Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 15/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 15/2025/DS-ST ngày 28/02/2025 của TAND huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Đức Trọng (TAND tỉnh Lâm Đồng)
Số hiệu: 15/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/02/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé về “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Phạm Thị Xuân Hồng, bà Trần Thị Xuân Hương. Tuyên bố hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở lập ngày 21/3/2023 đối với thửa đất số 29, tờ bản đồ số 24, xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng giữa bà Nguyễn Thị Bé và bà Phạm Thị Xuân Hồng vô hiệu. Buộc bà Phạm Thị Xuân Hồng có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Bé số tiền 285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng). Buộc bà Nguyễn Thị Bé giao trả cho bà Phạm Thị Xuân Hồng thửa đất số 29, tờ bản đồ địa chính số 24 xã Tân Hội, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng theo trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đức Trọng thực hiện ngày 20/9/2023.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC TRỌNG
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 15/2025/DS-ST
Ngày: 28 02 2025
V/v tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC TRỌNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Trần Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Cao Đình Nhân
2. Bà Nguyễn Thị Lan Hương
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thảo Trang Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Phương Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại Trụ s Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm
Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 227/2024/TLST-DS ny 14
tng 5 m 2024, v việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng quyền s
dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 01/2025/QĐXXST-DS ngày 05
tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà s 01/2025/QĐST-DS ngày 20
tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:Nguyn Th B, sinh năm: 1990.
Địa ch: T X, thôn A, xã N, thành ph Đà Lt, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại din hp pháp của nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm:
1994, địa ch: S Y, Quc l V, th trn N, huyn Đ, tỉnh Lâm Đồng. người đại
din theo y quyn theo giy y quyn ngày 03 tháng 5 năm 2024 (có mt ti phiên
toà).
2. Bị đơn: Bà Phạm ThXuân H, sinh năm: 1964 Trần Thị Xuân H1,
sinh năm: 1988.
2
Cùng địa chỉ: m A, thôn P, xã T, huyn Đ, tnh Lâm Đồng (vng mt ti
phiên toà).
3. Người quyn li, nghĩa v liên quan: Nông Th S, sinh năm: 1958,
địa ch: Thôn P, xã T, huyn Đ, tnh Lâm Đồng (vng mt ti phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2024 nguyên đơn Nguyễn ThB,
trong quá trình giải quyết ván tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của
nguyên đơn đều trình bày:
Thông qua môi giới trên mạng xã hội nên vào ngày 21/3/2023 Nguyễn
Thị B nhận chuyển nhượng của Phạm Thị Xuân H, bà Trần Thị Xuân H1
một lô đấtdiện tích 1.094,9m
2
thuộc thửa đất số 29, tờ bản đ 24 xã T, huyện Đ,
tỉnh Lâm Đồng với giá 295.000.000 đồng. Hai bên lập hợp đồng đặt cọc viết tay,
tại thời điểm lập hợp đồng đặt cọc, bà B đặt cọc số tiền 30.000.000 đồng, sau đó
một thời gian thì bà B chuyển tiếp số tiền còn lại cho bà H thông qua tài khoản của
H1 là con gái bà H. Trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng thì bà H1, bà H
người trực tiếp giao dịch với B. Sau đó, H, H1 bớt cho B số tiền
10.000.000 đồng. Còn lại 285.000.000 đồng giá trị thực của hợp đồng thì B
đã chuyển trả đủ. Tuy nhiên, cho tới nay H và H1 không tiến hành làm thủ
tục sang tên cho B được do thửa đất trên thuộc quy hoạch đất lâm
nghiệp. Nay bà B đề nghị Toà án giải quyết tuyên huỷ hợp đồng đặt cọc hai bên đã
kết buộc H bà H1 phải nghĩa vụ liên đới trả cho B số tiền
285.000.000 đồng, bà B không yêu cầu phạt cọc.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, qtrình giải quyết ván bđơn bà
Phạm Thị Xuân H trình bày:
cần vốn làm ăn nên vào ngày 21/3/2023 bà chuyển nhượng cho
Nguyễn Thị B đất diện tích 1.094,9m
2
toạ lạc tại T, huyện Đ, tỉnh Lâm
Đồng với giá 285.000.000 đồng, hiện trạng là đất trống. Nguồn gốc đất là do cH bà
tên Trần Xuân V tự khai hoang, ông V đã chết cách đây 11 năm, gia đình bà vẫn
canh tác trồng hoa màu ngắn ngày bình thường, không tranh chấp với ai. Khi
chuyển nhượng chỉ nói chuyển nhượng theo trích lục. thừa nhận đã nhận
số tiền 285.000.000 đồng của B gửi vào tài khoản H1 (con gái) đúng, số
tiền này bà H1 cũng đã đưa cho bà. Sau này, khi không làm được giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho Nguyễn Thị B do thửa đất thuộc quy hoạch đất
lâm nghiệp. Nay bà B khởi kiện yêu cầu huỷ hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng đất
buộc bà con gái Trần Thị Xuân H1 phải trách nhiệm liên đới trả cho
Nguyễn Thị B số tiền 285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng) thì
không đồng ý trả cho bà B một lúc 285.000.000 đồng. Tại Công an huyện Đ khi bà
3
B tố cáo thì bà đã nói với B trả dần 01 năm 20.000.000 đồng cho đến khi hết
số tiền trên nhưng bà B không đồng ý thì thôi.
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, qtrình giải quyết ván bđơn bà
Trần Th Xuân H1 trình bày:
H1 ý kiến cho rằng đất là của bố mẹ, bố đã mất thì mẹ có quyền quyết
định đối với tài sản của bố mẹ. Bà là con trong gia đình, mẹ nói chuyển tiền qua tài
khoản của thì giữ cho mẹ thôi, ch trong hợp đồng đặt cọc với tư
cách là người làm chứng. Số tiền 285.000.000 đồng nhận từ bà B thì bà cũng đã rút
tiền mặt đưa cho mẹ rồi, bà không đồng ý liên đới trcho bà B.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 25 tháng 12 năm 2024, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan bà Nông ThS trình bày:
Bà vông Hoàng KS1, ông S1 chết năm 2016. Ngày 16/8/2002 Uban
nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất theo svào s5597
QSDĐ/666/QĐ H) cho hông Hoàng KS1 được quyền sử dụng 1874m
2
đất tại
xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các thửa đất 43, 44, 45, 46, 47, 48, 73, 74,
75, 76, 88, 89, tbản đsố 51. Sau khi được cấp quyền sử dụng đất gia đình bà
trồng lúa, sau thì trồng ccho bò. Các chsdụng đất liền kề bà không biết là ai.
Giữa đất của gia đình bà và các hgiáp ranh đều có bclàm ranh mốc. Sau khi
ông S1 chết, tháng 3/2024 gia đình lập văn bản thothuận phân chia di sản thừa
kế, chuyển quyền cho bà được toàn quyền sử dụng các thửa đất nêu trên. Nay được
Toà án cho biết diện tích đất 1094,9m
2
trong trích lc bản đ địa chính ngày
20/3/2023, tên người sử dụng đất ông Trần Xuân V đăng ký mt phần diện tích
đã được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho bà (bao gồm các thửa 45, 46,
47, 48, tbản đ51) không có ý kiến, yêu cầu gì. Nếu sau này giữa bà bà H
(vông V) tranh chấp thì skhởi kiện sau. Tranh chấp giữa bà Nguyễn Th
B Phạm Thị Xuân H bà không có ý kiến gì, đề nghị Toà án gii quyết theo
quy định.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ginguyên yêu cầu
khởi kiện, bđơn vắng mặt tại phiên toà không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng phát biểu ý kiến
về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên
tòa là đúng quy định. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Đương sự
đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân
sự.
Về việc giải quyết vụ án:
4
Đề nghị Hội đồng xét x chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn Nguyễn ThB. Tuyên b hp đồng đặt cc v/v chuyển nhượng quyn s
dụng đất, nhà lp ngày 21/3/2023 gia bà Nguyn Th B bà Phạm Thị Xuân H
đối vi thửa đất s 29, t bản đồ s 24, T, huyn Đ, tỉnh Lâm Đồng hiệu.
Buộc Phạm Thị Xuân H nghĩa vụ tr cho Nguyễn Th B s tiền
285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi m triệu đồng). Buộc bà Nguyễn Th B
giao trcho bà Phạm Thị Xuân H thửa đất s 29, t bản đ s 24, T, huyn Đ,
tỉnh Lâm Đồng.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn ThB yêu cầu bà Trần
Thị Xuân H1 có nghĩa vụ liên đới với bà Phạm Thị Xuân H trsố tiền 285.000.000
đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu, chng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại
phn tòa căn cvào kết quả tranh luận tại phn a,a án nhận định:
[1] V tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết:
Xuất phát từ yêu cầu của bà Nguyễn ThB u cầu hủy hợp đồng đặt cọc v/v
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà lập ngày 21/3/2023 gia Nguyn Th
B Phạm Thị Xuân H, đồng thời buộc bà H, bà H1 liên đới trả cho bà B số
tiền cọc 285.000.000 đồng. Bà H, bà H1 không đồng ý nên phát sinh tranh
chấp. Vì vậy, Tòa án xác định đây v án tranh chấp hợp đồng chuyn
nhượng quyền s dng đất theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật T tụng
n s. Bị đơn trú tại T, huyn Đ, tỉnh Lâm Đng, căn cứ quy định tại
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 B lut T tng dân s, v án thuc
thm quyn gii quyết ca Tòa án nhân dân huyn Đ, tnh Lâm Đng.
[1.2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
vắng mặt nhưng có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ
luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự vắng mặt.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
[2.1] Hợp đồng đặt cọc v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà lập ngày
21/3/2023 giữa Nguyễn ThB Phạm Thị Xuân H hợp đồng viết tay
không ng chứng hoặc chứng thực quan thẩm quyền. Việc hai n lập
hợp đồng đặt cọc để đảm bảo giao kết thực hiện việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất diện tích 1094,9m
2
, thuộc thửa đất s 29, t bản đồ s 24 T, huyn
Đ, tỉnh Lâm Đng, theo trích lục bản đđịa chính, chưa được cấp giấy chứng nhận
5
quyền sử dụng đất. Hai bên đều biết vtình trạng pháp lý của thửa đất nhưng
vẫn đồng ý ký kết hợp đồng.
[2.2] Căn cứ vào chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh tại
chính quyền địa phương xác định: Thửa đất số 29, tờ bản đồ số 24 xã T, huyện Đ,
tỉnh Lâm Đồng đứng tên người sử dụng đất ông Trần Xuân V theo trích lục bản đ
địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ thực hiện ngày
20/9/2023. Thửa đất trên mt phần diện tích 394m
2
đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng KS1 vào năm 2002, phần diện tích còn
lại theo trích lục chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, thuộc quy
hoạch đất lâm nghiệp, rừng sản xuất. Theo bản đồ Quy hoạch sử dụng đất đến năm
2030 huyện Đ thì thuộc một phần quy hoạch đất lúa và đất trồng y hàng năm
khác.
[2.3] Như vậy, thửa đất trên theo trích lục bản đđịa chính tên người sử dụng
đất là ông Trần Xuân V, ông V là chồng bà H, ông V đã chết vào năm 2014 theo
Giấy chứng t s09/2014 ngày 04/4/2014. Sau khi ông V chết những người thừa
kế của ông V chưa làm thtục khai nhận di sản thừa kế chưa làm thtục đăng
quyền sdụng đất đối với thửa đất số 29, tờ bản đồ số 24 xã T, huyện Đ, tỉnh
Lâm Đồng theo quy định. Mặt khác, thửa đất trên một phần diện tích đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng KS1. Do đó H chưa
phải là chủ sử dụng đất, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà
H chưa đđiều kiện thực hiện các quyền của người sdụng đất theo quy định tại
Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Việc bà H hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích
chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B là vi phạm quy định tại Điều 117, 122,
123 Bộ luật Dân sự nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất trên bị vô
hiệu. Khi hợp đồng hiệu, các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả lại
cho nhau những đã nhận quy định tại Điều 131 Bộ luật dân sự. Bà H thừa nhận
đã nhận của bà B stiền 285.000.000 đồng nên buộc bà H phải trả lại cho bà B s
tiền trên là căn cứ, Hội đồng xét xchấp nhận. Hai bên xác nhận bà H đã giao
đất cho bà B nên buộc bà B trlại cho bà H thửa đất số 29, tờ bản đồ số 24 xã T,
huyện Đ, tỉnh Lâm Đng.
[2.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bà Trần ThXuân H1 nghĩa v
liên đới cùng trlại tiền cọc thì thấy: Bà H1 con gái của bà H, bà H1 tuy ký
tên trong hợp đồng đặt cọc v/v chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà nhưng ch
với tư cách người làm chứng. Mặt khác, quá trình giải quyết ván, bà B xác
nhận B đã chuyển stiền 285.000.000 đồng cho H thông qua tài khoản của
H1. Bà H tha nhận đã nhận số tiền 285.000.000 đồng của B gửi vào tài
khoản bà H1, số tiền này bà H1 cũng đã đưa cho bà H. Do đó, không có cơ sở buộc
6
bà H1 có nghĩa vụ liên đới cùng trtiền cọc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
bà B.
[3] Về yêu cầu phạt cọc: Nguyên đơn không yêu cầu phạt cọc nên Hội đồng
xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về chi phí tố tụng: Xét việc xem xét, thẩm định tại chỗ cần thiết cho
việc giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết ván, bà B đã nộp tạm ứng chi phí xem
xét, thẩm định tại chỗ là 1.300.000 đồng. Do yêu cầu của bà B được chấp nhận nên
bà H phải chịu 1.300.000 đồng án phí xem xét, thẩm định tại chỗ, bà B đã tạm nộp
nên buộc bà H phải trả lại bà B số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn
đồng).
[5] Quá trình giải quyết ván, qua xác minh tại UBND xã T được biết một
phần thửa đất số 29, tờ bản đồ số 24 xã T, huyện Đ, tnh Lâm Đồng đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Hoàng Kỳ S1. Ông Hoàng Kỳ S1 chết
vào năm 2016, toàn bquyền sử dụng đất trong giấy chứng nhận quyền sdụng
đất svào s5597 QSDĐ/666/QĐ (H) ngày 16/8/2002 đã chuyển quyền cho vlà
Nông Th S. Toà án đã tiến hành lấy lời khai của bà Nông ThS, S không có
ý kiến, yêu cầu gì trong ván nên Hội đồng xét xkhông xem xét, sau này nếu
phát sinh tranh chấp bà S, bà H được quyền khởi kiện bằng ván khác.
[6] Về án phí: Lra Phạm Thị Xuân H phải chịu án phí dân sthẩm.
Tuy nhiên, do bà H sinh năm 1964, tính đến thời điểm xét xđã trên 60 tuổi nên
cần miễn toàn bán phí dân sự sơ thẩm cho bà H theo quy định ti điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều
228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự m 2015;
Căn cứ các Điều 171, 122, 123, 131, 328 B lut Dân s;
Căn cứ Điều 168, Điều 188 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
7
1. Chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn ThB về tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với bị đơn Phạm Th
Xuân H, bà Trn Thị Xuân H1.
Tuyên b hợp đồng đặt cc v vic chuyển nhượng quyn s dụng đt, nhà
lp ngày 21/3/2023 đối vi thửa đt s 29, t bản đ s 24, T, huyn Đ, tnh
Lâm Đồng gia bà Nguyn Th B bà Phạm Thị Xuân H vô hiệu.
Buộc Phạm Thị Xuân H nghĩa v tr cho Nguyễn Th B s tiền
285.000.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng).
Buộc bà Nguyễn ThB giao trcho bà Phạm Thị Xuân H thửa đất số 29, t
bản đồ địa chính s24 xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng theo trích lục bản đđịa
chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ thực hiện ngày 20/9/2023.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi nh án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn ThB yêu cầu bà Trần
Thị Xuân H1 có nghĩa vụ liên đới với bà Phạm Thị Xuân H trsố tiền 285.000.000
đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu đồng).
3. Về chi p tố tụng: Buc bà Phạm Thị Xuân H trả lại cho Nguyễn ThB
số tiền 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng).
4. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho bà Phạm Thị Xuân H. Hoàn
trcho Nguyễn ThB số tiền 7.425.000 đồng (bảy triệu bn trăm hai mươi lăm
nghìn đồng) tạm ứng án phí bà Nguyễn ThB đã nộp tại biên lai thu số 0003894
ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ (do ông Trương
Văn Thoại nộp thay).
5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đương sự
mặt quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng đyêu
cầu xét xử phúc thẩm, đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ
ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân s thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Điều
9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi nh án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
8
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND huyện Đ;
- Chi cục THA DS huyện Đ;
- Đương sự;
- Lưu HS, AV.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Trần Thị Hằng
Tải về
Bản án số 15/2025/DS-ST Bản án số 15/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 15/2025/DS-ST Bản án số 15/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất