Bản án số 144/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 144/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 144/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 144/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 144/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Hải Phòng |
| Số hiệu: | 144/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 12/05/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Sửa BAST |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: …./2026/DS-PT
Ngày 19/5/2026
V/v Yêu cầu công nhận di chúc hợp
pháp; Yêu cầu công nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Hợp
Bà Bùi Thị Thu Hằng
Ông Lưu Văn Tỉnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19/5/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 50/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 4
năm 2026 về việc “ Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp; Yêu cầu công nhận
hiệu lực quyền sử dụng đất hợp pháp”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09 tháng 2 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 131/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Bà Ngô Phương T, sinh ngày 31/10/1962; số CCCD: 030162003562; địa
chỉ: Số A P, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
+ Bà Ngô Thị T1, sinh 24/8/1964; số CCCD: 030164010120; địa chỉ: Số
A N, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
- Bị đơn:
+ Bà Ngô Thị L, sinh năm 1959; số CCCD: 030159003151; địa chỉ: Số F
C, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
2
+ Anh Trịnh Việt H, sinh năm 1992; số CCCD: 030092000194; địa chỉ: Số
F ngõ B N, phường P, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Văn phòng đăng ký đất thành phố Hải Phòng: Trụ sở: Số B L, phường
N, Thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh H1 –
Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc M, Chức vụ: Giám
đốc Văn phòng Đ2 chi nhánh H7. Vắng mặt.
+ Văn phòng C thành phố Hải Phòng; trụ sở: Số I B, phường H, thành phố
Hải Phòng: Người đại diện theo quy định của pháp luật ông Hoàng Nam P - Chức
vụ: Trưởng phòng. Vắng mặt.
+ Văn phòng C1; Trụ sở: Số B T, phường H, thành phố Hải Phòng. Người
đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn H2 – Chức vụ: Trưởng phòng. Vắng mặt.
+ Bà Ngô Thị B, sinh năm 1955; địa chỉ: Số E chùa B, phường K, thành
phố Hà Nội. Có mặt.
+ Bà Ngô Thị H3, sinh năm 1957; địa chỉ: Số G D đất làng nghề V, phường
H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Ông Ngô Bá Đ, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số C ngõ G H, phường K, Thành
phố Hà Nội. Có mặt.
+ Anh Hà Hải D, sinh năm 1980; địa chỉ: Số nhà E Chùa B, phường K,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Hà Quang M1, sinh năm 1982; địa chỉ: C, tòa P, KĐT vinhomes,
Timescity ParkHill, số B ngõ A, đường L, phường V, Thành phố Hà Nội. Vắng
mặt.
+ Anh Đào T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A M đất làng N, phường H,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Đào Khánh H4, sinh năm 1988; địa chỉ: Số G D đất làng nghề V,
phường H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Trịnh Ngọc T3, sinh năm 1987; địa chỉ: Số G ngõ B N, phường P,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1985; địa chỉ: Nhà B,D, số E ngõ A V,
phường K, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Việt T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A N, phường P, Thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Phạm Minh H5, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A ngõ H, phường V, tỉnh
Lào Cai. Vắng mặt.
+ Anh Vũ A, sinh năm 1992; địa chỉ: Số P, tòa A, chung cư T, B M, phường
T, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Vũ Duy L1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số A N, phường H, thành phố
Hải Phòng. Vắng mặt.
3
+ Anh Ngô Xuân Q, sinh năm 1995; Nơi ở hiện tại: W, 99089 E - Cộng
Hòa Liên Bang Đ. Vắng mặt.
+ Anh Ngô Bá K, sinh năm 2003; địa chỉ: Số C ngõ G phố H, phường P,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Do có kháng cáo của:
Bị đơn là bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa sơ
thẩm
1. Nguyên đơn bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 trình bày:
Bố mẹ đẻ của hai bà là cụ Ngô Bá Đ1 sinh năm 1925, chết năm 2007 và cụ
Nguyễn Thị L2 sinh năm 1923, chết năm 2009.
Cụ Đ1 và cụ L2 có 06 người con đẻ gồm: Bà Ngô Thị B, bà Ngô Thị H3, bà
Ngô Thị L, bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 và ông Ngô Bá Đ. Ngoài những
người con chung trên, bố mẹ đẻ của hai bà không có con nuôi, con riêng nào khác.
Cụ Đ1 và cụ L2 là chủ sử dụng, sở hữu hợp pháp diện tích 158,3 m
2
trong
đó có 120m
2
đất ở và 38,3 m
2
đất trồng cây lâu năm, tại thửa đất số 77, tờ bản đồ
số 15 tại số B Đ, phường L, thành phố H (nay là phường L, thành phố Hải Phòng)
đã được UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mang tên bà Nguyễn Thị L2, ông Ngô Bá Đ1.
Ngày 09/6/2005, cụ Đ1, cụ L2 thực hiện việc lập di chúc có chứng thực (Số
công chứng 108, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD tại phòng C2 tỉnh Hải Dương).
Nội dung của di chúc “…Chúng tôi là chủ sở hữu ngôi nhà kèm theo quyền sử
dụng đất tại số B Đ, phường L, thành phố H, có giấy chứng nhận quyền sử dụng
tạm thời nhà đất số 246/NĐ-XD do UBND thị xã H cấp ngày 11/7/1987.
Sau khi chúng tôi chết thì con trai chúng tôi là Ngô Bá Đ, sinh ngày
14/1/1969 được hưởng toàn bộ ngôi nhà với điều kiện anh Đ chỉ được dùng ngôi
nhà này để ở.
Nếu anh Ngô Bá Đ không ở thì ông Đ có toàn quyền định đoạt ngôi nhà này
và anh Đ được hưởng 70% giá trị nhà đất,
Chị Ngô Thị T5 và T1 mỗi người được hưởng 10% giá trị nhà đất, 10% giá
trị nhà đất còn lại sẽ chia đều cho tất cả các cháu nội, ngoại….”.
Sau khi 02 cụ chết thì ông Ngô Bá Đ đã làm thủ tục nhận tài sản thừa kế nhà
đất và sang tên cho ông Đ. Ngày 27/4/2021, UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương
đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất cho ông Ngô Bá Đ thửa đất số 77, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Số B
Đ, phường L, thành phố H diện tích 158,3m
2
, trong đó có 120m
2
đất ở và 38,3m
2
đất TCLN.
Do ông Đ ở trên Hà Nội muốn giữ thửa đất để làm nơi thờ cúng không muốn
chuyển nhượng ra cho người ngoài nên ngày 15/7/2023 ông Đ đã làm thủ tục tặng
cho bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 thửa đất trên và tài sản trên đất. Ngày
4
09/8/2023, bà T, bà T1 được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất. Khi ông Đ tặng cho bà T1, bà T thì ngôi nhà và đất trị
giá 3.950.000.000 đồng, ông Đ đã chia cho các cháu nội, ngoại mỗi cháu
30.384.616 đồng nhưng anh H, anh T3 không nhận tiền của ông Đ chia theo di
chúc của 02 cụ. Khi hai bà quản lý, sử dụng thửa đất và muốn chuyển đổi 38,3m
2
đất trồng cây sang đất ở thì anh H có đơn từ gây khó khăn cho các bà.
Bà T1, bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Đề nghị Tòa án công nhận di chúc của cụ Ngô Bá Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2
lập ngày 09/6/2005 tại phòng C2 tỉnh Hải Dương là hợp pháp. Chia di sản thừa
kế của cụ Đ1 và cụ L2 theo di chúc.
- Đề nghị Tòa án công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản
gắn liền với đất giữa ông Ngô Bá Đ và bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 được
lập ngày 15/7/2023 có hiệu lực pháp luật; xác nhận bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị
T1 là người có quyền sử dụng hợp pháp diện tích 158,3m
2
, trong đó có 120m
2
đất
ở và 38,3m
2
đất TCLN, thửa đất số 77 tờ bản đồ số 15 và các tài sản trên đất ; địa
chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
2. Bị đơn bà Ngô Thị L trình bày: Bà nhất trí với phần trình bày của bà T, bà
T1 về hàng thừa kế, năm sinh năm chết, di sản của cụ Đ1 và cụ L2. Trước đây bà
không biết bố mẹ bà lập di chúc nhưng đến khi Tòa án thông báo thì bà mới biết
có việc bố mẹ lập di chúc để lại di sản thừa kế là đất và tài sản trên đất cho ông
Đ. Tại thời điểm lập di chúc cụ Đ1 và cụ L2 đã già yếu, không còn minh mẫn. Cụ
Đ1 không đi lại được nên không có việc cụ Đ1 đến phòng công chứng để chứng
thực di chúc. Tuy nhiên tại hồ sơ chứng thực di chúc của hai cụ ghi tại Phòng C3
Hải Dương là không đúng. Bà cũng thừa nhận trước đây bà có nghe các cụ nói vì
ông Đ là con trai duy nhất nên sẽ tặng cho diện tích đất của hai cụ cho ông Đ. Tuy
nhiên, khi hai cụ ốm đau, bà T, bà T1 không chăm sóc nên không có việc hai cụ
di chúc cho bà T, bà T1. Do đó, ông Đức T6 cho diện tích đất và tài sản trên đất
của cụ Đ1, cụ L2 để lại cho bà T1, bà T thì bà không đồng ý.
Bà đề nghị Tòa án xem xét lại tính hợp pháp của di chúc hai cụ Ngô Bá Đ1
và cụ Nguyễn Thị L2 theo quy định của pháp luật. Ông Đức T6 cho bà T, bà T1
diện tích đất và tài sản trên đất của hai cụ bà không đồng ý.
- Bị đơn anh Trịnh Việt H trình bày: Anh là cháu ngoại của cụ Đ1, cụ L2,
anh nhất trí với phần trình bày của bà T, bà T1 về hàng thừa kế, năm sinh năm
chết của cụ Đ1 và cụ L2. Anh được biết trước khi chết 02 cụ có lập di chúc để
định đoạt phần tài sản của 02 cụ là thửa đất A, tờ bản đồ 01 diện tích 120m
2
và tài
sản trên đất tại số B Đ, phường L, thành phố H (nay là phường L, thành phố Hải
Phòng) được công chứng tại Phòng C3 Hải Dương. Anh không biết việc di sản
thừa kế là diện tích đất trên đã mang tên ông Đ. Anh cho rằng mặc dù ông Đ đã
được cấp giấy chứng nhận tuy nhiên nguồn gốc tài sản là của các cụ ngoại nên
ông Đ không có quyền định đoạt di sản thừa kế.
Anh xác định di chúc hai cụ để lại là không hợp pháp, vì thời điểm làm công
chứng di chúc cụ Đ1 yếu không thể ký tại Phòng C3 Hải Dương. Tuy nhiên bản
5
di chúc tại ghi địa điểm lập di chúc ký tại phòng C3 Hải Dương là không đúng
luật công chứng. Việc thực hiện công chứng ngoài trụ sở là không đúng nên đề
nghị Tòa án tuyên di chúc vô hiệu.
Trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ chỉ có một mình tên ông
Đ; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp lần 2 thì cấp cho bà T, bà T1, nội dung
trên trang 1 giấy chứng nhận đất bà T là người đại diện cho những người cùng sở
hữu nhà, tài sản khác gắn liền với đất là bà T, bà T1. Tuy nhiên bản di chúc xác
định 13 cháu nội, ngoại trong đó có anh được hưởng 10% giá trị di sản thừa kế,
do đó trong giấy chứng nhận đất lần 2 phải có tên anh vì anh được quyền hưởng
thừa kế. Đối với số tiền 30.384.616 đồng là giá trị 1 suất thừa kế, anh không đồng
ý nhận bằng tiền và yêu cầu nhận bằng hiện vật. Anh đề nghị Tòa án tuyên bố di
chúc của hai cụ Ngô Bá Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2 lập tại Phòng C3 ngày
09/6/2005, số công chứng 108, quyển số 12/TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu; Hủy
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cấp
cho ông Ngô Bá Đ; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài
sản gắn liền với đất cấp cho bà Ngô Thị T1, bà Ngô Thị T5.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L trình bày: Hồ sơ công
chứng di chúc ngày 09/6/2005 của 2 cụ Ngô Bá Đ1 và Nguyễn Thị L2 có những
vi phạm cụ thể: Giấy chứng nhận tạm thời sử dụng nhà đất (chỉ thể hiện về đất
không có nhà) tên cụ Ngô Bá Đ1 phô tô; Chứng minh nhân dân của cụ Đ1 và cụ
L2 phô tô. Ngoài ra không còn tài liệu nào khác. Như vậy, trong thành phần hồ sơ
không có phiếu yêu cầu công chứng và cụ Đ1, cụ L2 di chúc nhà cho con trai
nhưng không có tài liệu xác lập quyền sở hữu tài sản trên đất của cụ Đ1 và cụ L2,
không có Phiếu yêu cầu công chứng của 2 cụ Đạo L3. Tình trạng sức khoẻ của 2
cụ Đạo L3 không tốt, chưa có căn cứ để xác định 2 cụ trực tiếp liên hệ với Phòng
C3. Địa điểm công chứng di chúc của 2 cụ Đạo L3 không phải tại trụ sở Phòng
C3 tỉnh Hải Dương như di chúc do công chứng viên soạn thảo và lời chứng của
công chứng viên. Nếu địa điểm công chứng tại Phòng công chứng là thật thì khi
thực hiện công chứng không có mặt 2 cụ Đạo L3 vì 2 cụ không thể có mặt tại
Phòng Công chứng. Cụ L3 không biết chữ, phù hợp với di chúc có dấu điểm chỉ
ngón tay bên dưới ghi “ngón trỏ phải của bà L3”. Quá trình công chứng di chúc,
công chứng viên không chỉ định người làm chứng cho cụ L3 là vi phạm quy định.
Trong bản di chúc không hề ghi tình trạng sức khoẻ 2 cụ mà thể hiện 2 cụ Đạo L3
là người hoàn toàn bình thường. Tại di chúc ghi: “Bản di chúc này chúng tôi lập
thành 3 bản, giao cho chị Ngô Thị B (chị cả) giữ 2 bản đồng thời chị B có trách
nhiệm công bố di chúc”. Tuy nhiên, bà Ngô Thị B đã không thực hiện đúng quy
định tại Điều 675 BLDS 1995 hoặc Điều 672 BLDS 2005 về nội dung. Nội dung
di chúc không phù hợp với tài liệu và hai cụ Đạo L3 không định đoạt toàn bộ tài
sản của 2 cụ trong di chúc: Hai cụ Đ1 và L3 xác định là chủ sở hữu, sử dụng nhà
và đất tại B Đ nhưng không rõ tình trạng nhà như thế nào? theo giấy chứng nhận
quyền sử dụng tạm thời có trong hồ sơ công chứng xác định diện tích đất là 120m
2
đất công, trong giấy này không đề cập đến nhà, tài sản trên đất, ngoài ra không
còn tài liệu nào khác. Điều này cho thấy nội dung di chúc của 2 cụ Đ1 Lộm định
đoạt về nhà là không có căn cứ vì không có tài liệu, giấy tờ nào liên quan đến nhà
6
như nêu tại ở trên. Công chứng viên khẳng định di chúc này được lập tại phòng
công chứng như công chứng viên soạn thảo và lời chứng của công chứng thì công
chứng viên không thể biết trên đất có nhà thật hay không. Không có nội dung nào
của di chúc trao cho ông Đ quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất. Điều này
phải xác định diện tích đất 120m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời
nhà đất chưa được 2 cụ Đạo L3 định đoạt trong di chúc. Do vậy, khi định đoạt
quyền sử dụng đất phải thực hiện theo quy định của pháp luật, đó là sự tham gia
của tất cả những người thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của 2 cụ Đạo L3. Hồ sơ
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Ngô Bá Đ, bà Ngô Phương T và
Ngô Thị T1, trong các tài liệu có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH
611190 ngày 15/01/2007, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
H01125 do UBND thành phố H cấp cho cụ Nguyễn Thị L2 và cụ Ngô Bá Đ1. Nội
dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này xác định 2 cụ được sử dụng thửa
đất số 77, tờ bản đồ 15, diện tích 158,3m
2
trong đó có 120m
2
đất ở và 38,3m
2
đất
trồng cây lâu năm; Tài sản gắn liền với đất là nhà bê tông cốt thép 2 tầng, diện
tích xây dựng 67m
2
. Đến thời điểm hiện nay các đương sự trong vụ án đều khẳng
định, ngoài bản di chúc ngày 09/6/2005, 2 cụ Ngô Bá Đ1 và Nguyễn Thị L2 không
sửa đổi bổ sung di chúc, không lập thêm bản di chúc nào khác. Như vậy, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số AH
611190 ngày 15/01/2007 xác định tình trạng nhà đất đã thay đổi, biến động so với
giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời số 246/NĐ-XD nhưng di chúc của 2 cụ
không thay đổi nên ông Đ không thể khai nhận toàn bộ nhà đất được xác lập tại
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 611190. Như vậy, phải xác định ông
Đ khai nhận và công chứng viên chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền
với đất cho ông Đ không phù hợp với di sản nêu trong di chúc nên văn bản này vi
phạm pháp luật, không có giá trị pháp lý và văn bản khai nhận này không phải là
căn cứ để UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sở hữu
nhà và tài sản gắn liền với đất cho ông Đ. Do đó việc ông Đức T6 cho 2 bà Ngô
Thị T1 và Ngô Thị T5 toàn bộ nhà đất là không hợp pháp.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ2 người đại diện theo ủy quyền
ông Nguyễn Quốc M trình bày: Ông Ngô Bá Đ nhận thừa kế quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu nhà ở của ông Ngô Bá Đ1 và bà Nguyễn Thị L2 tại địa chỉ B Đ,
phường L, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là B Đ, phường L, thành phố Hải
Phòng) đã được UBND thành phố H cấp Giấy chứng nhận có số phát hành DA
964417, số vào số CH00096 ngày 27/4/2021 thực hiện theo đúng trình tự thực
hiện tại Quyết định số 52/2020/QĐ-UBND ngày 22/10/2020 của Chủ tịch UBND
tỉnh H về việc Ban hành Quy định cụ thể cơ quan tiếp nhận, giải quyết thủ tục;
thời gian, các bước thực hiện thủ tục và thực hiện đồng thời một số thủ tục hành
chính về đất trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
Bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 nhận thừa kế quyền sử dụng đất và
quyền sở hữu nhà ở của ông Ngô Bá Đ tại địa chỉ B Đ, phường L, thành phố H,
tỉnh Hải Dương (nay là B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng) đã được Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đ2 (nay là Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ2) cấp
7
Giấy chứng nhận có số phát hành DI 508885, số vào sổ VP00448 ngày 09/8/2023
thực hiện theo đúng trình tự thực hiện thủ tục hành chính ban hành tại Quyết định
số 1520/QĐ-UBND ngày 01/06/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh H về việc công bố
danh mục thủ tục hành chính và phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành
chính lĩnh vực đất đai thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Sở T12.
- Phòng C3 thành phố Hải Phòng do ông Hoàng Nam P là người đại diện
theo pháp luật trình bày: Hồ sơ Di chúc số công chứng 108, quyển số 12/TP/CC-
SCC/HĐGD đối chiếu với quy định của pháp luật, di chúc được công chứng theo
đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
- Văn phòng C1 do ông Bùi Văn H2 là người đại diện theo pháp luật trình
bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản giữa ông Ngô
Bá Đ cho bà Ngô Phương T, Ngô Thị T1 số công chứng 1598 được công chứng
theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
- Ông Ngô Bá Đ trình bày: Thống nhất về hàng thừa kế, di sản thừa kế của
cụ Đ1, cụ L2 cũng hoàn toàn nhất trí phần trình bày của nguyên đơn, không nhất
trí yêu cầu của bị đơn.
Trước khi chết, cụ Đ1 và cụ L2 có lập di chúc đối với di sản của hai cụ tại
phòng C2 tỉnh Hải Dương ngày 09/6/2015.
Sau khi hai cụ chết, ông đã làm thủ tục nhận tài sản thừa kế nhà và đất, Ngày
27/4/2021, UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương đã cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho ông thửa đất
số 77, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố H diện tích 158,3m
2
,
trong đó có 120m
2
đất ở và 38,3m
2
đất TCLN.
Do ông công tác ở Hà Nội xa nhà nên ông có nhờ bà T, bà T1 sinh sống ở
Hải Dương (nay là Hải Phòng) quản lý giúp. Ông mong muốn ngôi nhà và thửa
đất trên để lại cho các chị trong gia đình quản lý, sau này ông về hưu có điều kiện
ông về ở, nên ông không muốn chuyển nhượng cho người ngoài. Ngày 15/7/2023
ông đã làm thủ tục tặng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Số B Đ, phường
L, thành phố H và tài sản trên đất cho bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1. Ngày
09/8/2023 bà T, bà T1 được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đối với thửa đất trên. Khi làm thủ tục tặng cho 02 bà thì tại thời điểm đó
diện tích đất bị quy hoạch 34m
2
. Căn cứ vào trị giá đất và tài sản trên đất tại thời
điểm tặng cho 2 bà là 3.950.000.000 đồng. Theo di chúc hai cụ để lại thì nếu ông
ở thì được hưởng toàn bộ nhà và đất tức là được hưởng 100% tương đương =
3.950.000.000 đồng. Do ông không ở thì được hưởng 70% = 2.765.000.000 đồng,
bà T, bà T1 hưởng 790.000.000 đồng, khi ông đưa tiền thì hai bà đều từ chối
không nhận để lại cho ông hưởng để lo công việc gia đình thờ cúng tổ tiên, còn
lại ông chia cho 13 cháu nội, ngoại mỗi cháu được hưởng 30.384.616 đồng. Ông
đã gọi điện 02 lần cho cháu H bảo đưa tài khoản để ông chuyển khoản nhưng cháu
H không nhận, cháu H làm đơn gửi các cơ quan chức năng gây mất trật tự gia đình
ông.
8
- Bà Ngô Thị B trình bày: Thống nhất về hàng thừa kế, di sản thừa kế của cụ
Đ1, cụ L2 cũng hoàn toàn nhất trí phần trình bày của nguyên đơn, không nhất trí
yêu cầu của bị đơn.
- Bà Ngô Thị H3 trình bày: Thống nhất về hàng thừa kế, di sản thừa kế của
cụ Đ1, cụ L2 hoàn toàn nhất trí phần trình bày của nguyên đơn. Bà có 02 con là
Đào T2, Đào Khánh H4 nhưng do 02 anh bận không thể về làm việc được và có
quan điểm đã chuyển tiền của ông Đ nên không có ý kiến gì khác.
- Anh Ngô Xuân Q và anh Ngô Bá K trình bày: Các anh là con của ông Đ.
Các anh đã được nhận số tiền đủ số tiền do ông Đ đưa cho mỗi người là 30.384.616
đồng. Nếu trị giá tài sản của ông ngoại cao hơn thì các anh cũng tự nguyện không
yêu cầu gì về giá trị di sản.
- Anh Nguyễn Việt T4 và anh Nguyễn Đức V trình bày: Các anh là con của
bà T và mỗi người đã được nhận số tiền 30.384.616 đồng từ ông Đ bằng hình thức
chuyển khoản. Nếu trị giá tài sản của ông ngoại cao hơn nữa các anh cũng tự
nguyện không yêu cầu gì về giá trị di sản.
- Anh Vũ Duy L1, anh Vũ A, anh Phạm Minh H5 trình bày: Các anh là con
của bà T1. Mỗi người đã được nhận số tiền 30.384.616 đồng từ ông Đ bằng hình
thức chuyển khoản. Nếu trị giá tài sản của ông nội cao hơn nữa thì các anh cũng
tự nguyện không yêu cầu gì về giá trị di sản.
- Anh Hà Quang M1, anh Hà Hải D trình bày: Các anh là con của bà B. Các
anh mỗi người đã được nhận số tiền 30.384.616 đồng từ ông Đ bằng hình thức
chuyển khoản. Nếu trị giá tài sản của ông ngoại cao hơn nữa thì các anh cũng tự
nguyện không yêu cầu gì về giá trị di sản.
3. Người làm chứng trình bày:
- Ông Phạm Văn V1 trình bày: Ông là công chứng viên Phòng C2 tỉnh Hải
Dương, là người trực tiếp chứng nhận bản di chúc ngày 09/6/2005 của cụ Ngô Bá
Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2. Ông xác định tại thời điểm chứng nhận bản di chúc cụ
Đ1, cụ L2 có đủ năng lực hành vi dân sự, phù hợp với quy định của pháp luật, cả
hai cụ đã nghe ông đọc lại toàn bộ nội dung của di chúc đã đồng ý với nội dung
của di chúc, cụ Đ1 đã ký và ghi rõ nội họ và tên, còn cụ L2 đã điểm chỉ vào bản
di chúc trước mặt ông.
- Bà Tô Thị T7 trình bày: Bà là hàng xóm của cụ Đ1, cụ L2. Cụ Đ1 bị ngã
thời gian đã lâu và được con cái của cụ đưa đi bệnh viện đóng đinh, đi lại khó
khăn, cụ Đ1 lúc nói chuyện có lúc nhớ lúc quên, không phải bị lẫn, còn cụ L2 sức
khỏe tốt hơn cụ Đ1.
- Ông Phạm Hữu H6 trình bày: Ông là hàng xóm của hai cụ. Cụ Đ1 bị ngã
gãy xương đùi phải đóng đinh ngã thời gian nào ông cũng không nhớ, cụ L2 vẫn
đi lại bình thường. Còn thời điểm năm 2005 hai cụ có minh mẫn không, ông cũng
không biết.
- Bà Nguyễn Thị B1 trình bày: Bà là vợ ông Lê Quang D1, ông D1 làm cùng
với ông Đ1, năm 2005 ông Đ1 đã nghỉ hưu, lúc đó khoảng 80 tuổi. Vợ chồng ông
9
bà thường hay sang chơi với ông Đ1, thời điểm đó ông Đ1 sức khỏe yếu, lúc nhớ
lúc quên, không còn minh mẫn, còn bà L2 sức khỏe như thế nào bà cũng không
biết.
- Bà Ngô Thị T8 trình bày: Thời điểm năm 2005, cụ Đ1 đã 80 tuổi, sức khỏe
yếu, bà là y tá nên đến nhà chăm sóc điều trị cho cụ hàng ngày, cụ L2 thời điểm
đó sức khỏe bình thường.
- Ông Phạm Văn T9 trình bày: Ông là em họ của bà L2, khoảng năm 2003
đầu năm 2004, ông Đ1 bị ngã gãy xương đùi phải đóng đinh, thời điểm đó sức
khỏe của ông Đ1, bà L2 yếu, giảm trí nhớ, không còn minh mẫn, bà L2 không biết
chữ.
- Bà Phạm Thị Bích P1 trình bày: Bà làm cùng trưởng Nguyễn Ái Q1 phân
hiệu 1 Hải Dương với cụ Ngô Bá Đ1. Khoảng cuối năm 2003 đầu năm 2004, cụ
Đ1 bị ngã gẫy cổ xương đùi do cụ đi mua bánh mì. Bà thi thoảng vẫn xuống thăm
cụ còn cụ có minh mẫn hay không thì bà không biết được.
Kết quả thẩm định tại chỗ: Hiện trạng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ:
Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng: Cạnh phía Bắc giáp hành lang đường N
dài 5,9m; cạnh phía Tây giáp thửa 88 dài là 7,28m + 6,88m + 0,16m+
9,12m+6,13m+ 1,16m; cạnh phía Nam giáp đường Đ là 6m; cạnh phía đông giáp
ngõ đi là 7,16 m + 5,27 m + 6,6m +6 ,89m. Tổng diện tích hiện trạng 158,3m
2
.
Các tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây 02 tầng năm 1987 có diện tích xây dững
38,9m
2
; 01 nhà mái bằng xây năm 1987 có diện tích 66,2m
2
, 01 cây nhãn có đường
kính gốc 0,3m, tán 5m.
Kết quả định giá tài sản: Giá đất ở là 65.000.000 đ/m
2
, đất trồng cây lâu
năm 95.000 đồng/m
2
; nhà mái bằng xây 2 tầng trị giá 96.260.400 đồng, nhà mái
bằng trị giá 45.704.500 đồng; 01 cây nhãn trị giá 2.000.000 đồng.
Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2025/DS-ST ngày
30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng, thành phố
Hải Phòng xử:
Căn cứ Điều 649, khoản 4 Điều 650, các điều 657, 658, 733, 734 của BLDS
năm 2005; các điều 502, 503, 627, 628 BLDS năm 2015; khoản 1 Điều 106 Luật
đất đai năm 2003; các điều 26, 35, 39, 147, 165; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà
án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1
- Tuyên bố bản di chúc của cụ Ngô Bá Đ1, cụ Nguyễn Thị L2 lập ngày
09/6/2015 tại phòng C3 tỉnh Hải Dương là hợp pháp. Ông Ngô Bá Đ được hưởng
thừa kế theo di chúc của cụ Ngô Bá Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2 là diện tích đất
158,3m2 (trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa đất
số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
10
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản trên đất giữa ông Ngô Bá
Đ và bà Ngô Phương T10 được lập ngày 15/7/2023 có hiệu lực pháp luật kể từ
thời điểm đăng ký (ngày 09/8/2023). Bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 là người
có quyền sử dụng hợp pháp diện tích 158,3m2, trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2
đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 77 tờ bản đồ số 15 và các tài sản trên đất; địa
chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
2. Xử buộc ông Ngô Bá Đ phải trả cho anh Trịnh Việt H, sinh năm 1992;
địa chỉ: Số F ngõ B N, phường P, Thành phố Hà Nội; anh Trịnh Việt T11, sinh
năm 1985; địa chỉ: Số G ngõ B N, phường P, thành phố Hà Nội mỗi người số tiền
là 61.135.410 đồng;
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự và
các vấn đề khác.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H kháng
cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng đề nghị Toà án phúc thẩm: Sửa
Bản án sơ thẩm; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố Di
chúc của hai cụ Đ1, L2 lập tại phòng C3 ngày 09/6/2005, số công chứng 108,
quyển số 12 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu và tuyên huỷ giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số DA 964147 ngày 27/4/2021,
số vào sổ cấp GCN OH 00096 UBND thành phố H cấp cho ông Ngô Bá Đ và
Giấy CNQSDĐ, sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số DL 508885 ngày
09/8/2023, số vào sổ cấp GCN VP 00448 VPĐK đất đai tỉnh Hải Dương cấp cho
bà Ngô Thị T5 và Ngô Thị T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bà T5, bà T1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo
và giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của
đương sự.
- Về nội dung vụ án:
+ Về quan hệ pháp luật: Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng xác định
quan hệ pháp luật là tranh chấp về “yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp; chia di
sản thừa kế theo di chúc; yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho hợp
pháp” là không đúng.
+ Về yêu cầu khởi kiện: Như vậy Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
thành phố Hải Phòng xác định thêm yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là “Chia
di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ L2 theo di chúc và công nhận Hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Ngô Bá Đ và bà Ngô
Phương T, bà Ngô Thị T1 được lập ngày 15/7/2023 có hiệu lực pháp luật” là vượt
quá phạm vi khởi kiện, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
11
Bên cạnh đó tại giai đoạn sơ thẩm, anh Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan đang cư trú tại Đức nhưng Toà án cấp sơ thẩm không thực hiện xác
minh thông tin với bên cục X1 về việc cư trú của anh Q và cũng không thực hiện
tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q theo quy định tại Điều 474 Bộ luật
tố tụng dân sự, như vậy không đảm bảo quyền và lợi ích cho đương sự theo quy
định tại Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ những phân tích nêu trên nhận thấy, cần phải huỷ Bản án sơ thẩm số
04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
thành phố Hải Phòng xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm để đảm bảo quyền và lợi ích
của các đương sự.
Đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn
bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H. Huỷ bản án sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày
09 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố
Hải Phòng và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
thành phố Hải Phòng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Miễn án phí phúc thẩm cho bà Ngô Thị L; anh Trịnh Việt H
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật: Bản án sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là
tranh chấp về “yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp; chia di sản thừa kế theo di
chúc; yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng tặng cho hợp pháp” là không đúng
quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ đơn khởi kiện của bà T và
bà T1 và tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án; Biên bản hoà giải; Biên bản kiểm
tra giao nộp tiếp cận, công khai chứng từ thì nguyên đơn là bà T, bà T1 chỉ yêu
cầu Toà án giải quyết: “ Xác định bản di chúc được lập ngày 09/6/2005 là hợp
pháp; Xác định bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 là người có quyền sử dụng
hợp pháp đối với thửa đất 77, tờ bản đồ số 15 diện tích 158,3m
2
mà Ủy ban nhân
dân thành phố H cấp 09/8/2023”. Như vậy theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố
tụng dân sự phải xác định đây là quan hệ tranh chấp về “Yêu cầu công nhận di
chúc là hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp”.
Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nguyên đơn mới bổ sung thêm
yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Ngô Bá Đ và bà Ngô Phương T,
bà Ngô Thị T1 được lập ngày 15/7/2023 có hiệu lực pháp luật nên căn cứ Điều
188; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự thì yêu cầu trên không được chấp nhận do
đã vượt quá phạm vi khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy Toà án nhân dân khu
vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng xác định thêm yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là “Chia di sản thừa kế của cụ Đ1 và cụ L2 theo di chúc và công nhận
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Ngô Bá
Đ và bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 được lập ngày 15/7/2023 có hiệu lực pháp
luật” là không đúng.
12
Về thẩm quyền giải quyết: Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn bà Ngô Thị L
cư trú tại phường H, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà
án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng theo quy định tại Điều 35; khoản 1 Điều 39
Bộ luật tố tụng dân sự. Do vụ án có kháng cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, ngày 10/9/2025 ông Đ có
nộp 01 bản tự khai có chữ ký của anh Q là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án, có thể hiện anh Q hiện đang cư trú tại Cộng hoà liên bang Đ và yêu
cầu Toà án giải quyết vắng mặt anh tại các phiên họp và phiên toà và 01 ảnh hộ
chiếu của anh Q có xác nhận của Thẩm phán. Tuy nhiên ngoài bản tự khai và ảnh
hộ chiếu trên, không còn bất kỳ tài liệu nào khác chứng hiện anh Q đang cư trú
tại Đức và không có tài liệu nào chứng minh liệu chữ ký trên bản tự khai có phải
của anh Q hay không? Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm chưa thực hiện xác minh
thông tin với phòng Q2 về việc cư trú của anh Q và cũng không thực hiện tống
đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Q theo quy định tại Điều 474 Bộ luật tố
tụng dân sự là không đảm bảo quyền và lợi ích cho đương sự theo quy định tại
Điều 465 Bộ luật tố tụng dân sự và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Yêu cầu Tòa án công nhận di chúc của cụ Ngô Bá Đ1 và cụ Nguyễn Thị
L2 lập ngày 09/6/2005 tại phòng C2 tỉnh Hải Dương là hợp pháp.
- Yêu cầu Tòa án xác nhận bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 là người có
quyền sử dụng hợp pháp diện tích 158,3m2, trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2
đất TCLN, thửa đất số 77 tờ bản đồ số 15 và các tài sản trên đất; địa chỉ: Số B Đ,
phường L, thành phố Hải Phòng.
- Về nội dung vụ án:
[4] Xét nội dung kháng cáo của các bị đơn bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt
H:
- Về thủ tục kháng cáo: Bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H là bị đơn kháng
cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng; đề nghị Sửa bản án sơ
thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; tuyên bố di chúc
của 2 cụ Đạo L3 lập tại phòng C3 ngày 09/6/2005, số công chứng 108, quyền số
12 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu và huỷ giấy CNQSDĐ, sở hữu nhà và tài sản gắn
liền với đất số DA 964147 ngày 27/4/2021, số vào sổ cấp GCN OH 00096 UBND
thành phố H cấp cho ông Ngô Bá Đ và giấy CNQSDĐ, sở hữu nhà và tài sản gắn
liền với đất số DL 508885 ngày 09/8/2023, số vào sổ GCN VP 00448 VPĐKĐĐ
tỉnh Hải Dương cấp cho 2 bà Ngô Thị T1 - Ngô Thị T5. Việc kháng cáo của các
bị đơn đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các điều
272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đơn kháng cáo của bà L và anh H là hợp
pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
- Về hình thức Di chúc của cụ L3 và cụ Đ1: Căn cứ vào biên bản lấy lời
khai của ông Phạm Văn V1 - Công chứng viên ngày 22/01/2025 xác nhận cụ L3
13
không biết chữ nên căn cứ khoản 2 Điều 661 Bộ luật dân sự và Điều 8 Nghị định
số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ quy định “Người yêu cầu
công chứng, chứng thực không đọc, không nghe, không ký hoặc không điểm chỉ
được thì phải có người làm chứng”, như vậy di chúc của cụ L3 và cụ Đ1 lập ngày
09/6/2005 tại Phòng C3 tỉnh Hải Dương phải có chữ ký của người làm chứng
nhưng thực tế trên bản di chúc chỉ có chữ ký của cụ Đ1 và điểm chỉ của cụ L3.
Như vậy, hình thức di chúc của cụ L3 và cụ Đ1 không đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung Di chúc của cụ L3 và cụ Đ1: Di chúc bằng văn bản và cụ Đ1
ký xác nhận, cụ L3 điểm chỉ phần người lập di chúc và có chứng thực của công
chứng viên có thẩm quyền. Căn cứ lời khai của ông Phạm Văn V1 - Công chứng
viên; bà T1 và bà T5 xác nhận: Bản di chúc này là do cụ Đ1 và cụ L3 lập, hai cụ
đều khẳng định nội dung của bản di chúc là hoàn toàn tự nguyện không bị ai ép
buộc, lúc đó các cụ hoàn toàn minh mẫn, nguyện vọng của hai cụ nói đều phù hợp
với nội dung bản di chúc; Bà L xác định “có nghe các cụ nói vì ông Đ là con trai
duy nhất nên sẽ tặng cho diện tích đất và nhà của hai cụ cho ông Đ” cũng như một
số người làm chứng biết hai cụ, cụ Đ1 bị ngã gãy chân, cụ L3 không biết chữ
nhưng vẫn nhận thức được. Anh H cho rằng điểm chỉ của cụ L3 là đúng, còn chữ
ký của cụ Đ1 là không đúng, Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu anh cung cấp mẫu so
sánh để thực hiện giám định chữ ký của cụ nhưng anh H không nộp cho Tòa án
nên không có căn cứ xác định chữ ký trong di chúc không phải chữ ký của cụ Đ1.
Từ những phân tích trên, xét thấy đối với phần di sản thừa kế của cụ Đ1
theo di chúc xuất phát từ ý chí của cụ và cụ có xác nhận chữ ký trong di chúc nên
phần di sản thừa kế của cụ Đ1 là hợp pháp. Căn cứ Điều 144; Điều 146 Bộ luật
dân sự 1995 thì di chúc của cụ Đ1 và cụ L3 chỉ có hiệu lực một phần đối với di
sản thừa kế của cụ Đ1.
Như vậy việc Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tuyên “công nhận
toàn bộ di chúc của cụ L3 và cụ Đ1 lập ngày 09/6/2005 tại Phòng C3 tỉnh Hải
Dương hợp pháp” là không đúng.
Ngoài ra, việc Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 649; Điều 650 Bộ luật dân
sự 2005; các Điều 627; Điều 628 Bộ luật dân sự 2015 là không đúng. Tuy nhiên,
nội dung điều luật quy định về hình thức của Di chúc theo Bộ luật dân sự 1995 và
bộ luật dân sự 2005 và Bộ luật dân sự 2015 là tương tự nhau nên Toà phúc thẩm
đề nghị Toà cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.
- Về phạm vi di sản thừa kế theo di chúc: Di chúc của cụ Đ1 và cụ L3 thể
hiện: “ Chúng tôi là chủ sở hữu ngôi nhà kèm theo quyền sử dụng đất tại số B Đ,
phường L, thành phố H, có giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời nhà đất số
246/NĐ-XD do UBND thị xã H cấp ngày 11/7/1987….”
Căn cứ Giấy chứng nhận tạm thời nhà đất số 246/NĐ-XD do UBND thị xã
H cấp ngày 11/7/1987 phần diện tích của cụ Đ1 và cụ L3 được cấp là 120m
2
đất
thổ cư. Nên phần di sản của cụ Đ1 và cụ L3 để lại theo di chúc chỉ là 120m
2
đất
thổ cư, nhà ở và các tài sản khác trên đất tại số B Đ, phường L, thành phố Hải
Phòng.
14
Căn cứ Biên bản xác minh ngày 29/12/2025 tại Ủy ban nhân dân phường
L, thành phố Hải Phòng cho thấy nguồn gốc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 15, diện
tích 158,3m
2
của cụ Đ1 và cụ L3 địa chỉ thửa đất số 25 Đ, phường L, thành phố
Hải Phòng gồm 120m
2
đất thổ cư và 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm trong đó phần
diện tích 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm là do cụ Đ1 và cụ L3 trong quá trình sử
dụng đã lấn chiếm đất lưu không phù hợp với quy hoạch nên đã được Ủy ban nhân
dân thành phố H cấp GCNQSDĐ ngày 15/01/2007. Như vậy diện tích 38,3m
2
đất
trồng cây lâu năm là phần di sản phát sinh sau khi có di chúc nên 38,3m
2
đất trồng
cây lâu năm không được coi là phần di sản được định đoạt trong di chúc. Di chúc
của cụ Đ1 và cụ L3 chỉ có hiệu lực đối với phần di sản thừa kế của cụ Đ1. Như
vậy, ông Ngô Bá Đ chỉ có quyền sử dụng, định đoạt đối phần di sản thừa kế của
cụ Đ1 = ½ tổng di sản thừa kế của cụ L3 và cụ Đ1 tức là ông Đ chỉ có quyền sử
dụng và định đoạt đối với ½ 120m
2
= 60m
2
đất thổ cư và các tài sản trên đất tại
thửa đất số 77 tờ bản đồ số 15; địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
Vì vậy việc Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng Xác định ông Ngô Bá
Đ được hưởng thừa kế theo di chúc của cụ Ngô Bá Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2 là
diện tích đất 158,3m2 (trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2 đất trồng cây lâu năm
tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng
là không đúng.
- Về quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 158,3m2 (trong đó có 120m2
đất ở và 38,3m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ:
Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
+ Về hiệu lực của hợp đồng tặng cho hợp pháp của bà T5, bà T1:
Xét tính hợp pháp của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng
cho là ông Ngô Bá Đ với bên nhận tặng cho là bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị
T1 đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố
Hải Phòng ký công chứng số Bùi Văn H2, ký công chứng số 1598/2023/HĐTC,
quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 15/7/2023, thấy:
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Ngô Bá Đ với bà Ngô
Phương T và bà Ngô Thị T1 đã được Văn phòng C1, ký công chứng số
1598/2023/HĐTC, quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGĐ ngày 15/7/2023. Đến ngày
09/8/2023, bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 được Văn phòng đăng ký đất đai
tỉnh Đ2 cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số vào số cấp GCN: VP-00448.
Về nội dung hợp đồng tặng cho: Xét thấy, Theo di chúc ông Ngô Bá Đ chỉ
có quyền sử dụng và định đoạt đối với 60m
2
đất thổ cư, nhà ở và tài sản khác trên
đất tại số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
Như vậy, căn cứ vào các điều 130; Điều 502; Điều 503 Bộ luật dân sự năm
2015, thì Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 77, tờ bản đồ
số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng giữa ông Ngô Bá Đ và bà
Ngô Thị T1, bà Ngô Phương T chỉ có hiệu lực một phần đối với 60m
2
đất thổ cư,
nhà ở và tài sản khác trên đất (kể từ thời điểm đăng ký ngày 09/8/2023). Vì vậy
15
bà T và bà T1 chỉ có quyền sử dụng đất đối với 60m
2
đất thổ cư thuộc thửa đất số
77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
- Về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số DA 964147 ngày 27/4/2021, số vào sổ cấp GCN CH
00096 do UBND thành phố H cấp ngày 27/4/2021 cho ông Ngô Bá Đ và giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số DL 508885 ngày 09/8/2023, số vào sổ cấp GCN VP 00448 do Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đ2 cấp ngày 27/4/2021 cho bà Ngô Thị T1 và Ngô Phương
T: Tử những phân tích trên, đối với phần 60m
2
đất thổ cư còn lại và 38,3m
2
đất
trồng cây lâu năm là phần di sản không được định đoạt theo di chúc nên việc
UBND thành phố H và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ2 cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất đối với 158,3m
2
(gồm 120m
2
đất ở và 38,3 m
2
đất trồng cây
lâu năm) cho ông Đ sau là bà T1 và bà T là không đúng.
- Về yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất số DA 964147 ngày 27/4/2021, số vào sổ cấp GCN
CH 00096 do UBND thành phố H cấp ngày 27/4/2021 cho ông Ngô Bá Đ và giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với
đất số DL 508885 ngày 09/8/2023, số vào sổ cấp GCN VP 00448 do Văn phòng
đăng ký đất đai tỉnh Đ2 cấp ngày 27/4/2021 cho bà Ngô Thị T1 và Ngô Phương
T của bà L và anh H: Xét thấy trong vụ án này nguyên đơn có yêu cầu chia thừa
kế theo di chúc nhưng không được chấp nhận yêu cầu nên việc huỷ giấy chứng
nhận của ông Đ; bà T và bà T1 Toà án sẽ không xem xét trong vụ án này vì Toà
án cần phải xem xét yêu cầu chia thừa kế thì mới có căn cứ huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hay không.
[5] Về án phí sơ thẩm: Toà án nhân dân khu vực 10 – Hải Phòng tuyên:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí
dân sự sơ thẩm. Bà L trên 60 tuổi nên được miễn tiền án phí, anh H phải án phí là
phù hợp với khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều
12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Ngoài ra, Toà sơ thẩm còn tuyên “Ông Đ phải chịu án phí dân sự đối với
số tiền phải trả anh H và anh T11” là không đúng vì sau khi có Quyết định đưa vụ
án ra xét xử, nguyên đơn mới bổ sung thêm yêu cầu chia thừa kế theo di chúc và
yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với
đất giữa ông Ngô Bá Đ và bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1 được lập ngày
15/7/2023 có hiệu lực pháp luật nên hai yêu cầu trên của nguyên đơn không được
chấp nhận theo quy định tại Điều 188; Điều 210 Bộ luật tố tụng dân sự vì vậy
không phải xác định án phí dân sự sơ thẩm đối với hai yêu cầu trên.
[6] Từ những phân tích trên, nhận thấy Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải
Phòng đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dẫn đến không đảm bảo được
quyền và lợi ích cho các đương sự nên cần phải Huỷ Bản án dân sự sơ thẩm số
04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
16
thành phố Hải Phòng và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải
Phòng để xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm.
Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà ngô Thị L và
anh Trịnh Việt H; Huỷ bản án sơ thẩm.
[7] Các nội dung khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm không xem xét.
[8] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà L và anh H được chấp nhận
một phần nên bà L và anh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 188; Điều 210; Điều 296, khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310; Điều
474; Điều 465 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H:
1.1. Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng.
1.2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành
phố Hải Phòng giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí:
2.1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng,
thành phố Hải Phòng quyết định án phí dân sự sơ thẩm khi bản án sơ thẩm được
giải quyết lại.
2.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và
Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện
theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 10 – Hải Phòng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
17
- VKSND khu vực 10 – Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 10 – Hải
Phòng;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
Phạm Văn Hợp
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trần Thị Vân Thúy Vũ Quang Trung
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Hợp
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 01/06/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 20/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 15/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm