Bản án số 29/2026/KDTM-PT ngày 21/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về thế chấp

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2026/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 29/2026/KDTM-PT ngày 21/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về thế chấp
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 29/2026/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/05/2026
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Võ Đức T yêu cầu tiền lãi trong hợp tác kinh tế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 29/2026/KDTM-PT.
Ngày: 21-5-2026.
V/v Tranh chấp tiền lãi trong hợp
tác kinh tế”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Đỗ Thị Thúy Năng
Ông Ngô Hà Nam
Trần Thị Thanh Mai
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Đặng Ngọc
Hoài Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 21 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 03/2026/KDTM-PT ngày 02 tháng 02
năm 2026 về việc: “Tranh chấp tiền lãi trong hợp tác kinh tế”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 16
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 117/2026/QĐ-PT ngày 02
tháng 4 năm 2026, Thông báo hoãn phiên tòa số: 150/TB-TA ngày 02 tháng 4 năm
2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Võ Đức T- sinh năm: 1964; Địa chỉ (cũ): 257/11 đường
Đ, phường H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ mới: F X, phường H, thành phố Đà
Nẵng. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Văn H sinh năm 1963; Địa chỉ: K
Ông Í, phường H, thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền ngày 22/4/2022).
mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần E. Trụ sở: 31 đường H, phường H, thành phố Đà
Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Phạm Thị C Chức vụ: Chủ tịch
HĐQT kiêm Giám đốc. Vắng mặt.
2
3. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Võ Đức T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong qtrình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người
đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn H trình bày:
Năm 2009 ông Đức T đã ký bản thỏa thuận hợp tác kinh tế với với
Công ty Cổ phần E (“sau đây gọi Công ty E”). Nội dung thỏa thuận đã được thể
hiện trong các biên bản thỏa thuận trong hồ vụ án. Công ty E đã 06
công trình hợp tác thi công với ông Võ Đức T. Chủ đầu tư của cả 06 công trình này
là: Ban Q. Trong quá trình hợp tác với nhau những mâu thuẩn xảy ra nên ngày
04/3/2011 ông Đúc T1 làm đơn xin từ chức đến ngày 05/3/2011 Công ty E
đã ra quyết định “ về việc đồng ý cho ông Đức T thôi giữ chức phó giám đốc "
(Có đơn xin từ chức Quyết định trong hồ vụ án kèm theo văn bản giải
trình này). Kể từ ngày ông Võ Đức T quyết định thôi giữ chức giám đốc thì ông
Đức T2 còn trách nhiệm trong mọi công việc của Công ty E (theo điều 2
quyết định).
Sau đó ông Đức T rất nhiều lần yêu cầu Công ty E họp đề nghị cung cấp
cho bên liên doanh số liệu quyết toán cuối năm xử các vấn đề tồn tại trong
quá trình ông V đã hợp tác liên doanh, cũng như yêu cầu chia lãi suất. Nhưng Công
ty E không thực hiện. Vì quá bức xúc nên năm 2014 ông Võ Đức T làm đơn tố cáo
hành vi chiếm đoạt tài sản đến quan Cảnh sát điều tra giải quyết. Nên sau đó
đến năm 2016 ông Đức T gởi đơn khởi kiện Công ty E ra Tòa án nhân dân
quận Hải Châu giải quyết yêu cầu tòa án buộc Công ty E chia tiền lãi suất
ông Đức T đã liên doanh hợp tác thi công cùng với Công ty k từ ngày
01/01/2009 đến ngày 31/12/2010.
Trong quá trình giải quyết v án Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà
Nẵng thấy cần thiết phải Trưng cầu Công ty kiểm toán độc lập để kiểm toán phần
doanh thu, chi phí các công trình theo các hợp đồng hợp tác giữa ông Đức T và
Công ty E. Nên ngày 08/3/2016 Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng đã
tiến hành kết Hợp Đồng Kiểm toán với CN ng ty TNHH K tại Đà Nẵng (Có
hợp đồng kiểm toán trong hồ vụ án kèm theo văn bản giải trình này). Trong
quá trình kiểm toán CN Công ty TNHH K tại Đà Nẵng, đã gởi công văn số
022/CV-AA thông báo cho Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng về việc
đề nghị Công ty E cung cấp các chứng từ, hóa đơn, hồ nghiệm thu thanh toán
từng lần của các công trình vv... Công ty E xác nhận thời gian cung cấp các hồ
sơ nêu trên vào ngày 20/4/2016 và 28/4/2016 (Có văn bản này trong hồ sơ vụ án và
kèm theo văn bản giải trình này). Công ty K tại Đà Nẵng đã ban hành kết quả: Báo
cáo kiểm toán số 091/2016/BCKT-AA ngày 01/8/2016 (Có báo cáo kiểm toán
trong hồ sơ vụ án).
Trong đơn khởi kiện thì ông Võ Đức T yêu cầu khởi kiện chia lãi trong 06
công trình ông Đức T đã hợp tác thi công. Tuy nhiên theo lời khai tài
liệu chứng cứ bên bị đơn Công ty E cung cấp cho rằng hiện nay Công ty E mới
quyết toán được 03 công trình chúng tôi bên nguyên đơn cũng đồng ý thống
nhất yêu cầu tòa án xem xét giải quyết cho ông Đức T chia lãi suất đã liên
3
doanh hợp tác thi công cùng với Công ty E tổng cộng lợi nhuận sau thuế TNDN:
10.846.512.555 + 3.016.487.639 + 462.275.154= 14.325.275.348 đồng.
Theo hợp tác kinh tế được kết giữa ông Đức T Công ty E quyền lợi
được chia tỷ lệ 1/3 (Bên ông Đức T 01 phần, Bên Công ty 56 02 phần) sau khi
trừ các khoản chi phí do đó: Công ty E phải nghĩa vụ thanh toán chia tiền lãi
cho ông Võ Đức T cụ thể là: 14.325.275.348 đồng :3 = 4.775.091.782 đồng. Trước
đó ông Văn T3 đã tạm ứng 586.000.000 đồng nên: 4.775.091.782-586.000.000
= 4.189.091.782 đồng
* Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Vinh H1
trình bày:
Năm 2009, Công ty E đã ký bản thỏa thuận hợp tác kinh tế với ông Võ Đức T.
Nội dung thỏa thuận đã được thể hiện rõ trong các biên bản thỏa thuận có trong hồ
vụ án. Trong đó, Công ty E đã 06 công trình hợp tác thi công với ông
Đức T. Cụ thể như sau:
1. Hạ tầng k thuật Khu dân B2.1 Đông Trà (thuộc Khu dân thu nhập
thấp Đông Trà).
2. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Khu D thuộc dự án N cầu C (giai đoạn 1).
3. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Đ (giai đoạn 3).
4. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư số 7 dọc tuyến 602.
5. Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị H (thuộc khu đô thị M, đường T nối dài, quận
N, thành phỏ Đà Nẵng).
6. Hạ tầng kỹ thuật và trồng cây xanh khu BV Đ - Đ.
Năm 2015, ông Đức T đã khởi kiện Công ty E để yêu cầu chia tiền i
trong hợp tác kinh tế tại Tòa án nhân dân quận Hải Châu. Thời điểm đó, các bên có
mời Chi nhánh Công ty TNHH K tại Đà Nẵng (địa chỉ: tầng E, Tòa nhà B, số A L,
quận H, thành phố Đà Nẵng) để đánh giá tính phù hợp của các khoản doanh thu,
chi phí lợi nhuận của các công trình nói trên. Trong đó, số liệu kiểm toán do
Công ty E và ông Võ Đức T cung cấp cụ thể như sau:
Tên công trình
Số liệu quyết toán
về lợi nhuận sau
thuế TNDN do
Công ty 56 cung
cấp
Số liệu quyết toán
về lợi nhuận sau
thuế TNDN do ông
Tập cung cấp
HTKT Khu D Cẩm Lệ
1.042.397.221
10.846.512.555
HTKT khu DCTNT Đông Trà GĐ3
63.717.102
3.016.487.639
HTKT Khu đô thị Hòa Hải 1-3
216.887.364
1.331.714.366
HTKT KTĐC số 7 tuyến đường ĐT 602
22.083.528
1.072.960.351
HTKT KDC B2.1 Đông Trà
-14.342.731
462.275.154
Công trình HTKT và trồng cây xanh BV
điều dưỡng Sơn Trà
Chưa có số liệu
Chưa có số liệu
Sau đó, ông Đức T4 rút đơn, vụ án đã bị đình chỉ giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Đến nay, ông Đức T tiếp tục khởi kiện lại với yêu cầu khởi kiện như sau:
“Buộc Công ty E phải chia tiền lãi cho với số tiền 5.576.650.666 đồng (Năm tỷ
4
bảy trăm hai mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ngàn sáu trăm sáu mươi sáu
đồng) đã hợp tác kinh tế thi công 05 công trình ông đã thi công kể từ ngày
10/5/2009 đến ngày 31/12/2010".
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Đức T, Công ty E có ý kiến như sau:
Tại mục 3 Bản thỏa thuận hợp tác kinh tế nội dung như sau: “Mỗi công
trình quyết toán xong khi quyết định cấp vốn của đối tác thì sẽ được phòng kế
toán của Công ty T8, phân bổ chi phí và xác định kết quả kinh doanh của mỗi công
trình trong vòng 15 ngày kể từ ngày hoàn tất thủ tục, hóa đơn chứng từ.
Các bên được nhận phần lãi của mình sau 10 ngày kể từ ngày phòng kế toán
báo cáo tình hình SXKD của Công ty."
Hiện tại, trong 06 công trình hợp tác với ông Đức T thì 03 công trình
được quyết toán đó là Hệ thống hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư thu nhập thấp Đ (theo
Quyết định về việc phê duyệt quyết toán vốn đầu hoàn thành số 3368/QĐ-
UBND ngày 21/04/2011); Hạ tầng kỹ thuật Khu D – Khu dân cư N cầu C giai đoạn
1 (theo Quyết định về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành số 1595 ngày
06/05/2020); Hạ tầng kỹ thuật Khu dân thu nhập thấp Đông Trà giai đoạn 3
(theo Quyết định về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành số 1867/QĐ-
UBND ngày 28/05/2020).
Kết quả kinh doanh của 03 công trình cụ thể như sau:
A. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân B2.1 Đông Trà (thuộc Khu dân thu nhập
thấp Đông Trà).
Số liệu theo kiểm toán Công ty E cung cấp: -14.342.732
Số liệu theo Báo cáo tài chính (BCTC): -53.431.336
Đối với phần lỗ theo BCTC 53.431.336 đồng nhưng Công ty chỉ tính trách
nhiệm phần lỗ với ông T (theo hướng có lợi cho ông T) theo số liệu theo kiểm toán
là: -14.342.732 đồng/3 = -4.780.910 đồng.
Trong khi đó công trình này Công ty E đã tạm tính chỉ lãi cho ông Đức T
là 86.000.000 đồng theo phiếu chi số 28/7 ngày 12/07/2011.
B. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Khu D thuộc dự án N cầu C (giai đoạn 1).
Đối với công trình này, số liệu theo kiểm toán do Công ty E cung cấp lãi là:
1.042.397.221 đồng nhưng sau khi quyết toán BCTC chỉ lãi 647.984.183 đồng.
Đáng lẽ ra, Công ty sẽ chia lãi của công trình này cho ông T theo số liệu của
BCTC nhưng Công ty vẫn tính theo hướng có lợi cho ông T, tính theo số liệu kiểm
toán:
1/3 * 1.042.397.221 đồng= 347.465.740 đồng
C. Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Đ (giai đoạn 3)
Đối với công trình này, số liệu theo kiểm toán do Công ty E lãi là: 63.717.103
đồng nhưng trên thực tế số liệu theo BCTC là: 26.846.806 đồng. Đáng lẽ ra, Công
ty sẽ chia lãi của công trình này cho ông T theo số liệu của BCTC nhưng Công ty
vẫn tính theo hướng có lợi cho ông T, tính theo số liệu kiểm toán:
1/3 * 63.717.103 đồng = 21.239.034 đồng
Vậy, phần lãi Công ty sẽ chia cho ông T đối với công trình Hạ tầng kỹ
thuật Khu dân Khu D thuộc dự án N cầu C (giai đoạn 1) Hạ tầng kỹ thuật
Khu dân cư Đông Trà (giai đoạn 3) là:
5
347.465.740 đồng + 21.239.034 đồng = 368.704.774 đồng
Tuy nhiên, trước khi thực hiện việc chia lãi, ông Đức T5 thực hiện các
khoản giảm trừ sau:
a) Phân bổ chi phí quyết toán thuế theo quyết định của thanh tra thuế giai
đoạn 2009-2010 đối với công trình HTKT Khu dân thu nhập thấp Đ (Khu B)
331.894 đồng, công trình Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Khu D thuộc dự án N cầu C
(giai đoạn 1) 533.272.328 đồng Công trình Hạ tầng k thuật Khu dân Đ
(giai đoạn 3) là 95.303.890 đồng.
Vậy phần thuế ông Võ Đức T phải chịu là:
(533.272.328 đồng + 95.303.890 đồng + 331.894 đồng)/3 = 209.636.038
đồng
b) Đối với công trình Viện Điều Dưỡng không được nghiệm thu thanh
toán, giá trị thiệt hại là: 701.899.016 đồng.
Vậy, ông Võ Đức T6 phải chiu 1/3 giá trị thiệt hai là: 701.899.016/3 =
233.966.339 đồng
Vậy, tổng số tiền ông Đức T đã nhận và có nghĩa vụ hoàn trả cho Công ty
E từ 03 Công trình Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư B2.1 Đông Trà (thuộc Khu dân cư
thu nhập thấp Đ), công trình Hạ tầng k thuật Khu dân Khu D thuộc dán N
cầu C (giai đoạn 1) và Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Đông Trà (giai đoạn 3) sau khi
đã trừ đi lãi của các công trình hoàn thành là:
(86.000.000 đồng + 209.636.038 đồng + 233.966.339 đồng + 500.000.000
đồng) - 363.923.864 đồng = 665.678.513 đồng.
Do vẫn còn hai công trình mục D dưới đây chưa quyết toán nên Công ty E
chưa tính toán hết các quyền nghĩa vụ tài chính của ông Đức T7 Công ty E
tạm thời chưa yêu cầu ông T thanh toán số tiền 665.678.513 đồng này, sau khi
quyết toán hai công trình sẽ trù phần lợi nhuận ông T được chia. Sau khi trừ
nếu ông T còn dương tiền thì Công ty E thanh toán phần dương cho ông T, nếu ông
T âm tiền thì ông T có nghĩa vụ thanh toáncho Công ty 56 phần âm này.
Đối với 02 công trình còn lại Hạ tầng kỹ thuật Khu dân số 7 dọc tuyến
602 và Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị H: theo nguyên tắc hợp tác thì các bên chỉ tính
lãi khi quyết toán, hiện nay hai công trình này chưa quyết toán, thậm chí Khu
DC số 7 hiện còn đang thi công. Tuy nhiên, khi theo số liệu kiểm toán do Công ty
E cung cấp thì lợi nhuận sau thuế TNDN (tính đến thời điểm của ông T hợp tác
sau này ông T tự ý bỏ ngang công trình) là:
+ Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư số 7 dọc tuyến 602: 22.083.528 đồng.
+ Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị H: 216.887.364 đồng.
Sau khi 02 công trình nói trên được quyết toán, Công ty E sẽ đối chiếu phần
công nợ với ông Võ Đức T.
Với yêu cầu khởi kiện của ông T đối với Công ty E cho thấy ông T cung cấp
số liệu lợi nhuận không chính xác. Đồng thời, ông T chưa trừ các khoản tạm
ứng lợi nhuận, chưa tính các khoản chi phí được phân bnhư: Thoả thuận hợp tác
mà các bênkết nên Công ty E không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Nguyên
đơn
6
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án thẩm số: 35/2025/KDTM-ST
ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng đã quyết
định:
Căn cứ Điều 4 Luật Thương mại 2005; Điều 388, Điều 412; Điều 414 BLDS
2005; Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 217 BLTTDS 2015;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Bác yêu cầu của ông Võ Đức T đối với Công ty E về việc yêu cầu trả
tiền lãi trong hợp tác kinh tế.
Đình chỉ xét xử yêu cầu giải quyết đối với 3 công trình:
- Công trình Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư S dọc tuyến 602
- Hạ tầng kỹ thuật Khu đô thị H (thuộc khu đô thị M, đường T nối dài, quận
N, thành phố Đà Nẵng)
- Công trình HTKT và trồng cây xanh BV điều dưỡng Sơn Trà
2. Án phí kinh doanh thương mại thẩm 112.189.092 đồng ông
Đức T5 chịu. Do ông T đã tạm ứng số tiền 56.788.325 ( nộp tại biên lai thu số
0000746 ngày 22/3/2022 tại Chi cục THA dân sự quận H, thành phố Đà Nẵng nay
Phòng THA dân sự khu vực 1 Đà Nẵng) nên còn phải tiếp tục nộp 55.400.767
đồng.
Chi phí kiểm toán 77.000.000 ông Đức T phải chịu đã nộp đủ cho
Công ty TNHH K.
Sau khi xét xử thẩm ngày 30/9/2025 ông Đức T đơn kháng cáo, yêu
cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 16/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 1 theo hướng: Buộc Công ty E phải hoàn trả cho ông lợi
nhuận được chia là: 4.189.091.782 đồng buộc Công ty E phải trả cho ông số
tiền 77.000.000 đồng ông đã nộp cho Công ty TNHH K.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia
phiên tòa:
- Về thủ tục ttụng: Đơn kháng cáo của ông Đức T trong hạn luật định, nên
được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn ông Đức T, sửa Bản án sơ thẩm s 35/2025/KDTM-ST ngày
16/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 1 - Đà Nẵng về án phí kinh doanh thương
mại sơ thẩm, do ông Võ Đức T hiện nay đã trên 60 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận định:
7
[1] Về tố tụng: Công ty Cổ phần E đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai
nhưng vắng mặt, HĐXX căn cứ vào khoản 3 Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến
hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung kháng cáo:
[2.1] Xét kháng cáo của ông Võ Đức T yêu cầu Công ty Cổ phần E thanh toán
tiền lãi của 03 công trình đã quyết toán, tổng cộng lợi nhuận sau thuế thu nhập
doanh nghiệp của 3 công trình: Công trình khu dân B2.1 Đông Trà; Công trình
khu D Nam Cầu Cẩm Lệ; Công trình khu dân Đông Trà giai đoạn 3, với stiền
4.189.091.782 đồng, thấy:
Ngày 10/5/2009, ông Đức T thỏa thuận hợp tác kinh tế với Công ty
Cổ phần E (sau đây gọi tắt Công ty E). Theo thỏa thuận trong Hợp đồng thì ông
Đức T nghĩa vụ góp vốn với số tiền 400.000.000 đồng lợi nhuận sau khi
công trình được quan thẩm quyền phê duyệt quyết toán dán hoàn thành,
theo tỷ lệ 1/3, sau khi trừ các khoản chi phí trừ các chi phí (ông T nhận 1 phần,
Công ty E nhận 3 phần). Sau khi hợp đồng hợp tác, ông T đã chuyển số tiền
400.000.000 đồng cho Công ty E theo phiếu thu số 17 ngày 11/3/2009.
Từ ngày 10/5/2009 đến ngày 31/12/2010, ông T đã trực tiếp: Quản thi
công; phụ trách kỹ thuật công trình; tiếp nhận đất san nền vật tư tại công trình
tham gia điều hành các công trình hợp tác. Tuy nhiên, đến ngày 05/3/2011,
Công ty E đã ban hành quyết định cho ông thôi việc.
Quá trình thực hiện thỏa thuận, đến ngày 10/12/2011 thì hai bên phát sinh
tranh chấp trong việc công khai tài chính, chia lợi nhuận nên ông Đức T đã
khởi kiện Công ty E để yêu cầu trả lại số tiền gốc đã góp vốn. Tại bản án số
17/2015/DSST ngày 22/5/2015 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố
Đà Nẵng (cũ) đã tuyên buộc Công ty E phải có nghĩa vụ trả lại số tiền gốc ông
T đã góp vốn với Công ty E.
Căn cứ vào:
- Quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành số 3368/QĐ-UBND
ngày 21/04/2011 của UBND thành phố Đ đối với Dự án: Hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Khu dân thu nhập thấp Đông Trà . Hạng mục: San nền, giao thông, thoát nước
khu B2.1. Thời gian thực hiên: Năm 2009. Trong đó đầu được thẩm tra quyết
toán là: 3.999.211.000 đồng. (BL 454).
- Quyết định về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành số 1595 ngày
06/05/2020 của UBND thành phố Đ đối với Dự án: Hạ tầng kỹ thuật Khu D Khu
dân N cầu C (giai đoạn 1). Hạng mục: San nền, giao thông, thoát nước. Thời
gian thực hiên: Năm 2009 -2017. Trong đó chi phí đầu được quyết toán là
75.256.023.000 đồng (BL 496).
- Quyết định về việc phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành số 1867/QĐ-
UBND ngày 28/05/2020 của UBND thành phố Đ đối với Dự án: Hạ tầng kỹ thuật
Khu dân thu nhập thấp Đông Trà giai đoạn 3. Hạng mục: San nền, giao thông,
thoát nước cấp nước. Thời gian thực hiên: Năm 2009 -2017. Trong đó, giá trị
quyết toán: 21.335.777.000 đồng (BL 481).
Nhận thấy: Việc bóc tách rời khối lượng giai đoạn thi công từ năm 2009
đến 2010 không thể đưa ra con số cụ thể chính xác việc lời lãi cho cả công trình.
8
Vì vậy, cần lấy kết quả Báo cáo kiểm toán số 091/2016/BCKT-AA ngày 01/8/2016
Công ty TNHH K tại Đà Nẵng và dựa trên số liệu quyết toán do Công ty E cung
cấp để tính chia lợi nhuận cho 03 công trình là có căn cứ.
Đối với công trình Hạ tầng kỹ thuật Khu dân Khu D thuộc dán N cầu C
(giai đoạn 1), theo báo cáo kiểm toán và báo cáo tài chính của Công ty E bị lỗ,
công trình không có lợi nhuận.
Đối với dự án HTKT Khu D KDC Nam cầu C (giai đoạn 1) HTKT KDC
thu nhập thấp Đ (giai đoạn 3), theo báo cáo tài chính của Công ty E lợi nhuận thấp
hơn kết qủa báo cáo của Công ty TNHH K tại Đà Nẵng, nhưng Công ty E vẫn lấy
số liệu do Công ty TNHH K tại Đà Nẵng cung cấp đchia lợi nhuận cho ông T
có lợi cho ông T.
Mặt khác, theo Thông báo số: 20/TB-56 ngày 25/5/2022 của Công ty E gửi
ông Đức T nội dung sau: Trong năm 2020-2021 Công ty E đã thực hiện
quyết toán hoàn thành dự án HTKT Khu D KDC Nam cầu C (giai đoạn 1)
HTKT KDC thu nhập thấp Đ (giai đoạn 3), thống nhất chia lợi nhuận của 02 Công
trình tính đến ngày 31/12/2010:
- Hạ tầng kỹ thuật Khu dân Khu D thuộc dự án N cầu C (giai đoạn 1):
1.042.397.221.
- Hạ tầng kỹ thuật Khu dân - cư Đông Trà (giai đoạn 3): 63.717.103 đồng.
Như vậy căn cứ vào hợp đồng hợp tác, phần lãi mà Công ty s chia cho ông T
đối với 02 công trình nêu trên, tương ứng lãi 1/3 của 02 công trình là: 347.465.740
đồng + 21.239.034 đồng = 368.704.774 đồng là có căn cứ.
Tuy nhiên, Công ty E cho rằng: Trước khi thực hiện việc chia lãi yêu cầu ông
Đức T trừ các khoản tiền phạt do thanh tra thuế ghi nhận sau kết quả kinh
doanh của đơn vị bắt đầu hợp tác 2009-2011. Trong năm: 2010: 848.844.126 đồng
và năm 2011: 305.407.140 đồng.
Công ty E đã phân bổ chi phí quyết toán thuế theo quyết định của thanh tra
thuế giai đoạn 2009-2010 đối với công trình HTKT Khu dân thu nhập thấp Đ
(Khu B) là 331.894 đồng, công trình Hạ tầng kỹ thuật Khu dân cư Khu D thuộc dự
án N cầu C (giai đoạn 1) 533.272.328 đồng Công trình Hạ tầng k thuật Khu
dân Đ (giai đoạn 3) 95.303.890 đồng. Phần thuế ông Đức T phải chịu là:
(533.272.328 đồng + 95.303.890 đồng + 331.894 đồng)/3 = 209.636.038 đồng.
Xét thấy:
Tại Quyết định số: 1446/QĐ-CT ngày 10/5/2012 về việc điều chỉnh Quyết
định về thuế, xử phạt vphạm hành chính s41/QĐ-CT ngày 10/01/201 của Cục
thuế thành phố Đ, giai đoạn thanh tra 2009-2021, đối với Công ty E, bao gồm:
Truy thu thuế do khai sai theo Điều 107 Luật Quản thuế, số tiền: 305.390.066
đồng; Xử phạt 10% đối với hành vi khai sai làm giảm số tiền thuế phải nộp, số tiền
phạt là: 305.390.066 x 10%= 30.593.007 đồng; Xử phạt chậm nộp thuế 0,05% trên
số tiền thuế chậm nộp do khai sai nh đến ngày hết hạn nộp thuế GTGT tính đến
ngày 27/4/20125, số tiền phạt 512.915.054 đồng. Tổng cộng số tiền phạt và truy
thu thuế là: 848.844.126 đồng (BL 201).
Tại Quyết định số 186/QĐ-CT ngày 26/01/2016 về việc xử phạt vi phạm hành
chính về thuế của Cục thuế thành phố Đ đối với Công ty E, bao gồm: Phạt 10%
9
tính trên số tiền GTGT, thuế TNDN thiếu của năm 2011 do khai sai với số tiền
phạt: 16.845.441 đồng; P chậm nộp thuế GTGT, thuế TNDN theo mức 0,05% mỗi
ngày chậm nộp trên thuế GTGT do khai sai dẫn đến thiếu thuế phải nộp với số
tiền: 41.439.074 đồng; Biện pháp khắc phục hậu quả: Truy thu số tiền thuế GTGT,
thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 là: 168.454.414 đồng; Số tiền chậm nộp
thuế GTGT, thuế TNDN truy thu do hành vi kê khai sai làm giảm số thuế phải nộp
(theo mức 0,05%/ngày): 78.668.211 đồng. Tổng cộng số tiền thuế GTGT, thuế
TNDN truy thu, tiền chậm nộp phạt nh chính về thuế phải nộp vào NSNN là:
305.407.140 đồng (BL197).
Hội đồng xét xử xét thấy, đối với nội dung của 02 Quyết định xử phạt vi
phạm hành chính về thuế nêu trên là do lỗi của Công ty E không phải do lỗi của
ông T. Cấp sơ thẩm đã chấp nhận khấu trừ phần thuế ông Võ Đức T phải chịu cùng
với Công ty E là: 209.636.038 đồng là không có cơ sở.
Như vậy phần lãi Công ty E phải chia cho ông T đối với 02 công trình
nêu trên là: 368.704.774 đồng căn cứ. Tuy nhiên, do tổng cộng số tiền ông T
xác định đã nhận từ Công ty E 586.000.000 đồng (Nhiều hơn số tiền lợi nhuận
từ 3 công trình) nên cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Đức T đối
với Công ty E về việc yêu cầu trả tiền lãi trong hợp tác kinh tế là có cơ sở.
Do Công ty E không yêu cầu phản tố trả lại số tiền cho rằng còn 03
công trình mà các bên hợp tác chưa được quyết toán nên không đề cập xem xét giải
quyết, sau này các bên tranh chấp thể khởi kiện bằng một vụ án khác, nên
không đề cập đến.
[2.2] Đối với nội dung ông T kháng cáo cho rằng Tòa án cấp thẩm chưa
đánh giá đúng giá trị chứng minh của các chứng từ thực tế tại công trường; số liệu
khối lượng đất giá trị thành tiền do Công ty E cung cấp dấu hiệu chồng
kết quả kiểm toán xác định lợi nhuận sau thuế của 03 công trình
14.325.275.348 đồng, ông được chia 1/3 lợi nhuận. Sau khi trừ số tiền ông đã tạm
ứng: 586.000.000 đồng, Công ty E còn thanh toán cho ông: 4.189.091.782 đồng,
thấy:
Như đã nhận định phân tích trên: Theo số liệu do ông Đức T cung cấp
khối lượng thi công giai đoạn từ năm 2009 đến 2010 không thể đưa ra con số cụ
thể chính xác. vậy, cần căn cứ vào kết quả Báo cáo kiểm toán số
091/2016/BCKT-AA ngày 01/8/2016 Công ty TNHH K tại Đà Nẵng và dựa trên s
liệu quyết toán do Công ty E cung cấp để tính chia lợi nhuận cho các công trình là
có cơ sở.
[2.3] Đối với kháng cáo chi phí kiểm toán 77.000.000 đồng, do yêu cầu của
ông Võ Đức T không được chấp nhận, nên cấp thẩm quyết định ông T phải chịu
là có căn cứ.
Từ nhận định và phân tích trên, HĐXX cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn
bộ kháng cáo của ông Đức T, giữ nguyên án thẩm như đề nghị của đại diện
VKS tại phiên tòa.
[2.4] Đối với án phí kinh doanh thương mại thẩm: Tại phiên tòa phúc
thẩm, ông T có nộp đơn miễn án phí do ông T đã trên 60 tuổi.
10
Xét thấy: Ông Đức T sinh ngày 06/12/1964 hiện nay đã trên 60 tuổi, theo
quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông
T người cao tuổi, nên được miễn án phí. Cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm về nội
dung này, ông T được miễn án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
[3]
Các phần quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đức T người cao tuổi nên không
phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Đức T, sửa án Bản án dân sự
thẩm số: 35/2025/KDTM-ST ngày 16 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Đà Nẵng về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Không chấp nhận yêu cầu của ông Võ Đức T đối với Công ty E về việc yêu cầu trả
tiền lãi trong hợp tác kinh tế.
Căn cứ: Điểm đ Điều 12 Ngh quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm ông Đức T không phải chịu.
Hoàn trả lại cho ông Đức T tạm ứng án phí 56.788.325 đồng (Năm mươi sáu
triệu bảy trăm tám mươi tám nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) đã nộp tại biên lai
thu số 0000746 ngày 22/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu,
thành phố Đà Nẵng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - thành phố Đà
Nẵng).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Đức T không phải chịu. Hoàn trả lại tạm
ứng án phí 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho ông Đức T đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003743 ngày 15/10/2025 của Thi hành án
dân sự thành phố Đà Nẵng.
Chi phí kiểm toán 77.000.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu đồng) ông Đức T
phải chịu và đã nộp đủ cho Công ty TNHH K.
Các phần quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị Hội đồng xét xử không giải quyết, hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời
hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận
- Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng;
- Thi hành án dân sự Tp. Đà Nẵng;
- Tòa án nhân dân khu vực 1;
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Thúy Năng
11
12
Tải về
Bản án số 29/2026/KDTM-PT Bản án số 29/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 29/2026/KDTM-PT Bản án số 29/2026/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất