Bản án số 176/2021/DS-PT ngày 01/12/2021 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 176/2021/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 176/2021/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 176/2021/DS-PT ngày 01/12/2021 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Vĩnh Long |
| Số hiệu: | 176/2021/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/12/2021 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | chị Huỳnh Thị V tr.c với ông Lê Văn V1, hủy án ST |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 176 /2021/DS-PT
Ngày: 01 - 12 - 2021
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Triệu Hữu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Trường
Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Vệ - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Ông Phan Thanh Hào -
Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 01 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh VĨNH LONG xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 99 /2021/TLPT-DS ngày 29 tháng 6 năm
2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2021 của
Toà án nhân dân huyện V, tỉnh VĨNH LONG bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 123/2021/QĐPT-DS ngày
29 tháng 6 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2021/QĐ-PT ngày 24 tháng
9 năm 2021, các Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử do tình hình dịch bệnh
covid-19 và Thông báo về việc tiếp tục phiên tòa lần thứ hai số 128/TB-DSPT ngày
19 tháng 10 năm 2021 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị V (Tr), sinh năm 1969. Địa chỉ: số 370A,
khóm Th A, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long: vắng mặt
Người đại diện hợp pháp: Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1985. Địa chỉ: số
344/TNG, ấp Th, xã B, huyện Tr, tỉnh Bến Tre, là người đại diện theo ủy quyền (văn
bản ngày 22/11/2021): có mặt
2.Bị đơn: Ông Lê Văn V1, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp H, xã Nh, huyện V, tỉnh
Vĩnh Long: có mặt
2
Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị M D, sình năm 1960 và chị Lữ Ngọc M T,
sinh năm 1997. Địa chỉ: số A11/4A đường 385, khu phố 2, phường T Nh A, thành phố
Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ngày
27/10/2021): vắng mặt
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Trương Minh Th, sinh năm 1979. Địa chỉ: số 73/1D, đường Phó Cơ
Điều, Phường 3, thành phố VĨNH LONG, tỉnh VĨNH LONG: vắng mặt
3.2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964. Địa chỉ: ấp Hiếu Thủ, xã Hiếu Nhơn,
huyện V, tỉnh VĨNH LONG: vắng mặt
Người đại diện hợp pháp: Bà Võ Thị M D, sình năm 1960 và chị Lữ Ngọc M T,
sinh năm 1997. Địa chỉ: số A11/4A đường 385, khu phố 2, phường T Nh A, thành phố
Đ, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ngày
27/10/2021): vắng mặt
3.3. Anh Nguyễn Lê D A, sinh năm 1989. Địa chỉ: ấp M Th C, xã Mỹ Th, huyện
B, tỉnh Vĩnh Long: vắng mặt.
Người kháng cáo: ông Lê Văn V1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 11 năm 2019, đơn khởi kiện bổ sung này 23
tháng 9 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Chị Huỳnh Thị
V trình bày:
Ngày 29 tháng 10 năm 2020, thông qua giới thiệu của anh Trương Minh Th là
người quen, biết được bị đơn là ông Lê Văn V1 đang nợ ngân hàng HD Chi nhánh Vĩn
Long số tiền 1.500.000.000 đ (một tỷ năm trăm triệu đồng) và đang cần tiền đáo hạn,
chị V đã gặp ông V1 tại nhà anh Th và đồng ý cho ông V1 vay số tiền 750.000.000đ
(bảy trăm năm mươi triệu đồng), lãi suất 3.000.000đ (ba triệu đồng) trong thời hạn ông
V1 trả tiền xong rồi vay lại (thông thường 02 ngày). Sau đó, ông V1, thông qua anh Th
đã cho số tài khoản để chị V chuyển khoản vào số tài khoản 21370xyz của ông V1 số
tiền 750.000.000đ đồng. Hết thời hạn thỏa thuận nhưng ông V1 không thực hiện nghĩa
vụ trả tiền và đã yêu cầu nhưng ông V1 không trả vì cho rằng chỉ cho Nguyễn Lê D A
mượn tài khoản và Ân là người đã rút tiền, khi nào đòi được Ân, ông V1 mới trả nên
nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là ông Lê Văn V1 và vợ
là Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ trả lại 750.000.000đ đồng, ngoài ra không yêu cầu gì
khác.
Bị đơn là ông Lê Văn V1 trình bày: Do quen biết Nguyễn Lê D A nhân viên ngân
hàng HD Bank, được Ân nói có bạn cho mượn 2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu
đồng) nhưng A không có số tài khoản HD Bank và nhờ ông V1 cho mượn tài khoản
3
tại ngân hàng HD Bank chi nhánh VĨNH LONG để bạn A chuyển tiền nên ông V1 đã
đồng ý. Ông V1 không quen chị V. Việc chị V chuyển khoản ông không biết, khi bị
đòi thì ông V1 mới phát hiện chị V có chuyển vào tài khoản của ông V1 số tiền
750.000.000đ đồng. Tuy nhiên, số tiền trên, ông V1 không sử dụng mà đã ký vào giấy
ủy nhiệm chi do A lập để trống, sau đó, A tự viết vào nội dung chuyển sang tài khoản
của A và tự rút tiền, ông Vịnh không biết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Minh Th trình bày: Thông qua
Nguyễn Lê D A, anh Th đã biết và giới thiệu chị V cho ông V1 vay số tiền
750.000.000đ đồng đáo hạn ngân hàng, việc giao nhận tiền giữa hai bên, anh Th không
chứng kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ do ông V1 đại diện trình
bày: phản đối yêu cầu của chị V.
Nguyễn Lê D A không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2021 Tòa
án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 85, 86, Điều 147,
228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Áp dụng Điều 463; Điều 465; Điều 466 Bộ luật dân
sự 2015. Áp dụng điểm a, khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVAH12 ngày
30/12/2016.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Lê Văn V1 và bà
Nguyễn Thị Đ có trách nhiệm liên đới trả cho chị Huỳnh Thị V số tiền 750.000.000
đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm thi hành án, buộc ông V1, bà
Đậm nộp 37.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền
kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại đơn kháng cáo ngày 10 tháng 5 năm 2021,bị đơn Lê Văn V1 trình bày: không
đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện
của chị Huỳnh Thị V vì không có vay mượn tiền của chị V. Chứng cứ kèm theo đơn
kháng cáo: không có.
Tại bản tự khai ngày 12 tháng 7 năm 2021, chị Huỳnh Thị V trình bày: Không
đồng ý yêu cầu kháng cáo vì đã chuyển tiền vào tài khoản của ông V1 được ngân hàng
xác nhận ông V1 đã nhận 750.000.000 đồng. Việc chuyển tiền là do chị V trực tiếp
chuyển vào tài khoản của ông V1 số 21370xyz tại ngân hàng HD chi nhánh Vĩnh Long.
Nội dung ghi: nộp tiền mặt (do ngân hàng đánh máy). Việc chuyển tiền là do Trương
Minh Th giới thiệu ông V1 cần tiền đáo hạn ngân hàng, hình thức thỏa thuận đáo hạn
4
02 ngày trả vốn và cho tiền cà phê. Sau đó, Thống hẹn chị V và ông V1 để cùng thỏa
thuận tại nhà Thống, chị V có đến nhưng có nhiều người đang nhậu nên không vào.
Ngày 29/10/2019, Thống và chị V đến ngân hàng, Thống cho chị V tài khoản của ông
V1 và chị V đã chuyển tiền cho ông V1. Sau khi ông V1 nhận tiền thì không trả lãi.
Nguồn gốc tiền là của chị V.
Tại Công văn số 573/VPCQCSĐT ngày 30/9/2021, cơ quan cảnh sát điều tra
Công an tỉnh Vĩnh Long xác định: Ngày 16/12/2019, cơ quan điều tra có tiếp nhận
nguồn tin về tội phạm của ông Lê Văn V1 tố giác Nguyễn Lê D A, là nhân viên ngân
hàng HD- Chi nhánh Vĩnh Long về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản do đã cho A
mượn 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng) nhưng không trả. Sau đó, A yêu cầu ông V1
cho mươn số tài khoản để bạn A chuyển 2.500.000.000đ (hai tỷ năm trăm triệu đồng),
đồng thời, ông V1 ký sẵn vào ủy nhiệm chi còn trống để A tự điền thông tin vào rút
tiền. Ngoài ra, cơ quan điều tra còn nhận đơn của 03 người khác là ông Nguyễn Văn X
tố giác A mượn 2.800.000.000đ (hai tỷ tám trăm triệu đồng); Khưu Minh H, Khưu
Minh S tố giác A mượn 982.000.000đ (chín trăm tám mươi hai triệu đồng). Cơ quan
điều tra đã làm việc với Trương Minh Th và Th trình bày thông qua A, đã biết và giới
thiệu cho chị Nh, chị Tr (Vinh) chuyển khoản cho ông V1 số tiền 1.500.000.000 đồng,
mỗi người 750.000.000 đồng. Khưu Minh S chuyển khoản 982.000.000 đồng. Ông H
yêu cầu Th ký biên nhận 1.000.000.000đ (một tỷ đồng) vì trừ trước 18.000.000đ (mười
tám triệu đồng) tiền lãi. Việc Th ký vào biên nhận vì tin ông V1 và A đáo hạn ngân
hàng, khi ký có bà Nh và bà Tr chứng kiến. Việc Th giới thiệu cho vay là để hưởng
hoa hồng.
Cơ quan điều tra không làm việc được với Nguyễn Lê D A do không biết A đang
làm gì, ở đâu. Cơ quan điều tra đã yêu cầu ngân hàng HD- Chi nhánh Vĩnh Long cung
cấp tài liệu là bản chính có chữ ký, chữ viết của A để phục vụ cho việc kiểm tra, xác
minh nhưng ngân hàng chưa cung cấp. Do đó, ngày 13/4/2020, Cơ quan cảnh sát điều
tra đã ban hành quyết định 03 tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm đối với vụ
việc trên.
Nếu có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Lê D A theo tố giác của ông V1 thì
chị V, ông Th là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vì việc chị V chuyển tiền vào
tài khoản ông V1 có liên quan ông Th. Tuy nhiên, hiện nay chưa làm việc được với A
nên chưa xác định được vai trò cụ thể của A, Th trong vụ việc trên như thế nào...
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn có kháng cáo trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn. Trường hợp vụ án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì đề nghị hủy án sơ
thẩm để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại.
5
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Huỳnh Thị V trình bày: Đề nghị không
chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu: Việc tuân theo pháp
luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên
đơn, bị đơn và người tham gia tố tụng khác chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Minh Th, Nguyễn Lê D A không chấp
hành quy định của pháp luật tố tụng.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự
năm 2015, khoản 3 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH13 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội;
Hủy án sơ thẩm. Giao hồ sơ vụ án về cấp sơ thẩm giải quyết lại.
Về án phí dân sự phúc thẩm: ông V1 không phải chịu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét
tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án cấp phúc thẩm
nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về đơn kháng cáo và sự vắng mặt của đương sự
Đơn kháng cáo của ông Lê Văn V1 đúng theo quy định của pháp luật nên được
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tại phiên tòa, ông V1 có ủy quyền tham gia tố tụng nhưng khi người đại diện
vắng mặt có gửi văn bản trình bày ý kiến về việc kháng cáo, ông V1 đã trực tiếp tham
gia tố tụng. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ vắng mặt nhưng
người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng có gửi văn bản trình bày ý kiến. Tòa án
triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Trương Minh Th, Nguyễn Lê D A vắng mặt không lý do. Đương sự và người
đại diện hợp pháp của đương sự có mặt thống nhất xét xử vắng mặt bà Đ, anh Th, anh
A. Căn cứ Điều 294, khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành
xét xử vắng mặt đương sự.
[1.2] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp
Cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản nhưng lời trình
bày của đương sự không thể hiện giao dịch vay tiền mà là đòi lại tài sản nên cần xác
định lại cho đúng quan hệ pháp luật tranh chấp.
[1.3] Về thẩm quyền giải quyết liên quan quyết định tạm đình chỉ giải quyết
nguồn tin về tội phạm.
6
Vụ án có đơn tố giác tội phạm của bị đơn đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan mà nội dung lại liên quan đến số tiền tranh chấp theo đơn khởi kiện của
nguyên đơn và được cơ quan điều tra thụ lý giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nên có
dấu hiệu hình sự. Tuy nhiên, quá trình giải quyết, cấp sơ thẩm không yêu cầu cơ quan
điều tra xác định có khởi tố vụ án hay không trước khi quyết định giải quyết về nội
dung là chưa đảm bảo công tác phối hợp trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo tội phạm, kiến nghị khởi tố theo quy định tại Điều 145 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong trường hợp cơ quan điều tra khởi tố vụ án thì đương sự trong vụ án này cũng
chính là người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự và số tiền tranh chấp cũng có thể
được xem xét giải quyết trong phần trách nhiệm dân sự của vụ án hình sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Huỳnh Thị V
Theo lời trình bày của các đương sự, chị Huỳnh Thị V chủ yếu thông qua trung
gian là anh Th đã chuyển tiền vào tài khoản của ông V1 khi chưa thỏa thuận các nội
dung chính của hợp đồng cho vay với ông V1. Trong quá trình giao dịch, chưa đủ
chứng cứ thể hiện ông V1 đã thỏa thuận với chị V các nội dung cơ bản của việc vay
tiền như: số tiền vay, thời hạn, lãi suất, nghĩa vụ trả tiền, nghĩa vụ do vi phạm hợp
đồng, quyền, nghĩa vụ của các bên theo quy định của Bộ luật dân sự nên việc khởi
kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay là chưa đủ cơ sở.
Tuy nhiên, chị V là chủ sở hữu số tiền đã chuyển vào tài khoản của ông V1 nên
có quyền của chủ sở hữu trong việc đòi lại tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự.
Mặc dù chị V trình bày cho vay tiền nhưng chỉ yêu cầu nhận số tiền đã chuyển nên
cần áp dụng quy định của pháp luật có liên quan việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản và các quy định của ngân hàng nhà nước trong việc sử dụng
tài khoản ngân hàng và thực hiện dịch vụ ủy nhiệm chi để giải quyết vụ án. Tuy nhiên,
cấp sơ thẩm chưa làm rõ ý thức chủ quan của các bên trong việc chuyển tiền, sử dụng
tài khoản, thực hiện ủy nhiệm chi, qua đó xác định lỗi của các bên trong việc tranh
chấp số tiền 750.000.000 đồng như: lỗi của chị V, anh Th, ông V1, anh A và kể cả
ngân hàng nơi ông V1 mở tài khoản và thực hiện thủ tục ủy nhiệm chi (nếu có), để
qua đó đánh giá khách quan vụ án, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương
sự. Cụ thể, cần thu thập chứng cứ để xem xét trách nhiệm của ông V1 và đương sự
khác trong tương quan lỗi với các đương sự khác như thế nào. Thu thập chứng cứ để
xác định Ngân hàng nơi ông V1 mở tài khoản và lập ủy nhiệm chi có thực hiện đúng
quy định của Ngân hàng nhà nước về dịch vụ thanh toán ủy nhiệm chi hay không, để
từ đó xác định trách nhiệm dân sự của các bên. Đây là những chứng cứ quan trọng
trong vụ án, chưa được cấp sơ thẩm làm rõ mà không thể bổ sung được tại phiên tòa
phúc thẩm.
7
[2.2] Về việc bị đơn Lê Văn V1 trình bày chỉ cho mượn tài khoản thanh toán
và bị A lợi dụng, lừa đảo nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, ông V1 là chủ tài khoản thanh toán đã sử
dụng dịch vụ thanh toán qua tài khoản nên phải thực hiện trách nhiệm của chủ tài
khoản theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, chưa có cơ sở vững chắc xác định ông
V1 có lỗi toàn bộ trong vụ án như cấp sơ thẩm xác định mà cần được thu thập, bổ sung
chứng cứ và đánh giá chứng cứ, chứng minh như nhận định [2.1] trước khi quyết định
trách nhiệm của ông V1.
[2.3] Về nghĩa vụ tài sản vợ chồng giữa ông V1 và bà Đ trong vụ án
Cấp sơ thẩm xác định nghĩa vụ liên đới trả tiền của bà Đ nhưng chưa làm rõ bà
Đ có biết, đồng ý với việc ông V1 định đoạt số tiền với mục đích sử dụng chung vợ
chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự trước khi quyết
định nghĩa vụ liên đới của bà Đ là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
[3] Với việc vi phạm thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự cũng như việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được đầy
đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể bổ sung được nên cần phải hủy bản án sơ
thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục
sơ thẩm được quy định tại khoản 3 Điều 308 và Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự, do hủy án
để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm nên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm;
nghĩa vụ chịu án phí được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Với nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của vị kiểm sát viên,
chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn có kháng cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310, khoản 3 Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015; khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Lê Văn V1.
1. Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 77/2021/DS-ST ngày 29 tháng 4 năm 2021 của
Toà án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
giữa nguyên đơn chị Huỳnh Thị V và bị đơn ông Lê Văn V1.
Giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại vụ án
theo thủ tục sơ thẩm.
8
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn V1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Hoàn trả cho ông Lê Văn V1 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí
theo Biên lai thu số 0009102 ngày 10/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện V.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Tp.HCM;
- Chánh án;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long;
- TAND H.V;
- VKSND H.V;
- CC THADS H.V;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lâm Triệu Hữu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 11/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm