Bản án số 1693/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1693/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1693/2026/DS-PT ngày 08/09/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1693/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1693/2026/DS-PT Bản án số 1693/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1693/2026/DS-PT Bản án số 1693/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
Bản án số: 1693/2026/DS-PT.
Ngày: 08/9/2026.
V/v kiện: “Tranh chấp thừa kế quyền
sử dụng đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Nguyên Nguyên.
Các Thẩm phán: Bà Châu Kim Anh.
Ông Bùi Hữu Nhân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên tòa: Ông Bạch Ngọc Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2026 và ngày 08 tháng 9 năm 2026, tại trụ sở Tòa án
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân
sự phúc thẩm thụ lý số: 988/2026/TLPT-DS ngày 16 tháng 6 năm 2026 về việc:
“Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 296/2026/DS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 4636/2026/QĐ-PT
ngày 21 tháng 7 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số
12566/2026/QĐ-PT ngày 11 tháng 8 năm 2026 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
1.1. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1962;
Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng
mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Ông Nguyễn Đình Đ, sinh năm:
1973. Địa chỉ: phường An Phú Đông (phường An Phú Đông, Quận 12 cũ),
Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
1.2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm: 1964;
Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà G: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm:
1962; Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng
mặt).
1.3. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1969;
Địa chỉ: xã P (xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Y: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm:
1962; Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (vắng
mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1972;
Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Bùi Quốc T,
sinh năm: 1970; Địa chỉ: phường Tây Thạnh (phường Tây Thạnh, quận Tân Phú
cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Võ Thị Thu L, sinh năm: 1975;
Địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L: Ông Bùi Quốc T, sinh
năm: 1970; Địa chỉ: phường Tây Thạnh (phường Tây Thạnh, quận Tân Phú cũ),
Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
3.2. Ông Nguyễn Hoài N, sinh năm: 1995 (vắng mặt);
3.3. Bà Nguyễn Thu N, sinh năm: 1999 (có mặt);
3.4. Bà Nguyễn Thị Phương T, sinh năm 1996 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
3.5. Ông Lê Văn C, sinh năm: 1949 (vắng mặt);
Địa chỉ: xã P (xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí
Minh.
3.6. Bà Nguyễn Thị X, sinh năm: 1961 (vắng mặt);
3.7. Ông Thái T, sinh năm: 1960 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: xã P (xã P, huyện Củ Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
3.8. Bà Nguyễn Thị Thùy T, sinh năm: 1986 (vắng mặt);
Địa chỉ: Số 131 Nguyễn Thị Ngọt, ấp Cây Trâm, xã P (xã P, huyện Củ
Chi cũ), Thành phố Hồ Chí Minh.
3.9. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P.
Địa chỉ: Số 269 Tỉnh lộ 8, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn M và kháng cáo của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
3
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2014, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung
ngày 10/12/2025, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X là
ông Nguyễn Đình Đ trình bày như sau:
Ông Nguyễn Văn Ập (sinh năm 1929, mất năm 2010) và bà Nguyễn Thị
E (sinh năm 1931, mất năm 1995) có 04 người con là bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn M. Trước khi mất ông Ập
có quản lý, sử dụng phần đất có diện tích 3.385m
2
thuộc thửa đất số 515, 515-1,
tờ bản đồ số 15, bộ địa chính xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Cho đến năm 1993, ông Nguyễn Văn M đã tự
ý kê khai để đứng tên thửa đất trên và được Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 71
QSDĐ/12/10/1993 cấp ngày 12/10/1993. Việc kê khai này không ai được biết.
Năm 1995, sau khi bà X, bà G, bà Y và một số thành viên trong dòng tộc
(có ông Phùng Minh Hùng là cháu của ông Nguyễn Văn Ập) phát hiện và phản
đối việc ông Nguyễn Văn M tự ý đứng tên trên sổ đỏ nên ông Nguyễn Văn M đã
trả lại sổ đỏ cho ông Nguyễn Văn Ập đứng tên. Năm 1997, ông Nguyễn Văn Ập
đồng ý chia một phần diện tích đất 680m
2
thuộc thửa đất trên cho người cháu là
ông Phùng Minh Hùng quản lý, sử dụng. Phần đất này sau đó ông Phùng Minh
Hùng được Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/1998.
Khoảng năm 2001, 2002 ông Nguyễn Văn M đại diện cho các thành viên
trong gia đình chuyển nhượng phần diện tích đất 993m
2
/2.738m
2
cho ông Lê
Văn C và bà Nguyễn Thị X. Phần diện tích đất chuyển nhượng 993m
2
cho ông C
và bà X hiện nay ông Nguyễn Văn M cho rằng đã chia đất của cha mẹ để lại cho
03 (ba) chị em là Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G và Nguyễn Thị Y.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X xác nhận phần đất tranh chấp diện tích sau
đo đạc là 1.684,6m
2
thuộc thửa đất số 515, 515-1, tờ bản đồ số 15, bộ địa chính
xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Xác định quyền sử dụng phần diện tích đất 1.684,6m
2
thuộc thửa đất
515, 515-1, tờ bản đồ số 15, xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
T130372, số vào sổ cấp GCN: 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 do Ủy ban nhân
dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Nguyễn Văn M là di
sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E để lại.
- Xác định 04 (bốn) người con của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E,
gồm: Bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn M là
người thừa kế thuộc hàng thứ nhất, được hưởng phần di sản bằng nhau.
- Tuyên cho bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G, Nguyễn Thị Y và ông
Nguyễn Văn M mỗi người được hưởng phần diện tích đất tương ứng là 421m
2
theo quy định pháp luật.
4
- Buộc ông Nguyễn Văn M phải thực hiện việc tách thửa đất theo đúng
phần thừa kế được chia và giao đất cho nguyên đơn ngay sau khi Bản án hoặc
Quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2014, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung
ngày 10/12/2025 người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G là
bà Nguyễn Thị X trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thị G thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn
bà Nguyễn Thị X.
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/3/2014, đơn khởi kiện sửa đổi bổ sung
ngày 10/12/2025, các lời khai tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc
giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản hòa giải trong quá trình giải
quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y là bà
Nguyễn Thị X trình bày như sau:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của
nguyên đơn bà Nguyễn Thị X.
Theo bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ, biên bản hòa giải trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày như sau:
Ông Nguyễn Văn M và bà Võ Thị Thu L kết hôn với nhau năm 1997, sinh
sống từ đó cho đến nay tại địa chỉ 105 Nguyễn Thị Nê, ấp Cây Trâm, xã P,
huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Cha ông Nguyễn Văn Ập (sinh năm 1929, mất năm 2010) và bà Nguyễn Thị E
(sinh năm 1931, mất năm 1995) có 04 người con là bà Nguyễn Thị X, bà
Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị Y và ông Nguyễn Văn M. Trước khi mất cha mẹ
ông không có để lại di chúc hoặc tài sản riêng nào của ông bà.
Năm 1993 ông M được đứng tên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 71 QSDĐ/12/10/1993 cấp ngày 12/10/1993, gọi là Giấy tờ trắng sau này nhà
nước yêu cầu đổi giấy lại và ông M được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số T130372, số vào sổ cấp GCN: 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 đối với
phần diện tích đất là 2.738m
2
thuộc thửa đất số 515 và thửa đất số 515-1, tờ bản
đồ số 15, bộ địa chính xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã
P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Do tình nghĩa chị em nên đất do ông M đứng tên, ông M cũng đồng ý cho
bà X, bà G và bà Y mỗi người diện tích để sử dụng, nhưng do bà X, bà G và bà
Y đứng ra chuyển đổi bán lấy tiền hết, sử dụng riêng từ các nội dung và chứng
cứ như sau:
- Ngày 14/12/2001, chị em ông M gồm: bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị
G có làm Tờ trao đổi đất gửi Ủy ban nhân dân xã P với nội dung về việc đồng ý
trao đổi với ông Phùng Minh Hùng thửa đất số 1064, tờ bản đồ số 15 và thửa đất
số 515, tờ bản đồ 15 có cùng diện tích 680m
2
như trên, cùng thuộc bộ địa chính
xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí
Minh).
5
- Ngày 01/12/2010 ông M có làm Bản tường trình gửi Ủy ban nhân dân xã
P (do lúc này bà X khiếu nại tranh chấp quyền sử dụng đất với ông M) về việc
bà X đã bán đất và lấy tiền. Giấy này có xác nhận của ông Lê Văn C, bà Nguyễn
Thị X là người mua đất, có xác nhận của tổ 79 và Trưởng ấp như sau:
+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1961, cam kết ngày 15/7/2014 có xác nhận
của Ủy ban nhân dân xã P với nội dung: Nguyên vào ngày 03/12/2001 bà X có
mua miếng đất của ông Nguyễn Văn M với diện tích là 547m
2
QSDĐ số 1305,
thửa 515, 515-1, tờ bản đồ số 15 do bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G và bà
Nguyễn Thị Y là người thừa kế, phần đất trên do ông Nguyễn Văn M đứng ra
bán và ký tên dùm với số tiền tương đương 18 cây vàng. Bà X giao tiền đủ cho
bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G và Nguyễn Thị Y. Ông M đã làm giấy sang tên
QSDĐ cho bà X.
+ Ông Lê Văn C, sinh năm 1949 xác nhận của người làm chứng ngày
22/6/2011 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P với nội dung: Nguyên vào
ngày 02/11/2002 ông C có mua miếng đất theo bằng khoáng ông Nguyễn Văn M
đứng tên QSDĐ, do bà Nguyễn Thị X chưa sang tên nên nhờ ông M đứng ra bán
và ký tên dùm. Ông C cam kêt nội dung trên là đúng, ông C hoàn toàn chịu trách
nhiệm trước pháp luật – diện tích 446m
2
.
Ngày 19/8/2011, sau khi bà X khởi kiện ra Tòa án về tranh chấp di sản
thừa kế, là quyền sử dụng đất ở và nhà ở, nên ông M và bà X đã thỏa thuận và
Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định công
nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 261/2011/QĐST-DS ngày 19/8/2011.
Theo đó, ông M đồng ý cho bà X và bà Nguyễn Thị Thùy T được tiếp tục sử
dụng căn nhà tường tôn và phần mái tôn, là phần công trình xây dựng có thứ tự
số 1 và 2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài
nguyên Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 28/5/2011, thuộc quyền
sở hữu của ông M tọa lạc trên phần đất diện tích 73,50m
2
nhằm một phần thửa
đất số 934, tờ bản đồ số 43, bộ địa chính xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) do ông M đứng tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất để ở từ nay cho đến ngày 09/02/2012.
Từ những căn cứ trên, bị đơn khẳng định Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số T130372, số vào sổ cấp GCN: 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 Ủy ban
nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh là thuộc quyền sở hữu hợp
pháp của ông Nguyễn Văn M. Ông M đã ở và tôn tạo cho đến nay. Ông M xác
nhận phần diện tích đất tranh chấp sau đo đạc là 1.684,6m
2
thuộc thửa đất số
515, 515-1, tờ bản đồ số 15, bộ địa chính xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Do đó, bị đơn đề nghị Tòa án
giải quyết theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu L trình bày như
sau:
Bà L thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn M.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý.
6
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoài N trình bày như
sau:
Ông Nam thống nhất với toàn bộ lời trình bày của ông Nguyễn Văn M và
bà Võ Thị Thu L. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thu N trình bày như
sau:
Bà Ngân thống nhất với toàn bộ lời trình bày của bị đơn ông Nguyễn Văn
M. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn C trình bày như sau:
Nguyên vào ngày 02/11/2002 ông C có mua miếng đất diện tích 446m
2
theo bằng khoán ông Nguyễn Văn M đứng tên, do bà Nguyễn Thị X chưa sang
tên nên nhờ ông M đứng ra bán và ký tên dùm. Sau đó ông C được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông C cam kết nội dung trên là đúng, ông C hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước pháp luật. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn C không
có ý kiến. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị X và ông Thái T
trình bày như sau:
Nguyên vào ngày 03/12/2001, bà X có mua miếng đất của ông Nguyễn
Văn M với diện tích là 547m
2
do bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G và bà
Nguyễn Thị Y là người thừa kế, phần đất trên do ông Nguyễn Văn M đứng ra
bán và ký tên dùm với số tiền tương đương 18 cây vàng. Bà X giao tiền đủ cho
bà Nguyễn Thị X, Nguyễn Thị G và Nguyễn Thị Y. Ông M đã làm giấy sang tên
cho bà X.
Do đó đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông Thái T và bà
Nguyễn Thị X không đồng ý. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định
pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thùy T trình bày
như sau:
Bà Trang thống nhất với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn
Thị X. Đề nghị Tòa án giải quyết theo đúng quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 296/2026/DS-ST ngày 17/3/2026 của Tòa án
nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
- Công nhận phần đất diện tích 1684,6m
2
thuộc thửa đất số 515 và 515-1,
tờ bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ hiện
trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc
bản đồ Hoàng Thịnh và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2025 là
di sản của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E.
7
- Chia di sản theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà
Nguyễn Thị Y phần đất diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ
bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ hiện trạng vị
trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc bản đồ
Hoàng Thịnh có tọa độ góc ranh được xác định bằng các điểm như sau:
+ Điểm 1 (điểm hiệu số 3) tọa độ: X(m): 1217935.93 và Y(m): 587344.93
+ Điểm 2 (điểm hiệu số 4) tọa độ: X(m): 1217928.07 và Y(m): 587350.69
+ Điểm 3 (điểm hiệu số 5) tọa độ: X(m): 1217920.71 và Y(m): 587356.00
+ Điểm 4 (điểm hiệu số 6) tọa độ: X(m): 1217889.24 và Y(m): 587376.33
+ Điểm 5 (điểm hiệu số 7) tọa độ: X(m): 1217879.53 và Y(m): 587360.76
+ Điểm 6 (điểm hiệu số 8) tọa độ: X(m): 1217921.90 và Y(m): 587330.01
+ Độ dài cạnh từ điểm 1 đến điểm 2 là 9,75m; độ dài cạnh từ điểm 2 đến
điểm 3 là 9,07m; độ dài cạnh từ điểm 3 đến điểm 4 là 37,47m; độ dài cạnh từ
điểm 4 đến điểm 5 là 18,35m; độ dài cạnh từ điểm 5 đến điểm 6 là 52,35m; độ
dài cạnh từ điểm 6 đến điểm 1 là 20,5m.
Trong đó:
+ Công nhận cho Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Y
phần đất diện tích là 1035,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15
(TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).
+ Không công nhận cho Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn
Thị Y phần đất diện tích mộ là 33,7m
2
(Đánh số 12 theo Khu 1 – Bản đồ hiện
trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc
bản đồ Hoàng Thịnh) thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15 (TL
02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã
P, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1305
QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho ông
Nguyễn Văn M đối với phần đất đã chia cho Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G
và bà Nguyễn Thị Y diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản
đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P,
Thành phố Hồ Chí Minh).
- Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Võ Thị Thu L, ông Nguyễn Hoài N, bà
Nguyễn Thu N, bà Nguyễn Thị Phương T có nghĩa vụ giao cho bà Nguyễn Thị
X, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Y quản lý phần đất diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Giao ngay khi
bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bà Nguyễn Thị X có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231 đồng (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai
8
trăm ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà X chậm trả tiền thì
bà X phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bà Nguyễn Thị G có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231 đồng (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai
trăm ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà G chậm trả tiền thì
bà G phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bà Nguyễn Thị Y có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231 đồng (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai
trăm ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Y chậm trả tiền thì
bà Y phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo
theo quy định.
Ngày 19/03/2026, bị đơn ông Nguyễn Văn M và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan bà Võ Thị Thu L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Nguyên đơn vắng mặt, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị
Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án Thành phố thụ lý giải quyết theo thủ tục phúc thẩm
đúng theo quy định tại Điều 270 Bộ Luật tố tụng dân sự; Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm
đúng thời hạn quy định,Hồ sơ vụ án cũng đã được chuyển cho Viện kiểm sát
cùng cấp nghiên cứu theo đúng quy định tại Điều 292 Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ông M, bà L (hai vợ chồng) kháng cáo cho rằng toàn bộ phần
quyền sử dụng đất tranh chấp trong vụ án này tương ứng 1684,6m
2
thuộc thửa 515,
515-1, TBĐ 15, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận cấp ngày
24/7/2001 mang tên ông Nguyễn Văn M là tài sản riêng của cá nhân ông M, nguồn
gốc đất của ông Ập, bà É (cha mẹ) cho miệng ông M.
9
Qua rà soát toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với
diễn biến quá trình quản lý, sử dụng đất có đủ căn cứ xác định: Diện tích đất tranh
chấp 1.684,6m² (thuộc một phần thửa đất số 515, 515-1, tờ bản đồ số 15, xã P,
huyện Củ Chi) là di sản thừa kế chưa chia của cụ Nguyễn Văn Ập (chết năm 2010)
và cụ Nguyễn Thị E (chết năm 1995), hoàn toàn không phải là tài sản riêng của ông
Nguyễn Văn M
Bản án dân sự sơ thẩm đã thu thập chứng cứ đầy đủ, đánh giá đúng nguồn
gốc đất, xác định diện tích 1.684,6m² còn lại là di sản thừa kế chưa chia của cụ Ập,
cụ E và chia đều cho 04 kỷ phần thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất (bà X, bà G,
bà Y, ông M) là có căn cứ. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hủy một phần Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông M và giải quyết bồi hoàn giá trị tài
sản/chênh Lch diện tích trên đất là giải quyết triệt để hệ quả pháp lý của việc chia
tài sản chung bằng hiện vật, bảo đảm tính thi hành của bản án.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn M, bà Võ Thị Thu L.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 296/2026/DS-ST ngày 17/3/2026
của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn M
và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu L còn trong hạn luật
định và hợp L, việc nộp tiền tạm ứng án phí là trong hạn luật định nên có căn cứ
để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về nguồn gốc phần đất thuộc thửa đất số 515 và 515-1, tờ bản đồ số
15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh):
Căn cứ các Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố Hồ Chí Minh có văn
bản số 10421/VPĐK-KT ngày 19/7/2011 của Văn phòng đăng ký đất đai Thành
phố Hồ Chí Minh; Văn bản số 597/CAX ngày 18/9/2025 của Công an xã P và
Văn bản số 2393/UBND-TNMT ngày 07/3/2017 của Ủy ban nhân dân huyện Củ
Chi có căn cứ xác định phần đất diện tích khoảng 3385m
2
thuộc thửa đất số 515
và 515-1, tờ bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) có nguồn gốc từ sau
năm 1975 do ông Nguyễn Văn Ập kê khai đăng ký.
[2.2] Về quá trình sử dụng phần đất thuộc thửa đất số 515 và 515-1, tờ
bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh), hội đồng xét xử nhận thấy:
- Ông Nguyễn Văn Ập là người kê khai đăng ký sử dụng đất từ sau năm
1975, được thể hiện trên sổ mục kê, tài liệu 02/CT-UB.
10
- Năm 1993, Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi xác định thửa 891, tờ số 5
tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ
Chí Minh) là đất tư nhưng lại giao đất cho ông Nguyễn Văn M do ông M xin sử
dụng. Ông M không cung cấp được bất kỳ tài liệu chứng cứ gì chứng minh việc
được giao đất ông Ập bà E giao đất. Hiện hồ sơ lưu trữ đối với việc cấp quyền
sử dụng này cũng không còn lưu giữ.
Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 71 QSDD/12/10/1993
ngày 12/10/1993 cấp cho ông Nguyễn Văn M đối với phần đất diện tích 3280m
2
thuộc thửa đất số 895, tờ bản đồ số 5, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) có phần ghi thêm “Cha để lại”.
Thời điểm này cả ông Ập và bà E đều còn sống. Như vậy, có cơ sở để xác định
ông M gian dối trong việc xin cấp quyền sử dụng đất.
- Năm 2001, Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp đổi Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số vào sổ 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 cho ông Nguyễn
Văn M đối với phần đất diện tích 2738m
2
thuộc thửa đất số 515 và 515-1, tờ bản
đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P,
Thành phố Hồ Chí Minh). Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này có
phần ghi thêm “Giấy CN này thay thế GCN số 71/QSDĐ ngày 12/10/1993”.
Việc cấp đổi này có sự chênh Lch diện tích (từ 3280m
2
xuống 2678m
2
do
loại trừ phần đất đã cấp cho ông Phùng Minh Hùng nhưng lại không xem xét tới
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 09 QSDD/21/3/1995 ngày
21/3/1995 cho ông Nguyễn Văn Ập đối với phần đất diện tích 3385m
2
thuộc
thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) là Giấy chứng nhận làm cơ sở tách
thửa cho ông Phùng Minh Hùng.
Như vậy, Tòa án khu vực xác định ông Ập bà E có quá trình sử dụng đất
lâu dài và Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số vào sổ 09 QSDD/21/3/1995 ngày 21/3/1995 cho ông Nguyễn Văn Ập đối
với phần đất diện tích 3385m
2
thuộc thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã
P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí
Minh) là phù hợp là có cơ sở.
Năm 1995, bà E mất. Năm 1998, ông Ập chuyển quyền cho ông Phùng
Minh Hùng phần đất diện tích 680m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ
số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành
phố Hồ Chí Minh).
Việc chuyển quyền này có sự đồng ý của ông M tại Giấy chia đất ngày
22/7/1997 và bà X, bà G, bà Y bằng việc trình bày trong quá trình giải quyết.
Như vậy, việc chuyển quyền này có sự đồng ý của tất cả người thừa kế
hợp pháp của bà E. Tài sản chung của ông Ập bà E còn lại là: 3385m
2
– 680m
2
=
2705m
2
thuộc thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).
11
Năm 2001, phần đất này thực tế còn lại là 2738m
2
khi ông M đo đạc để
xin cấp đổi Giấy chứng nhận (có sự sai số do sai số giữa các nền bản đồ và biến
động ranh do tranh chấp, thu hồi).
Do đó, Tòa án khu vực xác định phần đất diện tích 2738m
2
thuộc thửa đất
số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
(nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số vào sổ 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 cấp cho ông Nguyễn Văn M là tài
sản chung của ông Ập, bà E là có căn cứ. Các đương sự đều thừa nhận ông
Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E chết không để lại di chúc. Do đó tài sản nêu
trên là di sản của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E để lại.
[2.2] Về phân chia di sản thừa kế đối với phần đất diện tích 2738m
2
thuộc
thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) của ông Nguyễn Văn Ập và bà
Trần Thị E để lại:
[2.2.1] Về hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị
E:
Bà X, bà G, bà Y, ông M đều thừa nhận cha mẹ ông Nguyễn Văn Ập và
bà Trần Thị E đều đã mất trước khi ông Ập và bà E mất.
Bà X, bà G, bà Y, ông M đều thừa nhận ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần
Thị E có 04 người con là bà Bà X, bà G, bà Y, ông M.
Như vậy, nguyên đơn bà X, bà G, bà Y yêu cầu chia thừa kế đối với di
sản của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E là phù hợp với quy định tại Điều
631, Điều 632, Điều 633, Điều 634, Điều 635, Điều 636, Điều 645, Điều 674,
Điều 675 và Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005.
[2.2.2] Về tỷ L phân chia di sản:
Bà X, bà G, bà Y, ông M mỗi người được chia phần di sản bằng nhau là
2738m
2
/4 = 684,5m
2
.
Tổng diện tích mà bà X, bà G, bà Y được hưởng là: 684,5m
2
x 3 =
2053,5m
2
.
Tháng 12/2001, ông Nguyễn Văn M chuyển quyền cho bà Nguyễn Thị X
phần đất diện tích 547m
2
và tháng 10/2002, ông Nguyễn Văn M chuyển quyền
cho ông Lê Văn C phần đất diện tích 446m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ
bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P,
Thành phố Hồ Chí Minh) mà không có sự đồng ý của ông Ập. Như vậy các giao
dịch này đều không đúng chủ thể tham gia giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, từ thời điểm giao dịch đến khi ông Ập mất thì ông Ập không
có yêu cầu tranh chấp đồng thời sau khi ông Ập mất thì những người thừa kế
hợp pháp của ông Ập bà E là ông M, bà X, bà G, bà Y đều đồng ý với giao dịch
này nên vẫn công nhận hiệu lực của các giao dịch dân sự này.
Bà X, bà G, bà Y, ông M đều trình bày mâu thuẫn về việc người được
hưởng số tiền chuyển nhượng đất. Bà X và ông C là người nhận chuyển nhượng
trình bày giao tiền cho bà X, bà G, bà Y nhận. Tại phiên tòa sơ thẩm, bà X, bà
12
G, bà Y đồng ý nhận phần tiền đã chuyển nhượng này trừ vào phần đất bà X, bà
G, bà Y được hưởng thừa kế.
Như vậy, phần đất bà X, bà G, bà Y được hưởng sau khi trừ đi phần đã
chuyển nhượng là 2053,5m
2
– 547m
2
– 446m
2
= 1060,5m
2
.
Phần đất còn lại sau khi trừ đi phần đất đã chuyển nhượng cho bà X và
ông C có diện tích là 1745m
2
thuộc thửa đất số 515 và 515-1, tờ bản đồ số 15
(TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Phần đất này hiện được cấp theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 cho ông
Nguyễn Văn M (có cập nhật chuyển quyền cho bà X, ông C) và do ông Nguyễn
Văn M giữ bản chính.
Hiện nay thực tế phần đất sau khi đo đạc có diện tích là 1684,6m
2
(diện
tích giảm do mở rộng đường Nguyễn Thị Nê) thuộc thửa đất số 515 và 515-1, tờ
bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ hiện trạng vị
trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc bản đồ
Hoàng Thịnh và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2025.
Vì vậy, diện tích thực tế các bên được hưởng tương ứng theo tỷ L là:
- Ông M được hưởng: 684,5m
2
/ 1745m
2
x 1684,6m
2
= 660,8m
2
.
- Bà X, bà G, bà Y được hưởng: 1060,5m
2
/ 1745m
2
x 1684,6m
2
=
1023,8m
2
.
Bà X, bà G, bà Y yêu cầu mỗi người được hưởng 1684,6m
2
/4 = 421m
2
.
Tổng cộng bà X, bà G, bà Y yêu cầu được hưởng 421m
2
x 3 = 1263m
2
nên Tòa
án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu của bà X, bà G, bà Y là có cơ sở.
[2.2.3] Về hiện trạng phần đất diện tích 1684,6m
2
thuộc thửa đất số 515
và 515-1, tờ bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ
hiện trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo
đạc bản đồ Hoàng Thịnh và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày
26/3/2025:
Nguyên đơn bà X, bà G, bà Y có yêu cầu nhận phần di sản thừa kế bằng
hiện vật và bà X, bà G, bà Y đồng sử dụng.
Trên phần đất diện tích 1684,6m
2
hiện có 01 căn nhà tường gạch mái tôn
của bà G (Đánh số 9 theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty
TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc bản đồ Hoàng Thịnh).
Phần đất này (1069,5m
2
) sau khi trừ đi diện tích mộ (33,7m
2
) còn lại là
1035,8m
2
. Bà X, bà G, bà Y đồng sử dụng là phù hợp vì hiện trạng có căn nhà
của bà G, đất có lối đi là đường trãi đá và đủ diện tích tách thửa theo quy định
của Quyết định số 100/2024/QĐ-UBND ngày 31/10/2024 của Ủy ban nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
13
Ông Nguyễn Văn M, bà L, ông Nam, bà Ngân, bà Thảo hiện Đ quản lý sử
dụng phần đất này nên cần buộc ông M bà L, ông Nam, bà Ngân, bà Thảo giao
phần đất này cho bà X, bà G, bà Y quản lý, sử dụng.
Phần đất này có giá trị theo Biên bản định giá ngày 26/3/2025 là:
1069,5m
2
x 4.200.000đ/m
2
= 4.491.900.000đ (Bốn tỷ bốn trăm chín mươi mốt
triệu chín trăm nghìn đồng). Bà X, bà G, bà Y mỗi người được hưởng phần giá
trị tương đương là 1.497.300.000đ (Một tỷ bốn trăm chín mươi bảy nghìn ba
trăm đồng).
Do bà X, bà G, bà Y nhận dư phần diện tích của ông M là 1069,5m
2
–
1023,8m
2
= 45,7m
2
. Phần diện tích này có giá trị theo Biên bản định giá ngày
26/3/2025 là: 45,7m
2
x 4.200.000đ/m
2
= 191.940.000đ (Một trăm chín mươi mốt
triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Bà X, bà G, bà Y phải bồi hoàn cho ông
M giá trị phần diện tích này là phù hợp.
Trên phần đất diện tích 1069,5m
2
có tài sản do ông Nguyễn Văn M xây
dựng đã được liệt kê tại bản án sơ thẩm và Tòa án khu vực buộc bà X, bà G, bà
Y phải bồi hoàn cho ông M giá trị phần tài sản này là phù hợp.
Tổng cộng bà X, bà G, bà Y phải bồi hoàn cho ông M số tiền là:
271.155.691 đồng nên mỗi người phải bồi hoàn cho ông M số tiền là 90.385.231
đồng.
Phần đất diện tích còn lại là 615,1m
2
thuộc một phần thửa đất số 515 và
515-1, tờ bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành
phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ
hiện trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo
đạc bản đồ Hoàng Thịnh do ông Nguyễn Văn M hưởng là phù hợp vì hiện có
căn nhà ông M Đ quản lý sử dụng. Phần đất này có đất ở, có lối đi là đường
Nguyễn Thị Nê, về mặt giá trị tính trên từng mét vuông đất thì có giá trị lớn hơn
so với phần đất của bà X, bà G, bà Y được hưởng.
[2.2.4] Do chia thừa kế quyền sử dụng đất cho bà X, bà G, bà Y và việc
cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Văn M là chưa phù hợp nên Tòa án khu
vực quyết định hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ
1305 QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho ông
Nguyễn Văn M đối với phần đất diện tích 2738m
2
thuộc thửa đất số 515 và 515-
1, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) là có căn cứ.
Xét đây là thủ tục hành chính, cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ
vào bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án để thực hiện khi có yêu cầu.
Ông Nguyễn Văn M hiện Đ giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nêu trên nên cần buộc ông M giao lại cho cơ quan nhà nước có thẩm
quyền để làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà X, bà
G, bà Y và ông M theo quy định.
[3] Bản án sơ thẩm đã xem xét, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện để
giải quyết vụ án. Bản án đã xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tại Tòa phúc
14
thẩm người kháng cáo không cung cấp thêm được chứng cứ nào mới nên không
có căn cứ để chấp nhận kháng cáo. Do đó, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo
đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Võ Thị Thu L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và L phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn
M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu L. Giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.
- Công nhận phần đất diện tích 1684,6m
2
thuộc thửa đất số 515 và 515-1,
tờ bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ
Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ hiện
trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc
bản đồ Hoàng Thịnh và Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/3/2025 là
di sản của ông Nguyễn Văn Ập và bà Trần Thị E.
- Chia di sản theo pháp luật cho bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà
Nguyễn Thị Y phần đất diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ
bản đồ số 15 (TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) theo Khu 1 – Bản đồ hiện trạng vị
trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc bản đồ
Hoàng Thịnh có tọa độ góc ranh được xác định bằng các điểm như sau:
+ Điểm 1 (điểm hiệu số 3) tọa độ: X(m): 1217935.93 và Y(m): 587344.93
+ Điểm 2 (điểm hiệu số 4) tọa độ: X(m): 1217928.07 và Y(m): 587350.69
+ Điểm 3 (điểm hiệu số 5) tọa độ: X(m): 1217920.71 và Y(m): 587356.00
+ Điểm 4 (điểm hiệu số 6) tọa độ: X(m): 1217889.24 và Y(m): 587376.33
+ Điểm 5 (điểm hiệu số 7) tọa độ: X(m): 1217879.53 và Y(m): 587360.76
+ Điểm 6 (điểm hiệu số 8) tọa độ: X(m): 1217921.90 và Y(m): 587330.01
+ Độ dài cạnh từ điểm 1 đến điểm 2 là 9,75m; độ dài cạnh từ điểm 2 đến
điểm 3 là 9,07m; độ dài cạnh từ điểm 3 đến điểm 4 là 37,47m; độ dài cạnh từ
điểm 4 đến điểm 5 là 18,35m; độ dài cạnh từ điểm 5 đến điểm 6 là 52,35m; độ
dài cạnh từ điểm 6 đến điểm 1 là 20,5m.
Trong đó:
15
+ Công nhận cho Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Y
phần đất diện tích là 1035,8m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15
(TL 02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là
xã P, Thành phố Hồ Chí Minh).
+ Không công nhận cho Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn
Thị Y phần đất diện tích mộ là 33,7m
2
(Đánh số 12 theo Khu 1 – Bản đồ hiện
trạng vị trí ngày 03/6/2025 của Công ty TNHH MTV Thiết kế xây dựng đo đạc
bản đồ Hoàng Thịnh) thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15 (TL
02/CT-UB) tọa lạc tại xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã
P, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 1305
QSDĐ/ĐG ngày 24/7/2001 do Ủy ban nhân dân huyện Củ Chi cấp cho ông
Nguyễn Văn M đối với phần đất đã chia cho bà Nguyễn Thị X, bà Nguyễn Thị
G và bà Nguyễn Thị Y diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ
bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P,
Thành phố Hồ Chí Minh).
- Buộc ông Nguyễn Văn M, bà Võ Thị Thu L, ông Nguyễn Hoài N, bà
Nguyễn Thu N, bà Nguyễn Thị Phương T có nghĩa vụ giao cho Nguyễn Thị X,
bà Nguyễn Thị G và bà Nguyễn Thị Y quản lý phần đất diện tích 1069,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 515, tờ bản đồ số 15, tọa lạc xã P, huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã P, Thành phố Hồ Chí Minh). Giao ngay khi
bản án có hiệu lực pháp luật.
- Buộc bà Nguyễn Thị X có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231đ (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm
ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà X chậm trả tiền thì
bà X phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bà Nguyễn Thị G có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231đ (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm
ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà G chậm trả tiền thì
bà G phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Buộc bà Nguyễn Thị Y có trách nhiệm thanh toán cho ông Nguyễn Văn
M số tiền là 90.385.231đ (Chín mươi triệu ba trăm tám mươi lăm nghìn hai trăm
ba mươi mốt đồng), thanh toán ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Y chậm trả tiền thì
bà Y phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi
16
suất phát sinh do chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị X và bà Nguyễn Thị G được miễn án phí.
Bà Nguyễn Thị Y phải chịu số tiền án phí sơ thẩm là 61.438.262đ (Sáu
mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi tám nghìn hai trăm sáu mươi hai đồng).
Ông Nguyễn Văn M phải chịu số tiền án phí là 300.000đ (Ba trăm nghìn
đồng).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Văn M phải chịu là 300.000 đồng được khấu trừ vào
biên lai tạm ứng án phí đã nộp số 0017621 ngày 23/3/2026 của Thi hành án dân
sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thu L phải chịu là
300.000 đồng được khấu trừ vào biên lai tạm ứng án phí đã nộp số 0017619
ngày 23/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L đã nộp
đủ án phí dân sự phúc thẩm
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- VKSND Tp HCM;
- TAND Khu vực 8;
- THADS Tp HCM;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Nguyên Nguyên
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1693/2026/DS-PT Bản án số 1693/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1693/2026/DS-PT Bản án số 1693/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất