lập trình bày:
9
Bà H là con gái thứ 9 của cụ Nguyễn Văn T3 và cụ Nguyễn Thị N, cha mẹ
H lúc sinh thời tạo lập các phần đất như cụ N các anh chị em của H
trình bày đúng, nguồn gốc đất do cha mẹ tự khai phá nhận chuyển nhượng.
Bà H cũng thừa nhận có biết việc lúc cụ T3 còn sống có tặng cho các anh là ông
N2, ông Đ, ông S, ông T, ông C mỗi người 01 công đất ruộng tại thửa 768, còn
việc có tách giấy chưa thì bà H không biết, cho Hằng E 01 công nhưng tương
đương giá trị 01 chiếc ghe 50.000.000 đồng, còn lại H, ông H và N1
cha mẹ chưa cho đất ruộng. Phần đất tại thửa 920 cha mẹ đã cho ông C S dụng từ
N2 năm, còn phần đất nền nhà cặp sông của ông T thì chỉ nghe cha mẹ nói là cho
mượn, nhưng không biết cha mẹ làm giấy tờ cho ông T không, H
cH đi sinh sống địa phương khác không gần nhà, lâu lâu mới về tới lui nên
không rõ.
Khoảng năm nào H không nhớ, H mượn của cha mẹ 01 phần đất
để cố cho ông Hoàng Anh với số tiền 40.000.000 đồng, có cho anh trai thứ sáu
ông T mượn cố với số tiền 55.000.000 đồng, cho chị dâu thứ 4 Quách Thị
Thanh Thảo (vợ của ông C) mượn cố với số tiền 95.000.000 đồng, khi đến hạn
chuộc lại đất thì anh trai U là ông Nguyễn Văn Đ đã cho H ông T mượn tiền
để chuộc lại đất trả cho cha mẹ, và cho cha mẹ mượn 95.000.000 đồng để chuộc
đất phần của chị Thảo. Tuy nhiên, phần của Thảo đã trả cho cha mẹ 01 chiếc
ghe trị giá 50.000.000 đồng (chiếc ghe cho Hằng E) trả một số tiền nhưng
bà H không biết bao nhiêu.
Nay cụ N khởi kiện yêu cầu phân chia thừa kế các phần đất của cụ T3
chết để lại bà H có yêu cầu độc lập như sau:
- Bà H yêu cầu phân chia di sản của cụ T3 đối với phần đất 1300m
2
tại một
phần thửa 768 cho H theo quy định. Đồng thời bà H thống nhất giao phần đất
được phân chia cho ông Đ yêu cầu ông Đ trả lại giá trị cho H theo giá đất
thị trường tại địa phương là 80.000.000 đồng.
- H đồng ý trả cho ông Đ số tiền 40.000.000 đồng H mượn của ông
Đ để trả tiền cố đất và bà H đồng ý thực H nghĩa vụ trả nợ của cụ T3 khi chết để
lại theo quy định pháp luật.
* Tại biên bản ghi lời khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị N3 (gi tắt là N3) trình bày:
Vào năm nào bà N3 không nhớ rỏ khoảng trên 20 năm N3 cH
ông Nguyễn Văn Lượng (đã chết năm 2015) sang nhượng cho ông Nguyễn
Văn T3 bà Nguyễn Thị N phần đất vườn, N3 không biết diện tích bao
nhiêu và nằm ở thửa nào, vì bà N3 không hiểu biết về giấy tờ đất, chỉ thỏa thuận
chuyển nhượng một miếng đất liền với đất nhà của vợ cH ông T3 cho đường
ra lộ, với giá N1 miếng đất là mấy chỉ vàng 24k, do thời gian lâu nên không nhớ
rỏ, nhưng có làm giấy tay vợ cH ông T3, bà N giữ. Vợ cH bà N3 đã giao đất cho
10
vợ cH ông T3 vợ cH ông T3 đã giao đủ đất cho vcH N. Từ khi chuyển
nhượng đến nay vợ cH ông T3 S dụng ổn định đến nay không ai tranh chấp, nhưng
chưa làm thủ tục sang tên quyền S dụng đất.
Nay ông T3 chết, N các con của ông T3 tranh chấp chia di sản thừa
kế của ông T3 có liên quan đến phần đất này thì bà N3 có ý kiến như sau: Bà N3
đồng ý tiếp tục thực H hợp đồng chuyển nhượng quyền S dụng đất phần đất
vợ cH bà N3 đã chuyển nhượng cho vợ cH ông T3 và đồng ý tách quyền S dụng
đất theo quy định.
* Tại biên bản ghi lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà
Thị U (gọi tắt là bà U) trình bày:
U vợ của ông Nguyễn Văn T, U thống nhất lời trình bày các
yêu cầu của ông T, bà U không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
Tại biên bản ghi lời khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Nguyễn Thị T2 (gọi tắt là bà T2) trình bày:
T2 là vợ của ông Nguyễn Văn Đ, bà T2 thống nhất lời trình bày và các
yêu cầu của ông Đ, bà T2 không trình bày hay yêu cầu gì thêm.
* Tại biên bản ghi lời khai người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Phạm Thanh M (gọi tắt là ông M) trình bày:
Vào năm 2023 ông M nhận cố của vợ cH ông Nguyễn Văn Đ
Nguyễn Thị T2 phần đất 14 công tầm 3m, với giá 200.000.000 đồng/14 công, thời
hạn cố là 03 năm chuộc lại đất, đến tháng 5/2026 là đến hạn chuộc lại đất, hai bên
có làm giấy tay cố đất ngày 23/5/2023, khi cố không có đo đạc thực tế ông Đ chỉ
giao đất ông M nhận canh tác vậy thôi, khi ông M nhận cố đất thì các anh chị em
của ông Đ đều biết, không ai tranh chấp hay ngăn cản gì, khi cố đất hai bên thỏa
thuận khi nào hết hạn cố ông Đ trả đủ tiền cho ông M thì ông M mới chuộc lại
đất, nếu ông Đ không chuộc lại đất thì ông M tiếp tục canh tác.
Nay phần đất này phát sinh tranh chấp ông M yêu cầu như sau: Do đất
chưa đến hạn chuộc lại nên ông M không yêu cầu độc lập trong vụ án, nếu trong
trường hợp chưa đến hạn chuộc lại đất mà phần đất bị đem ra chia thừa kế nhưng
ông Đ không trả lại cho M số tiền 200.000.000 đồng thì ông M sẽ khởi kiện ông
Đ đối với hợp đồng cố đất T3 vụ kiện khác theo quy định.
* Tại bản tự khai ông Lê Đức T (gọi tắt là ông Toàn) là đại diện uỷ quyền
của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp Phát
triển Nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Ngân hàng nông nghiệp) trình bày:
Ngày 07/6/2024 Ngân hàng nông nghiệp Chi nhánh thị xã Long Mỹ Hậu
Giang (nay là Chi nhánh Long Mỹ Hậu Giang) có cho bà Nguyễn Thị N3 vay số
tiền 176.000.000đ; lãi suất 9,0%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn, thời
11
hạn vay 36 tháng. Quá trình vay Nguyễn Thị N3 thực H nghĩa vụ trả nợ lãi
đúng theo định kỳ, không phát sinh lãi quá hạn. Để đảm bảo cho khoản nợ vay
Nguyễn Thị N3 thế chấp tài sản giấy chứng nhận quyền S dụng đất số
000199, do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995, diện tích 12.682m
2
bao gồm các thửa: Thửa 926 diện tích: 1.470m
2
loại đất LNK; Thửa 926 diện tích
300m
2
loại đất T; Thửa 801 diện tích 7.012m
2
loại đất 2L, các thửa đất tọa lạc tại
Ấp 7, xã Xà Phiên, huyện L, tỉnh Hậu Giang (Nay là Ấp 7, xã X, T3 phố C).
Ngày 02/4/2025 Ngân hàng nông nghiệp có đơn yêu cầu độc lập đối với
Nguyễn Thị N3, yêu cầu Tòa án khi giải quyết tranh chấp có liên quan đến quyền
S dụng đất đang thế chấp thì ưu tiên thu nợ hộ Nguyễn Thị N3 còn nợ Ngân hàng
nông nghiệp với s tiền gốc 176.000.000 đồng và phần lãi phát sinh tạm tính đến
ngày 02/4/2025 là 1.128.329 đồng.
Tuy nhiên đến ngày 14/5/2025 Ngân hàng nông nghiệp đã rU lại yêu cầu
độc lập đối với N3 về tranh chấp hợp đồng tín dụng để yêu cầu N3 trả số
tiền nợ đã vay.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Nguyễn Thị Hằng E, ông Nguyễn Dũng A, ông Nguyễn Hùng L
và bà Nguyễn Thị T1 đã được Toà án triệu tập hợp lN2 lần để ghi lời khai cũng
như tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ
hoà giải nhưng Hằng E, ông Dũng A, ông Hùng L, Tho vắng mặt N2 lần
không lý do nên không ghi nhận được ý kiến của bà Hằng E, ông Dũng A, ông
Hùng L, Tho về yêu cầu khởi kiện của N1 đơn và không thể tiến hành tiến hành
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đối với
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hằng E, ông Nguyễn Dũng
A, ông Nguyễn Hùng L và bà Nguyễn Thị T1.
Tại phiên tòa thẩm, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn Đ yêu cầu:
Ông Đ yêu cầu phân chia cho ông Đ phần đất diện tích 1.300m
2
tại một
phần thửa 768 phần đất tại vị trí III, trong đó một phần thửa 926 tại vị trí IIIa
diện tích 390,7m
2
và một phần thửa 924 tại vị trí IIIb diện tích 22,1m
2
theo lược
đồ đo đạc thực tế.
Ông Đ đồng ý phân chia di sản của cụ T3 cho cụ N và các anh chị em của
ông Đ theo biên bản hoà giải 30/9/2024. Phần đất của H, ông S ông N2 được
sở hữu ông Đ yêu cầu tách quyền S dụng đất cho ông Đ vì bà H, ông S và ông N2
đã chuyển nhượng cho ông Đ thống nhất giao cho ông Đ sở hữu. Ngoài ra ông
Đ đồng ý trả lại cho bà H giá trị phần đất 80.000.000 đồng. Ông Đ thống nhất
để phần đất nền mộ của c T3 để sở hữu chung không phân chia.
12
Ông Đ yêu cầu cụ N và các anh chị em của ông Đ gồm bà N1, ông H, ông
T, ông C, ông N2, ông S, H, Hằng E thực H nghĩa vụ trả nợ số tiền
95.000.000 đồng của cụ T3 đã mượn trước khi chết để lại theo quy định. Đối với
số tiền 40.000.000 đồng H mượn của ông Đ để trả tiền cố đất ông Đ yêu cầu
bà H trả lại cho ông Đ theo quy định.
Đối với phần đất ông T yêu cầu ông Đ không có ý kiến yêu cầu giải quyết
theo quy định.
Tại phiên tòa thẩm, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn S yêu cầu:
Ông S yêu cầu phân chia cho ông S phần đất diện tích 1.300m
2
tại một phần
thửa 768 theo quy định, ông S thống nhất giao phần đất ông S được sở hữu và
phần đất nhận chuyển nhượng của ông N2 tng diện tích 2600m
2
cho ông Đ được
sở hữu đề nghị tách quyền S dụng đất cho ông Đ theo quy định, ông S đã
chuyển nhượng cho ông Đ.
Ông S đồng ý phân chia di sản của cụ T3 cho cụ N các anh chị em của
ông Đ theo biên bản hoà giải 30/9/2024. Ông S thống nhất để phần đất nền mộ
của cụ T3 để sở hữu chung không phân chia. Ông S đồng ý thực H nghĩa vụ trả
nợ của cụ T3 khi chết để lại theo yêu cầu của ông Đ theo quy định pháp luật. Đối
với phần đất ông T yêu cầu ông S không ý kiến yêu cầu giải quyết theo quy
định.
Trợ giúp viên pháp lý tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho N1 đơn
cụ bà Nguyễn Thị N phát biểu quan điểm:
Cụ Nguyễn Thị N cụ ông Nguyễn Văn T3 kết hôn với nhau khai
phá được các phần đất tại các thửa 924, 920, 768 tổng diện tích 15.597m
2
,
nhận chuyển nhượng của Nguyễn Thị N3 phần đất tại thửa 926 diện tích
khoảng 1000m
2
, nhưng chưa làm thủ tục tách quyền S dụng đất, đây tài sản
chung của cụ T3 và cụ N. Cụ T3 chết năm 2022 không có để lại di chúc, cụ N và
cụ T3 có tổng cộng 09 người con. Cụ N yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế
của cụ ông Nguyễn Văn T3 cH cụ N chết để lại và cụ N thống nhất phân chia di
sản theo biên bản hoà giải ngày 30/9/2024 tại Toà án như sau:
- Cụ N yêu cầu tiếp tục thực H hợp đồng chuyển nhượng quyền S dụng đất
giữa cụ Nguyễn Văn T3, cụ Nguyễn Thị N Nguyễn Thị N3 tại thửa 926 theo
diện tích đo đạc thực tế.
- Cụ N đồng ý tiếp tục thực H hợp đồng tặng cho ông Nguyễn Văn T phần
đất theo mảnh trích đo địa chính thực tế tại vị trí IV trong đó một phần thửa 924
tại vị trí IVa diện tích 91,1m
2
và một phần thửa 926 tại vị trí IVb diện tích 77m
2
.
Đồng ý mở lối đi qua bất động sản liền kề phần đất tại một phần thửa 924 tại vị
13
trí V diện tích 34,1m
2
cho ông T, nhưng ông T phải trả lại giá trị đất cho cụ N theo
quy định.
- Cụ N đồng ý tiếp tục tặng cho ông Nguyễn Văn C phần đất tại thửa 920
diện tích 2.942m
2
.
- Cụ N đồng ý phân chia cho N1, ông H, ông N2, ông S, ông Đ, H
mỗi người phần đất diện tích 1.300m
2
tại thửa 768, phần diện tích còn lại của thửa
768 cụ N tiếp tục sở hữu.
- Phân chia cho ông Nguyễn Văn Đ con trai U sở hữu phần đất tại vị trí
III, trong đó một phần thửa 926 tại vị trí IIIa diện tích 390,7m
2
và một phần thửa
924 tại vị trí IIIb diện tích 22,1m
2
.
- Phần đất còn lại tại một phần thửa 926 tại vị trí Ia diện tích 190,3m
2
, tại
vị tIIc diện tích 249,7m
2
một phần thửa 924 tại vị trí IIb diện tích 557,9m
2
phân chia cho c N sở hữu.
- Phần đất tại một phần thửa 924 tại vị trí IIb diện tích 99,1m
2
một phần
thửa 926 tại vị trí IIa diện tích 58,6m
2
là phần đất nền mộ đsở hữu chung cho cụ
N và các hàng thừa kế của cụ T3.
- Đối với số tiền cụ T3 cụ N đã mượn của ông Đ thì cụ N đồng ý trả cho
ông Đ ½ số tiền là 45.000.000 đồng, phần ½ số tiền còn lại là nợ của ông T3, bà
N đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Tại bản án dân sự sơ thẩm s09/2026/DSST ngày 16 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Cần Thơ đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N1 đơn cụ Nguyễn Thị N, bị đơn
Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn Đ Nguyễn Thị
H về việc yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ Nguyễn Văn
T3 chết để lại.
2. Xác định phần đất tại một phần thửa 768 (vị trí II, III, IV, V, VI, VII)
tổng diện tích 9,134,2m
2
; Phần đất tại thửa 924 (vị trí Ib diện tích 557,9m
2
, vị trí
IIb diện tích 99,1m
2
, IIIb diện tích 22,1m2) diện tích 679,1m
2
thuộc giấy chứng
nhận quyền S dụng đất số 000204 do Uỷ ban nhân dân huyện L cấp ngày
22/8/1995 cho cụ Nguyễn Văn T3, đất tọa lạc tại ấp 7, xã Xà Phiên, huyện L, tỉnh
Hậu Giang (nay là Ấp 7, xã X, T3 phố C). Phần đất tại thửa 926 (vtrí Ia diện tích
190,3m
2
, vị trí Ic diện tích 249,7m
2
, vị trí IIa diện tích 58,6m
2
, vtrí IIIa diện tích
390,7m
2
) tổng diện tích 889,3m
2
thuộc giấy chứng nhận quyền S dụng đất số
000199 do Uỷ ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995 cho bà Nguyễn Thị N3,
đất tọa lạc tại ấp 7, xã Xà Phiên, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là Ấp 7, xã X, T3
phố C) số tiền 30.269.035 đồng (ba mươi triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn
14
không trăm ba mươi lăm đồng) do vợ cH ông T và bà U trả giá trị lối đi là di sản
thừa kế của cT3 chết để lại.
2.1. Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T3 như sau:
- Phân chia cho cụ Nguyễn Thị N được shữu các phần đất bao gồm: Phần
đất tại một phần thửa 926 tại vị trí Ia diện tích 190,3m
2
, tại vị trí Ic diện tích
249,7m
2
, loại đất CLN, Phần đất tại một phần thửa 924 tại vị trí Ib diện tích
557,9m
2
, loại đất ONT CLN. Phần đất tại một phần thửa 768 vị trí VII diện
tích 1.334,2m
2
, loại đất LUA và số tiền 30.269.035 đồng (ba mươi triệu hai trăm
sáu mươi chín nghìn không trăm ba mươi lăm đồng). (Kèm theo mảnh trích đo
địa chính ngày số 25, 26/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản
đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
- Phân chia cho Nguyễn Thị N1 ông Nguyễn Minh H được sở hữu
phần đất tại một phần thửa 768 vị trí II diện tích 2.600m
2
, loại đất LUA. (Kèm
theo mảnh trích đo địa chính ngày số 26/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ
phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
- Phân chia cho ông Nguyễn Văn Đ được sở hữu các phần đất bao gồm:
Phần đất tại một phần thửa 926 tại vị trí IIIa diện tích 390,7m
2
, loại đất CLN, tại
một phần thửa 924 vị trí IIIb diện tích 22,1m
2
, loại đất ONT CLN. Phần đất tại
một phần thửa 768 vị trí III diện tích 1.300m
2
, loại đất LUA. (Kèm theo mảnh
trích đo địa chính ngày số 25, 26/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô
đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam)
- Công nhận cho ông Nguyễn Văn Đ được shữu phần đất tại một phần
thửa 768 v trí IV diện tích 1.300m
2
, vị t V diện tích 1.300m
2
, vị trí VI diện tích
1.300m
2
. Tổng diện tích 3.900m
2
. (Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số
26/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng
CHK Việt Nam).
2.2. Ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền
80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
2.3. Công nhận quyền sở hữu chung đối với phần đất nền mộ tại một phần
thửa 924 tại vị trí IIb diện tích 99,1m
2
loại đất ONT CLN một phần thửa
926 tại vị trí IIa diện tích 58,6m
2
loại đất CLN cho cụ Nguyễn Thị N và các hàng
thừa kế của cụ Nguyễn Văn T3. (Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số
25/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng
CHK Việt Nam).
3. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T về yêu cầu
công nhận hợp đồng tặng cho quyền S dụng đất ngày 29/6/1999 giữa cụ Nguyễn
Văn T3, cụ Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn T, Thị U. Chấp nhận yêu
15
cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề của ông Nguyễn Văn T, Thị U đối
với N1 đơn cụ Nguyễn Thị N.
Công nhận quyền S dụng đất cho ông Nguyễn Văn T Thị U đối
với phần đất tại một phần thửa 924 tại vị trí IVa diện tích 91,1m
2
loại đất ONT và
CLN một phần thửa 926 tại vị trí IVb diện tích 77m
2
loại đất CLN. Buộc cụ
Nguyễn Thị N có nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Văn T Thị U phần
đất được công nhận. (Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số 25/CHK ngày
11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt
Nam).
Công nhận quyền S dụng đất cho ông Nguyễn Văn T Thị U đối
với phần đất lối đi tại một phần thửa 924 vị trí V diện tích 34,1m
2
loại đất ONT
CLN. Buộc cụ Nguyễn Thị N có nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Văn T
Thị U phần đất được công nhận. (Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày
số 25/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản đồ thiết kế xây
dựng CHK Việt Nam).
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị U có nghĩa vụ hoàn trả giá trị phần
đất lối đi cho cụ Nguyễn Thị N số tiền 30.269.035 đồng (ba mươi triệu hai trăm
sáu mươi chín nghìn không trăm ba mươi lăm đồng).
4. Cụ Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn
Văn Đ, ông Nguyễn Văn T và Thị U được quyền liên hệ quan chuyên
môn để thực H thủ tục đăng ký, điều chỉnh biến động quyền S dụng đất các phần
đất được sở hữu và được công nhận theo quy định pháp luật.
5. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu thực
H nghĩa vụ của cụ Nguyễn Văn T3 chết để lại đối với cụ Nguyễn Thị N, Nguyễn
Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn N2,
Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C các hàng thừa kế của
cụ T3.
Buộc cụ Nguyễn Thị N nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Văn S, ông
Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C Nguyễn Thị H
cùng trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 35.000.000 đồng (ba mươi
lăm triệu đồng) trong phạm vi di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T3 chết để lại
những người thừa kế được hưởng. Như vậy, mi người nghĩa vụ trả cho
ông Nguyễn Văn Đ số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
6. Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn
Thị H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
16
Nguyễn Thị H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 40.000.000
đồng (bốn mươi triệu đồng).
7. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn C về yêu cầu chia di sản thừa kế. Dành quyền khởi kiện đối với
ông Nguyễn Văn C để yêu cầu công nhận phần đất tại thửa 920 diện tích 2.942m
2
T3 vụ kiện khác theo quy định pháp luật, nếu phát sinh tranh chấp.
8. Đình chỉ yêu cầu độc lập của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam đối với bà Nguyễn Thị N3 về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Dành
quyền khởi kiện cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
đối với bà Nguyễn Thị N3 về tranh chấp hợp đồng tín dụng T3 vụ kiện khác theo
quy định pháp luật, nếu phát sinh tranh chấp.
9. Dành quyền khởi kiện cho ông Phạm Thanh M đối với ông Nguyễn Văn
Đ về hợp đồng cầm cố đất T3 vụ kiện khác theo quy định pháp luật, nếu phát sinh
tranh chấp.
10. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
10.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Cụ Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H người cao
tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Buộc ông Nguyễn Văn N2 nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng
với số tiền 4.102.500 đồng (bốn triệu một trăm lhai nghìn năm trăm đồng).
Ông N2 được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo lai thu số 0009884 phiếu lập ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3
án phí. Số tiền án pcòn lại ông N2 còn phải nộp 3.802.500 đồng (ba triệu tám
trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ nộp án phí dân sựthẩm tổng cộng
với số tiền 4.102.500 đồng (bốn triệu một trăm lhai nghìn năm trăm đồng).
Ông S được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo lai thu số 0009885 phiếu lập ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3
án phí. Số tiền án phí còn lại ông S còn phải nộp là 3.802.500 đồng (ba triệu tám
trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn T nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng
với số tiền là 1.813.451 đồng (một triệu tám trăm mười ba nghìn năm trăm đồng).
Ông T được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo lai thu số 0010391 phiếu lập ngày 29/11/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3
17
án phí. Như vậy, ông Nguyễn Văn T còn phải nộp án phí với số tiền là 1.513.451
đồng (một triệu năm trăm mười ba nghìn bốn trăm năm mươi mốt đồng).
Buộc Thị U nghĩa vụ nộp án phí dân sthẩm với số tiền
1.513.451 đồng (một triệu năm trăm mười ba nghìn bốn trăm năm mươi mốt
đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn C nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm với số tiền
là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông T được khấu trừ tạm ứng án phí với
số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009883 phiếu lập
ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay
Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí.
Buộc Nguyễn Thị H nghĩa vụ nộp án phí dân sự thẩm tổng cộng
6.102.500 đồng (sáu triệu một trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng). H được khấu
trừ tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu
số 0010530 phiếu lập ngày 11/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L,
Hậu Giang (Nay Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí. Số tiền
án phí còn lại bà H còn phải nộp án phí là 5.802.500 đồng (năm triệu tám trăm lẻ
hai nghìn năm trăm đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ nộp án phí dân ssơ thẩm tổng cộng
10.175.265 đồng (mười triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm sáu mươi
lăm đồng). Ông Đ được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009882 phiếu lập ngày 01/12/2023 số tiền
3.375.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của Chi cục thi hành
án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ)
T3 án phí. Số tiền án phí còn lại ông Đ còn phải nộp án phí 6.500.265 đồng (sáu
triệu năm trăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng).
Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam được nhận lại
4.428.208 đồng (bốn triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng)
theo lai thu số 0010571 phiếu lập ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí.
10.2. Về chi phí tố tụng khác:
Buộc Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Văn N2, ông
Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H mỗi
người nghĩa vụ nộp chi phí thẩm định, định giá tài sản, trích lục hồ với số
tiền là 4.115.000 đồng (bốn triệu một trăm mười lăm nghìn đồng) để hoàn trả lại
cho cụ Nguyễn Thị N.
Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của các bên theo luật định.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 04/10/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn T đề
nghị xem xét Sa bản án sơ thẩm.
18
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ N1 kháng cáo. Ông Đ không yêu cầu
ông T hoàn trả khoản tiền 5.000.000 đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên, các phần
khác giữ N1. Các bên không thoả thuận được việc giải quyết tranh chấp.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân T3 phố Cần Thơ tại phiên
tòa: Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, sau khi phân tích các tình tiết của
vụ án, các quy định pháp luật liên quan, đại diện Viện kiểm sát cho rằng bản án
sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án, áp dụng đầy đủ các quy định pháp luật, đảm
bảo quyền và lợi ích của các đương sự. Bị đơn kháng cáo nhưng không có chứng
cứ mới nên đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ N1 bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ đã thẩm tra cho thấy, các bên tranh
chấp thừa kế, thực H nghĩa vụ của người chết để lại, tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền S dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền S dụng đất, hợp đồng tín
dụng, vay tài sản và tranh chấp lối đi qua bất động sản liền kề. Toà án nhân dân
khu vực 12 đã thụ đúng thẩm quyền xác định đúng quan hệ tranh chấp
theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Theo đơn kháng cáo đề ngày 04/10/2025 của ông Nguyễn Văn T, ông
kháng cáo một phần Bản án dân sự thẩm số 09/2025/DS-ST, yêu cầu Tòa án
cấp phúc thẩm Sa bản án thẩm theo hướng: mở rộng diện tích nền mộ của cụ
T3; không buộc ông phải thanh toán khoản tiền 5.000.000 đồng cho ông Đ do ông
cho rằng mình không nhận di sản thừa kế; không đồng ý thanh toán giá trị phần
đất lối đi cho N1 đơn là cụ N cho rằng phần đất này do cha mẹ cho ông đã
S dụng ổn định trong thời gian dài, đồng thời yêu cầu được nhận một kỷ phần
trong khối di sản do cụ T3 để lại. Do đó, phạm vi xét xphúc thẩm được xác định
đối với các nội dung ông T kháng cáo, gồm: diện tích nền mộ của cụ T3, nghĩa
vụ thanh toán khoản n5.000.000 đồng, nghĩa vụ thanh toán giá trị phần đất lối
đi và yêu cầu được chia phần di sản thừa kế; các phần khác của bản án thẩm
không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Theo hồ sơ vụ án, cụ T3 qua đời không để lại di chúc. Do đó, di sản do
cụ để lại được Tòa án áp dụng phân chia thừa kế theo pháp luật. Căn cứ theo
khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự 2015, việc trích một phần di sản để dùng vào
việc thờ cúng nếu người lập di chúc có để lại chỉ định rõ ràng. Trong trường hợp
này, cụ T3 mất không di chúc. Việc trích lập di sản làm đất nền mộ hay
không diện tích là bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quyền tự định đoạt và sự
tự nguyện thỏa thuận của tất cả những người thừa kế. Bản án sơ thẩm đã 157,7m
2
(gồm 99,1m
2
tại thửa 924 và 58,6m
2
tại thửa 926) làm phần đất nền mộ thuộc sở
19
hữu chung của gia đình. Các người thừa kế không ai kháng cáo, coi như thống
nhất việc để lại tài sản này làm nên mộ để thờ cúng chung. Ông T kháng cáo yêu
cầu tăng diện tích nền mộ cũng coi như thống nhất việc để lại nền mộ trên nhưng
yêu cầu tăng diện tích nền mộ. Việc yêu cầu tăng diện tích nền mộ không được
sự đồng ý của các người thừa kế khác nên không được chấp nhận.
[4] Mặt khác, phần diện tích 157,7m² được trích ra làm đất nền mộ không
bị ràng buộc bởi hạn mức diện tích tối thiểu khi tách thửa theo quy định tại điểm
đ khoản 2 Điều 1 Quyết định số 44/2025/QĐ-UBND, quy định vđiều kiện
diện tích tối thiểu tách thửa sẽ không áp dụng đối với trường hợp "Tách thửa đất
để phân chia thừa kế". vậy, việc trích diện trích 157,7m² để làm đất nền mộ
trong quá trình phân chia di sản thừa kế phù hợp với quy định của pháp luật.
Do đó, kháng cáo của ông T vviệc yêu cầu mở rộng diện tích nền mộ do diện
tích không đủ diện tích tách thửa là không cơ sở chấp nhận.
[5] Đối với kháng cáo về việc không đồng ý hoàn trả cho ông Đ số tiền
5.000.000 đồng, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: căn cứ theo khoản 1
khoản 3 Điều 615 Bộ luật Dân sự năm 2015, những người hưởng thừa kế chỉ
trách nhiệm thực H nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng trong phạm
vi phần di sản mà mình đã thực tế nhận được. Trong quá trình giải quyết ở Toà án
cấp sơ thẩm, ông T cho rằng mình đã được chia đất trước khi ba của ông chết nên
ông không nhận thừa kế. vậy, ông T không nghĩa v thanh toán nghĩa vụ do
người chết để lại. Do đó, ông T kháng cáo không chấp nhận việc hoàn trả khoản
tiền này căn cứ. Hơn nữa, tại phiên toà phúc thẩm, ông Đ cũng đồng ý không
nhận khoản tiền này từ ông T. Kháng cáo của ông T về vấn đề này được chấp
nhận.
[6] Xét kháng cáo của ông T về việc không đồng ý hoàn trả giá trị phần
diện tích lối đi, Hội đồng xét xphúc thẩm thấy rằng: Giấy tay tặng cho năm 1999
chỉ thể H việc cha mẹ cấp cho vợ cH ông T phần đất nền nhà. Nội dung giấy tặng
cho, ông T3 viết: “Nay tôi cùng vợ tôi viết giấy tay này để tặng cho con số đất
nói trên được toàn quyền S dụng, sau này sinh sống được quyền sở hữu số
diện tích đó, được quyền thuận tiện đi lên lộ đường ra không ai được
quyền ngăn cản”. Theo nội dung giấy tặng cho này tông T3, N cho ông T
phần đất để làm nhà, còn diện tích lối đi thì cho phép ông T đi lại, không ai được
quyền ngăn cản, tức đi nhờ, chứ không tặng cho luôn phần đất làm lối đi. Nay,
N1 đơn được án thẩm giao luôn phần đất này cho ông T thì ông Thường
nghĩa vụ hoàn lại giá trị phần đất làm lối đi cho bà N như bản án sơ thẩm tuyên
phù hợp quy định tại Điều 245 Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, việc Tòa án cấp
sơ thẩm xác định phần đất nền của ông T bị vây bọc và chấp nhận mở lối đi diện
tích 34,1m² thuộc thửa 924 đbảo đảm quyền đi lại, đồng thời buộc ông T phải
hoàn trả giá trị quyền S dụng đất tương ứng với diện tích này là 30.269.035 đồng
cho chủ S dụng đất là cụ N là phù hợp với chứng cứ hồ sơ và quy định pháp luật.
20
Từ đó có cơ sở kết luận rằng yêu cầu kháng cáo của ông T về việc không đồng ý
trả tiền đền bù giá trị quyền S dụng đất đối với phần lối đi là không có căn cứ để
chấp nhận.
[7] Xét yêu cầu nhận di sản của ông T tại giai đoạn phúc thẩm, thấy rằng:
Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, b đơn là ông Nguyễn Văn T đã
trực tiếp xác nhận trước Tòa án sơ thẩm rằng ông không yêu cầu phân chia di sản
thừa kế do cụ T3 để lại với lý do bản thân đã được cha mẹ cho phần đất nền nhà
ven sông đã thực H xong thủ tục tách quyền S dụng đất. Trên sở sự tự
nguyện từ bỏ yêu cầu này, Tòa án cấp sơ thẩm đã ghi nhận sự thỏa thuận của các
đương sự còn lại không trích chia kỷ phần di sản cho ông T. Tuy nhiên, đến
giai đoạn phúc thẩm, tại Đơn kháng cáo đngày 04/10/2025, ông T lại thay đổi ý
kiến đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho ông được nhận một kỷ phần trong phạm
vi di sản của cụ T3 để lại. Xét về bản chất pháp lý, yêu cầu được chia di sản này
thực chất là một yêu cầu phản tố. Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố
tụng Dân sự năm 2015, yêu cầu phản tố của bị đơn phải được đưa ra trước thời
điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa
giải tại cấp thẩm. Mặt khác, theo N1 tắc về phạm vi xét xử phúc thẩm được
quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm
chỉ xem xét lại những phần của bản án, quyết định sơ thẩm đã bị kháng cáo hoặc
kháng nghị, không giải quyết một yêu cầu hoàn toàn mới chưa từng được Tòa án
cấp thẩm xem xét nhằm bảo đảm N1 tắc xét xử hai cấp. Do đó, việc ông T thay
đổi ý kiến đưa ra yêu cầu mới đòi nhận kỷ phần di sản tại giai đoạn xét xử phúc
thẩm là vượt quá phạm vi giải quyết của cấp phúc thẩm và không được pháp luật
tố tụng chấp nhận.
[8] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy bản án
thẩm đã giải quyết đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, áp dụng đúng các quy
định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Riêng nghĩa vụ hoàn trả 5.000.000
đồng cho ông Đ, ông T kháng cáo là có căn cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật
tố tụng dân sự, Toà án phúc thẩm Sa bản án nội dung này. Ông T không phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 ca Bộ luật tố tụng dân sự.
Sa bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N1 đơn:
- Xác định phần đất tại một phần thửa 768 (vị trí II, III, IV, V, VI, VII) tổng
diện tích 9,134,2m
2
; Phần đất tại thửa 924 (vị trí Ib diện tích 557,9m
2
, vị trí IIb
21
diện tích 99,1m
2
, IIIb diện tích 22,1m
2
) diện tích 679,1m
2
thuộc giấy chứng nhận
quyền S dụng đất số 000204 do Uỷ ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995
cho cụ Nguyễn Văn T3, đất tọa lạc tại ấp 7, Phiên, huyện L, tỉnh Hậu Giang
(nay là Ấp 7, xã X, T3 phố C); Phần đất tại thửa 926 (vị trí Ia diện tích 190,3m
2
,
vị trí Ic diện tích 249,7m
2
, vị trí IIa diện tích 58,6m
2
, vtrí IIIa diện tích 390,7m
2
)
tổng diện tích 889,3m
2
thuộc giấy chứng nhận quyền S dụng đất s 000199 do Uỷ
ban nhân dân huyện L cấp ngày 22/8/1995 cho bà Nguyễn Thị N3, đất tọa lạc tại
ấp 7, xã Xà Phiên, huyện L, tỉnh Hậu Giang (nay là Ấp 7, xã X, T3 phố C) và số
tiền 30.269.035 đồng (ba mươi triệu hai trăm sáu mươi chín nghìn không trăm ba
mươi lăm đồng) do vợ cH ông T và bà U trả giá trị lối đi là di sản thừa kế của cụ
T3 chết để lại.
- Phân chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn T3 như sau:
+ Phân chia cho cụ Nguyễn Thị N được S dụng các phần đất bao gồm: Phần
đất tại một phần thửa 926 tại vị trí Ia diện tích 190,3m
2
, tại vị trí Ic diện tích
249,7m
2
, loại đất CLN; Phần đất tại một phần thửa 924 tại vị trí Ib diện tích
557,9m
2
, loại đất ONT CLN; Phần đất tại một phần thửa 768 vị tVII diện
tích 1.334,2m
2
, loại đất LUA và số tiền 30.269.035 đồng.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày s25, 26/CHK ngày 11/3/2025
của Công ty c phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
+ Phân chia cho Nguyễn Thị N1 ông Nguyễn Minh H được S dụng
phần đất tại một phần thửa 768 vị trí II diện tích 2.600m
2
, loại đất LUA.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số 26/CHK ngày 11/3/2025 của
Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
+ Phân chia cho ông Nguyễn Văn Đ được S dụng các phần đất bao gồm:
Phần đất tại một phần thửa 926 tại vị tIIIa diện tích 390,7m
2
, loại đất CLN; Phần
đất tại một phần thửa 924 vị trí IIIb diện tích 22,1m
2
, loại đất ONT và CLN; Phần
đất tại một phần thửa 768 vị trí III diện tích 1.300m
2
, loại đất LUA.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày s25, 26/CHK ngày 11/3/2025
của Công ty c phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam)
+ Công nhận cho ông Nguyễn Văn Đ được S dụng phần đất tại một phần
thửa 768 v trí IV diện tích 1.300m
2
, vị t V diện tích 1.300m
2
, vị trí VI diện tích
1.300m
2
. Tổng diện tích 3.900m
2
.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số 26/CHK ngày 11/3/2025 của
Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
- Ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ trả lại cho Nguyễn Thị H số tiền
80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng).
22
- Công nhận quyền S dụng chung đối với phần đất nền mộ tại một phần
thửa 924 tại vị trí IIb diện tích 99,1m
2
loại đất ONT CLN một phần thửa
926 tại vị trí IIa diện tích 58,6m
2
loại đất CLN cho cụ Nguyễn Thị N và các hàng
thừa kế của cNguyễn Văn T3.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số 25/CHK ngày 11/3/2025 của
Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T về yêu cầu
công nhận hợp đồng tặng cho quyền S dụng đất ngày 29/6/1999 giữa cụ Nguyễn
Văn T3, cụ Nguyễn Thị N ông Nguyễn Văn T, Thị U. Chấp nhận yêu
cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề của ông Nguyễn Văn T, Thị U đối
với N1 đơn cụ Nguyễn Thị N:
- Công nhận quyền S dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Thị U đối
với phần đất tại một phần thửa 924 tại vị trí IVa diện tích 91,1m
2
loại đất ONT và
CLN và một phần thửa 926 tại vị trí IVb diện tích 77m
2
loại đất CLN.
Buộc cụ Nguyễn Thị N nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Văn T
Lê Thị U phần đất được công nhận.
(Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày số 25/CHK ngày 11/3/2025 của
Công ty cổ phần đô đạc bản đồ và thiết kế xây dựng CHK Việt Nam).
- Công nhận quyền S dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà Thị U đối
với phần đất lối đi tại một phần thửa 924 vị trí V diện tích 34,1m
2
loại đất ONT
CLN. Buộc cụ Nguyễn Thị N có nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Văn T
Thị U phần đất được công nhận. (Kèm theo mảnh trích đo địa chính ngày
số 25/CHK ngày 11/3/2025 của Công ty cổ phần đô đạc bản đồ thiết kế xây
dựng CHK Việt Nam).
Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị U có nghĩa vụ hoàn trả giá trị phần
đất lối đi cho cụ Nguyễn Thị N số tiền 30.269.035 đồng (ba mươi triệu hai trăm
sáu mươi chín nghìn không trăm ba mươi lăm đồng).
3. Cụ Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn
Văn Đ, ông Nguyễn Văn T và Thị U được quyền liên hệ quan chuyên
môn để thực H thủ tục đăng ký, điều chỉnh biến động quyền S dụng đất các phần
đất được quyền S dụng và được công nhận theo quy định pháp luật.
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu thực
H nghĩa vụ của cụ Nguyễn Văn T3 chết để lại đối với cụ Nguyễn Thị N, Nguyễn
Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn N2,
Nguyễn Thị H, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn C các hàng thừa kế của
cụ T3.
23
Buộc cụ Nguyễn Thị N nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc Nguyễn Thị N1 nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc ông Nguyễn Minh H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn N2 nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn S nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn C nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
Buộc Nguyễn Thị H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền
50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
5. Ghi nhận stự nguyện thoả thuận của ông Nguyễn Văn ĐNguyễn
Thị H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản:
Nguyễn Thị H nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn Đ số tiền 40.000.000
đồng (bốn mươi triệu đồng).
6. Đình chỉ yêu cầu độc lập của người quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Văn C về yêu cầu chia di sản thừa kế. Dành quyền khởi kiện đối với
ông Nguyễn Văn C để yêu cầu công nhận phần đất tại thửa 920 diện tích 2.942m
2
T3 vụ kiện khác theo quy định pháp luật, nếu phát sinh tranh chấp.
7. Đình chỉ yêu cầu độc lập ca Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn Việt Nam đối với bà Nguyễn Thị N3 về tranh chấp hợp đồng tín dụng. Dành
quyền khởi kiện cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam
đối với bà Nguyễn Thị N3 về tranh chấp hợp đồng tín dụng T3 vụ kiện khác theo
quy định pháp luật, nếu phát sinh tranh chấp.
8. Dành quyền khởi kiện cho ông Phạm Thanh M đối với ông Nguyễn Văn
Đ về hợp đồng cầm cố đất T3 vụ kiện khác theo quy định pháp luật, nếu phát sinh
tranh chấp.
9. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác:
- Cụ Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H là người cao
tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Buộc ông Nguyễn Văn N2 nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm tổng
cộng với số tiền 4.102.500 đồng (bốn triệu một trăm lẻ hai nghìn năm trăm
đồng). Ông N2 được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm
24
nghìn đồng) theo lai thu số 0009884 phiếu lập ngày 01/12/2023 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần
Thơ) T3 án phí. Số tiền án phí còn lại ông N2 còn phải nộp là 3.802.500 đồng (ba
triệu tám trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn S nghĩa vụ nộp án phí dân sự thẩm tổng cộng
với số tiền 4.102.500 đồng (bốn triệu một trăm lhai nghìn năm trăm đồng).
Ông S được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) theo lai thu số 0009885 phiếu lập ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3
án phí. Số tiền án phí còn lại ông S còn phải nộp là 3.802.500 đồng (ba triệu tám
trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn T nghĩa vụ nộp án phí dân sthẩm tổng cộng
với số tiền là 1.513.452 đồng. Ông T được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền là
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0010391 phiếu lập ngày
29/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay Phòng thi
hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí. Như vậy, ông Nguyễn Văn T n phải
nộp án phí với số tiền là 1.213.452 đồng (một triệu năm trăm mười ba nghìn bốn
trăm năm mươi hai đồng).
- Buộc Thị U nghĩa vụ nộp án phí dân sự thẩm với số tiền
1.513.451 đồng (một triệu năm trăm mười ba nghìn bốn trăm năm mươi mốt
đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn C nghĩa vụ nộp án phí dân sự thẩm với số
tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ông T được khấu trừ tạm ứng án phí
với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu số 0009883 phiếu
lập ngày 01/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là
Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí.
- Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm tổng cộng
6.102.500 đồng (sáu triệu một trăm lẻ hai nghìn năm trăm đồng). H được khấu
trừ tạm ứng án phí với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo lai thu
số 0010530 phiếu lập ngày 11/03/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện L,
Hậu Giang (Nay Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí. Số tiền
án phí còn lại bà H còn phải nộp án phí là 5.802.500 đồng (năm triệu tám trăm lẻ
hai nghìn năm trăm đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn Đ nghĩa vụ nộp án phí dân sthẩm tổng
cộng 10.175.265 đồng (mười triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn hai trăm sáu
mươi lăm đồng). Ông Đ được khấu trừ tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng
(ba trăm nghìn đồng) theo lai thu s0009882 phiếu lập ngày 01/12/2023 số
tiền 3.375.000 đồng (ba triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) của Chi cục thi
hành án dân sự huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần
25
Thơ) T3 án phí. Số tiền án phí còn lại ông Đ còn phải nộp án phí là 6.500.265
đồng (sáu triệu năm trăm nghìn hai trăm sáu mươi lăm đồng).
- Ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn Việt Nam được nhận lại
4.428.208 đồng (bốn triệu bốn trăm hai mươi tám nghìn hai trăm lẻ tám đồng)
theo lai thu số 0010571 phiếu lập ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự
huyện L, Hậu Giang (Nay là Phòng thi hành án khu vực 12 - Cần Thơ) T3 án phí.
- Buộc bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Minh H, ông Nguyễn Văn N2, ông
Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H mỗi
người nghĩa vụ nộp chi phí thẩm định, định giá tài sản, trích lục hồ với số
tiền là 4.115.000 đồng (bốn triệu một trăm mười lăm nghìn đồng) để hoàn trả lại
cho cụ Nguyễn Thị N.
10. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T được nhận lại 300.000
đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0003948 ngày 01/10/2025 của Thi hành
án dân sự T3 phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực H theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND.TPCT;
- TAND khu vực 12
- Phòng THADS khu vực 12
- THADS T3 phố Cần Thơ
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Chế Linh
Tải về
Bản án số 145/2026/DS-PT Bản án số 145/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 145/2026/DS-PT Bản án số 145/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất