Bản án số 177/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 177/2025/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 177/2025/DS-PT ngày 21/03/2025 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bình Dương
Số hiệu: 177/2025/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/03/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ cho rằng khoản nợ gốc 1.600.000.000 đồng theo Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ngày 18/12/2015 đang khởi kiện bị đơn tại vụ án này là khoản nợ độc lập của ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L và các con của ông N, bà L là ông Lê Minh A, ông Lê Thanh P, bà Trần Ngọc D và bà Bùi Hiếu T. có cơ sở khẳng định nội dung Giấy vay tiền ngày 15/11/2017, các bên đã thống nhất nợ từ trước 15/11/2017 đã được cộng dồn để chốt số tiền ông N, bà L còn nợ ông Đ là 6.000.000.000 đồng và tại Biên nhận ngày 21/5/2018, ông Đ xác định các khoản nợ trước ngày 21/5/2018 không còn giá trị. Tuy nội dung này không thể hiện rõ khoản nợ ngày 18/12/2015 nhưng căn cứ vào nội dung này có đủ cơ sở khẳng định tại thời điểm các bên xác lập số nợ còn lại 6.000.000.000 đồng vào ngày 21/5/2018 thì ông N, bà L không còn nợ ông Đ khoản tiền nào.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 177/2025/DS-PT
Ngày: 21-03-2025
V/v tranh chấp hợp đồng
vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Dũng;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tài;
Bà Trần Thị Thanh Trúc.
- Thư phiên tòa: Thị Hoa - Thư Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Ngọc Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 500/2024/TLPT-DS
ngày 29/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án
nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02
năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn Đ, sinh năm 1959; địa chỉ thường trú: số A,
đường L, khu phố D, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; địa ch
liên hệ: số A, đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- Bị đơn:
1. Ông Lê Văn N, sinh năm 1960;
2. Bà Phạm Ngọc L, sinh năm 1957;
3. Ông Lê Minh A, sinh năm 1981;
4. Ông Lê Thanh P, sinh năm 1983;
5. Bà Trần Ngọc D, sinh năm 1984;
6. Bà Bùi Hiếu T, sinh năm 1993;
2
Cùng thường trú: số E, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình
Dương; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 01 tháng 4 năm 2024, lời khai trong quá trình
tố tụng, nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ trình bày.
Vào ngày 18/12/2015, tại nhà ông Đoàn Văn Đ, địa chỉ: số A, đường T,
phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh ông Đoàn Văn Đ với ông
Văn N, ông Minh A, ông Thanh P, Phạm Ngọc L, Trần Ngọc D
Bùi Hiếu T kết Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ngày 18/12/2015 với
nội dung ông Đoàn Văn Đ cho ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L, ông Lê Minh A,
ông Thanh P, Trần Ngọc D Bùi Hiếu T vay số tiền 1.600.000.000
đồng, lãi vay 2%/tháng, thời hạn vay từ ngày 18/12/2015 đến ngày 18/12/2020
nhưng quá một tháng không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị thực
hiện nữa, lãi trả hàng tháng, vốn trả một lần khi đáo hạn. Các bên đều tự ghi
rõ họ tên vào Giấy vay tiền. Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ngày 18/12/2015
này do ông Đ đánh máy. Sau khi các bên vào Giấy vay tiền ngày 18/12/2015
thì ông Đ đã giao tiền mặt cho ông N, bà L các con gồm T, ông A, ông P,
D tại nhà ông Đ. Ông Đ đã giao đủ tiền cho bị đơn còn mệnh giá tiền nào thì
do thời gian đã lâu nên ông Đ không nhớ. Bị đơn cho rằng khoản vay trên đã được
giải quyết bằng Bản án thẩm số 20/2022/DS-ST ngày 30/3/2022 của Tòa án
nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương Bản án phúc thẩm số 184/2022/DS-
PT ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương thì ông Đ không đồng
ý vì: Tại 02 bản án này số tiền vay đến 28/10/2016 đã tuyên 7.150.000.000
đồng không bao gồm khoản vay 1.600.000.000 đồng, không có việc vay tiền của
ông A, ông P, D, T đối với ông Đ. Ngoài ra, cụm từ các khoản nợ từ
15/11/2017 về trước không còn giá trị và đã cộng dồndo ông Đ ghi xác nhận nợ
và ký với ông N, bà L (có tài liệu là các Giấy vay tiền trước 15/11/2017) thể hiện
không khoản vay 1.600.000.000 đồng. Việc xác nhận chỉ hiệu lực đối với
các giấy nhận nợ giữa ông Đ với L ông N, không có giá trị đối với cùng lúc
đối với bà L, ông N, ông A, P, bà D và bà T.
Bị đơn cho rằng ông Đ sử dụng chứng cứ giả mạo thì ông Đ không đồng ý
vì: Chứng cứ là văn bản bản chính ông Đ đang khởi kiện bị đơn và giao nộp cho
Tòa án hợp pháp chịu trách nhiệm trước pháp luật về chứng cứ đó. Bị đơn
cho rằng ông Đ không có quyền khởi kiện thì ông Đ không đồng ý vì: Tranh chấp
vay tài sản bị đơn không trả nợ là yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu nên không tính
thời hiệu khởi kiện như viện dẫn của bị đơn. Hơn nữa quy định pháp luật ghi rõ:
Người có nghĩa vụ mà yêu cầu áp dụng thời hiệu nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa
vụ thì không được chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
và yêu cầu Tòa án giải quyết:
3
1. Buộc ông Lê Văn N, ông Lê Minh A, ông Thanh P, bà Phạm Ngọc L,
Trần Ngọc D, Bùi Hiếu T phải trả cho ông Đoàn Văn Đ số tiền vay gốc
1.600.000.000 đồng.
2. Buộc ông Lê Văn N, ông Lê Minh A, ông Thanh P, bà Phạm Ngọc L,
Trần Ngọc D, bà Bùi Hiếu T phải trả tiền lãi với lãi suất 20%/năm từ ngày
18/12/2015 đến ngày 18/8/2024 là 105 tháng với số tiền 2.800.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền tạm tính là 4.400.000.000 đồng.
Bị đơn ông Lê Văn N và bà Phạm Ngọc L thống nhất trình bày:
Ông N L không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
ông Đoàn Văn Đ giữa ông N, bà L các con không vay tiền của ông Đ theo
Giấy vay tiền ngày 18/12/2015 hoặc bất kỳ khoản vay nào, bởi các luận cứ sau:
Thứ nhất: vụ việc đã được giải quyết bằng một bản án hiệu lực pháp luật.
Do mối quan hệ quen biết, trước đây Phạm Ngọc L ông Văn N
mượn ông Đoàn Văn Đ số tiền 8.000.000.000 đồng, ông N L đã trả gốc
4.000.000.000 đồng, khi vay tiền ông N L thế chấp một số các giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Do không khả năng chi trả nên ông Đoàn Văn Đ đã
khởi kiện ông N L về việc tranh chấp hợp đồng vay. Tòa án đã giải quyết
bằng Bản án thẩm số 20/2022/DS-ST ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân dân
thành phố D, tỉnh Bình Dương theo ớng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn buộc ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L trách nhiệm trả nợ cho ông
Đoàn Văn Đ số tiền vay gốc 4.000.000.000 đồng tiền lãi suất 1.631.000.000
đồng. Tổng cộng là 5.631.000.000 đồng, đương sự trong vụ án có kháng cáo, Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Bản án dân sự phúc thẩm số 184/2022/DS-
PT ngày 19/8/2022 theo hướng giữ nguyên bản án thẩm. Theo các tài liệu,
chứng cứ trong hồ trong vụ kiện trước, nguyên đơn cũng đã thừa nhận ngoài
khoản vay theo Giấy vay tiền ngày 15/11/2017 thì không có khoản vay nào khác.
Như vậy, vụ việc tranh chấp hợp đồng vay đã được giải quyết bằng một bản án có
hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào Biên nhận 28/10/2016 do ông Đ người viết thể hiện: “Trả
tiền trong tổng số tiền đã nhận trước ngày 25/10/2016...còn n7.150.000.000
đồng”. Tại Biên nhận ngày 21/10/2019 thể hiện: “tính đến ngày 21/10/2019 tổng
số nợ còn lại của ông Lê Văn N còn 4.000.000.000 đồng. Nội dung trên thể hiện,
ông Đoàn Văn Đ chỉ cho ông N L vay số tiền 8.000.000.000 đồng và ông N
L đã trả cho ông Đ 4.000.000.000 đồng. Nội dung này đã thể trong đoạn
[2.1] của Bản án dân sự phúc thẩm số 184/2022/DS- PT ngày 19/8/2022 của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương: “Quá trình vay tiền, ngày 21/5/2018, ông N, L
đã trả cho ông Đ được số tiền gốc 2.000.000.000 đồng ngày 21/10/2019, ông
N, bà L trả tiếp cho ông Đ được số tiền gốc 2.000.000.000 đồng. Việc trả số tiền
gốc hai bên đều thừa nhận”. Đây các tình tiết sự kiện không cần phải chứng
minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
các lẽ trên, đề nghị Tòa án phải căn cứ điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 để đình chỉ giải quyết vụ án.
4
Thứ hai: căn cứ để chứng minh nguyên đơn sử dụng chứng cứ giả tạo.
Căn cứ vào Giấy vay tiền ngày 18/12/2015 nguyên đơn cung cấp thể hiện nhiều
điểm không phù hợp như sau:
- Trên Giấy vay tiền bổ sung thêm tên ông Lê Thanh P, bà Trần Ngọc D. Ở
đây nếu văn bản thoả thuận vay tiền được chuẩn bị sẵn thì tại sao có thêm tên của
Lê Thanh P, Trần Ngọc D. Vậy ai là người viết vào tờ giấy vay tiền? Đây là điểm
bất thường đầu tiên.
- Trên cùng văn bản xuất hiện hai màu mực, màu mực bên A ông Đoàn Văn
Đ ký lại tương đồng với phần được thêm tên ông Lê Thanh P, bà Trần Ngọc D.
- Sự vô về mặt thời gian khi Giấy vay tiền năm 2015 nhưng mãi đến năm
2024, tức là sau thời điểm ông Đ khởi kiện vụ án trước vào năm 2020.
Trong vụ án trước đây, ông Đoàn Văn Đ cũng đã khởi kiện ông Lê Minh A
với các chứng cứ khống và Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương cũng đã nhận định
tại Bản án dân sự phúc thẩm số 184/2022/DS-PT ngày 19/8/2022: Từ những
phân tích nêu trên cho thấy Hợp đồng đặt cọc ngày 20/01/2018 là không có thật,
không có việc giao nhận bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày
20/01/2018 ông Đ không chứng minh đã giao tiền cọc 700.000.000 đồng cho
ông A nên yêu cầu trả lại tiền cọc và phạt cọc của ông Đ không có căn cứ chấp
nhận”. Nvậy, Toà án đã đánh giá đúng bản chất của sự việc ông Đ đã lợi
dụng quá trình vay tiền của ông N L trong vụ án trước bằng việc ký các giấy
tiền liên quan nên tồn tại các chữ ký của bà Bùi Hiếu T, Lê Minh A, Lê Thanh P,
Trần Ngọc D. Thực tế, phía ông N L chỉ vay 4.000.000.000 đồng đã được
giải quyết bằng Bản án dân sự phúc thẩm số 184/2022/DS-PT ngày 19/8/2022 của
Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Còn Bùi Hiếu T, Minh A, Thanh P,
Trần Ngọc D không quan hệ vay mượn với ông Đ với bất kỳ khoản vay nào
khác và ông N, bà L chỉ vay ông Đ số tiền đã được giải quyết bằng bản án dân sự
có hiệu lực trường đây. Ông N L không yêu cầu Tòa án giám định chữ ký, chữ
viết tại Giấy vay tiền ngày 18/12/2015.
Thứ ba: Nguyên đơn không quyền khởi kiện do hết thời hiệu khởi kiện
theo quy định. Nguyên đơn cho rằng đã gửi Thông báo cho bị đơn về nội dung
yêu cầu trả nợ vào các ngày 10/9/2020, ngày 05/10/2020, ngày 08/02/2022
không đúng sự thật. Bởi lẽ, nguyên đơn không gửi bất kỳ thông báo nào cho bị
đơn, việc các thông báo các ngày 10/9/2020, ngày 05/10/2020, ngày
08/02/2022 là do nguyên đơn tự soạn thảo và gửi đến Tòa, không có chứng cứ để
xác định nguyên đơn đã gửi cho bị đơn chứng cứ bị đơn đã nhận. Do đó, nguyên
đơn không chứng minh được đã gửi cho bị đơn các thông báo nên việc khởi kiện
tranh chấp hợp đồng vay là không phù hợp đã hết thời hiệu khởi kiện theo Điều
429 của Bộ luật Dân sự 2015 về thời hiệu khởi kiện về hợp đồng: Thời hiệu khởi
kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng 03 năm, kể từ ngày
người quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình
bị xâm phạm”. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy
định các trường hợp đình chỉ ván: “Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu
5
trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu
khởi kiện đã hết”.
Bị đơn khẳng định không xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của ông
Đoàn Văn Đ ông Đ không quyền lợi ích bị xâm phạm. Vụ việc đã được
Tòa án nhân dân thẩm quyền giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy
nhiên, ông Đ vẫn khởi kiện là không có căn cứ. Vì các lẽ trên, đề nghị Tòa án áp
dụng quy định tại khoản 1 Điều 217 Bluật dân sự 2015 để đình chỉ giải quyết
vụ án.
Bị đơn ông Lê Minh A, ông Lê Thanh P, bà Trần Ngọc D và bà Bùi Hiếu T
vắng mặt, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt văn bản trình bày ý kiến:
Thống nhất với lời trình bày của ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L.
Tại Bản án dân sự thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 09/9/2024, Tòa án
nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Không chấp chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Văn
Đ đối với bị đơn ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L, ông Minh A, ông Thanh
P, bà Trần Ngọc D và bà Bùi Hiếu T về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí quyền kháng cáo cho các đương
sự.
Sau khi bản án sơ thẩm, ngày 17/9/2024, Tòa án nhân dân thành phố D
nhận đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ kháng cáo toàn bộ Bản án
thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố D,
tỉnh Bình Dương, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét và giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng tham gia tố tụng đã thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
Về nội dung: Nguyên đơn kháng cáo đề nghị Tòa án chấp nhận kháng cáo
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ tại hồ
vụ án đã được cấp thẩm thu thập cũng như lời trình bày của nguyên đơn tại
phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp mới nên
không có sở chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn
giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà, kết quả tranh tụng của các đương sự tại phiên tòa, ý kiến đại diện
Viện kiểm sát,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
6
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ trong thời
hạn luật định. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm thụ giải quyết theo quy định của
pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện: Theo Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ngày
18/12/2015, ông Đoàn Văn Đ cho ông Lê Văn N, bà Phạm Ngọc L, ông Lê Minh
A, ông Thanh P, bà Trần Ngọc D và bà Bùi Hiếu T vay số tiền 1.600.000.000
đồng, lãi vay 2%/tháng, thời hạn vay từ ngày 18/12/2015 đến ngày 18/12/2020,
quá 01 tháng không trả lãi thì thời hạn nêu trên không còn giá trị thực hiện, lãi tr
hàng tháng, vốn trả một lần khi đáo hạn. Ông Đ cho rằng sau khi vay tiền thì các
bị đơn không trả tiền gốc lãi từ 18/12/2015 cho đến nay nên ông yêu cầu Tòa
án buộc các bị đơn thanh toán tiền vay gốc 1.600.000.000 đồng lãi từ
18/12/2015 đến ngày Tòa án xét xử thẩm vụ án (ngày 18/8/2024)
2.800.000.000 đồng.
[2.2] Về quan hệ vay tiền: Nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ với bị đơn ông
Văn N Phạm Ngọc L quan hệ vay tiền nhiều lần với nhau từ năm 2015
đến năm 2017 với nhiều khoản vay khác nhau. Trước đây, ông Đ đã khởi kiện yêu
cầu ông N L thanh toán số tiền còn nợ 4.000.000.000 đồng theo Giấy vay
tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) ngày 15/11/2017 Tòa án nhân dân thành
phố D, tỉnh Bình Dương đã ban hành Bản án thẩm số 20/2022/DS-ST ngày
30/3/2022 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn Đ. Sau đó, Tòa án nhân
dân tỉnh Bình Dương đã ban hành Bản án phúc thẩm số 184/2022/DS-PT ngày
19/8/2022 giữ nguyên Bản án thẩm của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh
Bình Dương.
[2.3] Về nghĩa vụ thanh toán tiền vay:
[2.3.1] Nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ cho rằng khoản nợ gốc 1.600.000.000
đồng theo Giấy vay tiền (kiêm giấy nhận tiền) ngày 18/12/2015 đang khởi kiện bị
đơn tại vụ án này là khoản nợ độc lập của ông Văn N, bà Phạm Ngọc L các
con của ông N, L ông Minh A, ông Thanh P, Trần Ngọc D
Bùi Hiếu T. Về Giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền vay) ngày 15/11/2017 thì
ông Đ cho rằng chỉ xác nhận nợ và ký với ông N, bà L và chỉ có hiệu lực đối với
các giấy nhận nợ giữa ông Đ với L ông N, không có giá trị đối với cùng lúc
đối với bà L, ông N, ông A, ông P, bà D và bà T.
[2.3.2] Tuy nhiên, theo nội dung Giấy vay tiền (kiêm giấy biên nhận tiền
vay) ngày 15/11/2017 (bút lục số 85), do ông Đ viết tay, ghi họ tên ghi
nhận việc ông N L còn nợ 6.000.000.000 đồng và xác định Các khoản nợ
khác không còn giá trị, các giấy vay phát sinh từ 15/11/2017 về trước, tức trước
ngày 15/11/2017 đã cộng dồn”. Tại Biên nhận ngày 21/5/2018 (bút lục số 86), do
ông Đ viết tay, ghi họ tên ghi nhận việc ông N L còn nợ
6.000.000.000 đồng xác định Nợ trước ngày 21/5/2018 không còn giá trị”.
Như vậy, ông Đ đã tự mình xác định ông N L chỉ còn nợ mình 6.000.000.000
đồng kể từ ngày 21/5/2018.
7
[2.3.3] Đồng thời, tại trang s13 của Bản án thẩm số 20/2022/DS-ST
ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương (Bút lục số
69) Hội đồng xét xử có nhận định “…sở dĩ ông Đ có được chữ ký và chữ viết của
anh A do trước đây khoảng năm 2015-2016, cha mẹ anh A ông N, L
vay tiền của ông Đ ông Đ yêu cầu tất cả mọi người trong gia đình anh A
các em của anh A cùng vào hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất để đảm bảo cho số tiền vay của cha mẹ anh A. Tại trang số 14 của Bản án
phúc thẩm số 184/2022/DS-PT ngày 19/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình
Dương (Bút lục số 78) Hội đồng xét xử cũng nhận định“…sở ông Đ được
chữ và chữ viết của anh A do trước đây khoảng năm 2015, năm 2016 ông N,
L vay tiền của ông Đ và ông Đ yêu cầu tất cả mọi người trong gia đình của
ông A cùng vào hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất để đảm
bảo cho số tiền vay…”. Căn cứ theo điểm b khoản 1 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết
định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước
thẩm quyền đã hiệu lực pháp luật”. Do đó, việc Giấy vay tiền ngày
18/12/2015 chữ của ông Minh A, ông Thanh P, Trần Ngọc D
Bùi Hiếu T đã được Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương và Tòa án
nhân dân tỉnh Bình Dương xác định theo yêu cầu của ông Đoàn Văn Đ để
đảm bảo cho việc trả nợ, thực tế không việc vay tiền giao nhận tiền giữa
ông Đ và các con của ông N và bà L.
[2.3.4] Như vậy, có cơ sở khẳng định nội dung Giấy vay tiền ngày
15/11/2017, các bên đã thống nhất nợ từ trước 15/11/2017 đã được cộng dồn để
chốt số tiền ông N, L còn nợ ông Đ 6.000.000.000 đồng tại Biên nhận
ngày 21/5/2018, ông Đ xác định các khoản nợ trước ngày 21/5/2018 không còn
giá trị. Tuy nội dung này không thể hiện rõ khoản nợ ngày 18/12/2015 nhưng căn
cứ vào nội dung này đủ sở khẳng định tại thời điểm các bên xác lập số nợ
còn lại 6.000.000.000 đồng vào ngày 21/5/2018 thì ông N, bà L không còn nợ ông
Đ khoản tiền nào. Đồng thời, thực tế ông Minh A, ông Thanh P, Trần
Ngọc D và bà Bùi Hiếu T không có quan hệ vay tiền và giao nhận tiền với ông Đ
mà chỉ là ký để đảm bảo cho việc trả nợ của ông N và bà L.
[3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm
xét thấy không căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện yêu cầu kháng cáo
của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá toàn diện các chứng cứ
trong hồ vụ án, đảm bảo quyền lợi ích các bên, xét xphù hợp với quy
định pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng tại Tòa án cấp phúc thẩm không
cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác làm thay đổi nội dung vụ án nên không
có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
[4] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đoàn Văn Đ người cao tuổi
đơn đề nghị miễn án phí nên không phải nộp theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
án phí và lệ phí Tòa án.
8
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148; khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 463, 466, 468 và 469 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đoàn Văn Đ.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 288/2024/DS-ST ngày 09/9/2024
của Tòa án nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương.
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đoàn Văn Đ được miễn án phí dân s
phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Chi cục THADS thành phố D;
- TAND thành phố D;
- Các đương sự;
- Tổ Hành chính tư pháp;
- Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Trung Dũng
Tải về
Bản án số 177/2025/DS-PT Bản án số 177/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 177/2025/DS-PT Bản án số 177/2025/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất