Bản án số 125/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 125/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 125/2026/DS-PT ngày 12/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 125/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trân Anh T và Trần Văn T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH PHÚ TH
Bn án s: 125/2025/DS - PT
Ngày 12 - 5- 2026
“V/v Tranh chp quyn s dụng đất”
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do -Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành và ông Nguyễn Duy Sơn
-Thư phiên toà: Nông Thị Lụa - Thư Toà án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của
Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ bị kháng cáo:
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 212/2025/QĐXXPT – DS ngày 16
tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Anh T, sinh năm 1975 và bà Kim Thị P, sinh năm
1978; địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà P: Ông Trần Anh T, sinh năm 1975;
địa chỉ: Thôn P, xã T, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1960 và Nguyễn Thị S, sinh năm 1955;
địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 tại cấp phúc thẩm: Bà Vũ Thị H,
sinh năm 1993; địa chỉ: Chùa H, phường V, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bà S1:Trần Thị T2, sinh năm 1954;
địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
2
- Người làm chứng:
+ Ông Trần Văn T3, sinh năm 1961, (vắng mặt);
+ Anh Trần Văn L, sinh năm 1987, (vắng mặt);
+ Bà Trần Thị T4, sinh năm 1985, (vắng mặt):
Đều cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ.
+ Kim Thị L1, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, T, tỉnh Phú Thọ,
(vắng mặt).
Người kháng cáo: Ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 10 năm 2023 những lời khai tiếp theo
ông Trần Anh T nguyên đơn người đi diện theo ủy quyền của đồng
nguyên đơn bà Kim Thị Phương trình B:
Vợ chồng ông là chủ sử dụng thửa đất số 10.1, tờ bản đồ số 08, diện tích 180m
2
,
địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố P, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thôn
P, T, tỉnh Phú Thọ), theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số BM 093406, số vào sổ cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CH 00980/QSDĐ/3423/QĐ-UBND do Ủy ban nhân
dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cấp ngày 11/10/2013. Nguồn gốc diện tích đất trên
do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Trần
Văn T1, Nguyễn Thị S từ năm 2013. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền s
dụng đất, vợ chồng ông đã xây tường ngăn cách một phần diện tích đất giữa đất
của vợ chồng ông T1, bà S và phần đất mà vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng
02 trụ cổng, 02 cánh cổng sắt. Một phần diện tích đất còn lại, vợ chồng ông
vẫn để cho vợ chồng ông T1, bà S sử dụng vì vợ chồng ông T1, bà S vẫn để cho
vợ chồng ông sử dụng phần diện tích đất nông nghiệp của vợ chồng ông T1, bà S
liền với diện tích đất ruộng vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng của nhiều người
khác giáp với đất thổ cư, đất vườn của vợ chồng ông T1, S. Ngày 15/5/2022,
vợ chồng ông T1, bà S đã xây 01 đoạn tường, 01 trụ cổng, 01 cánh cổng sắt, mt
phần mái cổng lợp tôn, một phần sân bê tông trên một phần diện tích đất trên của
vợ chồng ông, cản trở việc đi lại, sử dụng đất của vchồng ông, lấn chiếm vào
diện tích của vợ chồng ông 5,9m
2
đất. Vợ chồng ông đã làm đơn đề nghị Ủy
ban nhân dân thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Ủy ban nhân dân xã T,
tỉnh Phú Thọ) giải quyết hòa giải nhưng không thành. do của việc vợ chồng
ông T1, S xây dựng các công trình trên do vchồng ông việc giao bán
đất, trong đó có 180m
2
đất mà vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng của ông T1,
3
S và cả phần diện tích đất ruộng mà vợ chồng ông đã nhận chuyển nhượng từ
những người khác.
Tại phiên tòa thẩm, vợ chồng ông xin thay đổi yêu cầu khởi kiện. Vợ chồng
ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S, sinh năm
1955 phải trả lại cho vchồng ông phần đất diện tích 5,9m
2
mà vợ chồng
ông T1, bà S đã lấn chiếm của vợ chồng ông, được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3,
5, 1 thể hiện tại đồ hiện trạng thửa đất tài sản gắn liền trên đất. Trên phần
đất này có mt số công trình do ông T1, bà S đã xây dựng, đã làm nên vợ chồng
ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông T1, S phải tháo dỡ toàn bộ các công
trình đã xây dựng, đã làm trên phần diện tích đất lấn chiếm là 01 đoạn tường xây
10cm, dài 3,59m, cao 1,90m; 01 trụ cổng rộng 0,50m x 0,50m, cao 2,5m; 01 cánh
cổng sắt; một phần mái cổng lợp tôn; một phần sân bê tông diện tích 5,9m
2
và các
công trình, tài sản khác phát sinh trên phần diện tích đất này.
Trước đây, tại đơn khởi kiện trong qtrình giải quyết vụ án, vợ chồng ông
yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông T1, Nguyễn Thị S1, sinh năm 1956 phải
tháo dỡ đoạn tường và 01 tr cổng để trả cho vợ chồng ông diện tích đấtchiều
dài khoảng 07m, chiều rộng 1,5m. Tuy nhiên, tại phiên tòa vợ chồng ông xin thay
đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể như ông đã trình bày ở trên.
Trần Th Thì L2 người đại diện theo ủy quyền ca bị đơn ông Trần Văn T1,
Nguyễn Thị S trình bày:
Vợ chồng ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S có thửa đất số 10, tờ bản đồ số 08,
diện tích 609m
2
, trong đó 300m
2
đất thổ 309m
2
đất vườn, đã được Ủy
ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đứng tên ông Trần Văn T1 ngày 28/11/1993. Nguồn gốc thửa đất này do ông Trần
Văn T5 (đã chết 1998) và bà Nguyễn Thị T6 (đã chết năm 2011) là bố mẹ đẻ của
cũng là bố mẹ đẻ của ông T1 cho vợ chồng ông Trần Văn T1 từ khoảng
trước năm 1993. Sau khi được cho đất, ông T1, S trên đất cho đến nay, không
có tranh chấp với ai. m 2011, ông T1, bà S chuyển nhượng cho ông T, bà P 02
thửa đất nông nghiệp, cụ thể thửa đất nào trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của ông T1, bà S thì bà không biết. Việc chuyển nhượng này không lập thành
văn bản, ông T, P đã trả cho ông T1, S 11.300.000đồng. Sau khi nhận chuyển
nhượng, ông T, P đã san lấp đất xây 03 gian nhà xây gạch, lợp ngói, 06
gian công trình phụ xây gạch, lợp tôn, xây tường bao loan. Đối với 02 thửa đất
này vì ông T1, S đã chuyển nhượng cho ông T, P ông T, bà P đã trả đ
tiền, đã xây nhà các công trình trên đất nên không ý kiến đối với 02
thửa đất này và bà không có yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề gì liên quan đến 02
thửa đất này, cũng không đề nghị Tòa án xem xét đến việc chuyển nhượng giữa
các bên đối với 02 thửa đất này. Tháng 8/2013, ông T1, bà S chuyển nhượng cho
vợ chồng T, P 30m
2
đất vườn, tại thửa số 10, tờ bản đồ số 08. Diện tích đất
4
30m
2
này chiều ngang 2,5m, chiều dài 11m. Việc chuyển nhượng này
không lập thành văn bản. Giá chuyển nhượng là 17.000.000đồng. Tòa án cho
xem Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, lập ngày 08/8/2013, tại Văn
phòng C, xác định chữ ký, chữ viết trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất này đúng chữ ký, chữ viết của ông T1, bà S. Việc ông T1, bà S vào
hợp đồng chuyển nhượng này là do bị vợ chồng ông T, P lừa. Ông T1 không
biết chữ mà chỉ biết viết chữ T1. Bà S biết viết và biết đọc chữ. Thực tế không có
việc ông T1, bà S chuyển nhượng cho ông T, P 180m
2
đất (trong đó 80m
2
đất ở và 100m
2
đất vườn), tại thửa số 10, tờ bản đồ số 08 như thể hiện trong hợp
đồng chuyển nhượng. Sau đó, ông T, bà P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đứng tên ông T, P. Ông T1 chỉ đất thổ cư, đất vườn đất trồng
trọt chứ không đất trồng cây lâu năm để chuyển nhượng cho ông T, bà P. Hiện
nay, ông T1, bà S làm ruộng tại địa phương, làm công việc gia đình nên ông T1,
bà S không có thời gian đến Tòa án để tham gia vào việc giải quyết vụ án tại Tòa
án. Mặt khác, ông T1 không biết chữ. S không biết ăn nói. Ông T1, bà S không
nói năng được như người ta. Mặc dù, Tòa án đã phân tích, giải thích nhưng
không yêu cầu Tòa án xem xét về năng lc hành vi của S đề nghị Tòa án
giải quyết theo thủ tục chung. Bà là người được ông T1, bà S ủy quyền tham gia
tố tụng đối với vụ án này trên cơ sở giấy ủy quyền nên như vậy quyền lợi của ông
T1, bà S sẽ được bảo đảm theo quy định của pháp luật.
Nay ông T, bà P yêu cầu ông T1, bà S phải tháo dỡ 01 đoạn tường xây 10cm, dài
3,59m, cao 1,90m; 01 trụ cổng rộng 0,50m x 0,50m, cao 2,5m; 01 cánh cổng sắt;
một phần mái cổng lợp tôn; một phần sân tông 5,9m
2
và các công trình, tài sản
khác trên phần diện tích đất này để trả cho vợ chồng ông T, Phương diện T7
đất 5,9m
2
, cụ thể như ông T đã trình bày thì bà không đồng ý. Phần diện tích đất
vợ chồng ông T yêu cầu trả lại là đất của ông T1, không chuyển nhượng cho
ông T, bà P mà chỉ cho ông T, bà P đi nhờ. Lý do tháng 5/2022, ông T1, bà S xây
dựng các công trình trên ông T, P giao bán đất, vi phạm nội dung giấy
cam kết đã ký.
Trước khi ông T1, bà S chuyển nhượng 30m
2
đất vườn như bà trình bày ở trên thì
bà đã yêu cầu ông T viết giấy cam kết mà bà đã nộp cho Tòa án. Bà là người đọc
cho ông T viết vì bà không muốn sau này ông T, bà P chuyển nhượng cho người
khác. Sau khi ông T viết giấy cam kết thì ông T chở ông T1, bà S đi ký Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể ông T đón ông T1, S đi vào giờ
nào cụ thể thì bà không biết.
Người làm chứng ông Trần Văn T3 trình bày: Có một lần T2 nhờ ông viết
xác nhận nội dung vào đơn đề nghị của T2 nên ông đã viết nội dung xác nhận,
cụ thể là “Ông T1 bán đất vườn từ eo cây sấu đến cổng sắt nhà ông T còn đoạn
đất ngoài của ông T1 cho ông T đi qua nhờ”. do ông xác nhận nội dung như
5
vậy là do bà T2 nói với ông là để cho ông T một lối đi từ eo cây sấu ra đến cổng
sắt nhà ông T nên nhờ ông xác nhận nội dung như vậy vào đơn của T2. Cây
sấu thì ông T đã chặt bỏ từ lâu, hiện không còn. Tòa án đã cho ông xem Đơn đề
nghị giải quyết tranh chấp đất ở và sổ bìa đỏ của Trần Văn T1 và đất ở sổ bìa đỏ
của Trần Văn T8, ông xác định chviết nội dung xác nhận ntrên và chữ ký,
chữ viết Trần Văn T3 là chữ chữ viết của ông. Khi ông viết xác nhận thì
đơn này chưa xác nhận của anh Trần Văn L. Thời gian ông viết xác nhận
vào đơn của T2 như trên thì ông không nhớ cụ thể. Ông cũng không ước lượng
được ông đã viết xác nhận vào tháng nào, năm nào. Thực tế các bên mua bán
chuyển nhượng cho nhau cụ thể như thế nào ông không biết vì ông không có mặt
tại thời điểm các bên mua bán, chuyển nhượng. Tuy nhiên, sau khi các bên chuyển
nhượng cho nhau thì ông sang nhà ông T1 chơi thì T2, ông T1 nói với
ông chuyển nhượng cho ông T8, P một phần diện tích đất, nhưng cụ thể
chuyển nhượng bao nhiêu mét tông không nhớ. Ông khẳng định toàn bộ nội
dung ông trình bày hoàn toàn chính xác nhưng ông không chứng cứ để
chứng minh.
Người m chứng anh Trần Văn L trình bày: Vào năm 2024, anh có xác nhận vào
Đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất ở và sổ a đỏ của Trần Văn T1 đất ở sổ
bìa đỏ của Trần Anh T. Đơn này do bà T2 viết. Nội dung xác nhận cụ thlà “Ông
T1 không bán đất ở, không bán đất trồng cây lâu năm mà chỉ bán đất ruộng canh
tác và chỉ bán 30m
2
đất vườn, từ eo gốc cây sấu của ông T1 đến cổng sắt nhà ông
T, còn đất bên ngoài của ông T1 ông T1 cho ông T đi nhờ”. Bà T2 người trực
tiếp xin xác nhận của anh. T2 đưa đơn cho anh đọc trực tiếp, không trao đổi
với anh về nội dung xin xác nhận, tự anh xác nhận nội dung như vậy. do anh
biết nội dung như trên để xác nhận sau khi ông T1 chuyển nhượng khoảng
30m² đất vườn trong bìa đỏ thì anh sang nhà ông T1 uống nước, ông T1 bảo bán
thêm đất cho ông T cho rộng đường đi nên anh biết như vậy. Anh không được
chứng kiến việc các bên chuyển nhượng đất cho nhau, kể cả chuyển nhượng đất
ruộng và đất vườn mà anh chỉ nghe ông T1 nói lại như vậy. Mặc dù anh xác định
nội dung anh xác nhận là hoàn toàn đúng. tuy nhiên anh không có tài liệu chứng
cứ gì để chứng minh.
Người làm chứng Trần Thị T4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải
quyết vụ án, bà Trần Thị T4 trình bày: không nhớ những nội dung liên quan
đến việc người làm chứng đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất ngày 08/8/2013 giữa ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S1 với ông Trần Anh
T, Kim Thị P. Tòa án cho xem 01 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 08/8/2013 giữa ông T1, S1 với ông T, P thì xác định
đã đến Văn phòng C (nay là Văn phòng C) để ký vào Hợp đồng này. Chữ ký T4
và chữ viết Trần Thị T4 trong Hợp đồng là chữ ký và chữ viết của bà. Tuy nhiên,
6
do thời gian đã lâu, không còn nhớ về việc này nên từ chối không trình
bày bất cứ nội dung gì khác.
Người làm chứng Kim Thị L1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải
quyết vụ án, Kim Thị L1 trình bày: Ngày 08/8/2013, đang nhà thì ông T
gọi điện thoại mời đến tại Văn phòng C (nay là Văn phòng C) để làm chứng,
chứng kiến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn T1,
Nguyễn Thị S1 với ông Trần Anh T, bà Kim Thị P. Khi đến văn phòng công
chứng thì đã có mặt ông T1, bà S1 và ông T, bà P, bà Trần Thị T4. Bà được Văn
phòng công chứng giải thích do ông T1 không viết được nên phải mời 02 người
làm chứng T4 chứng kiến. Sau khi Văn phòng C Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thì cán bộ công chứng đã đọc lại Hợp đồng chuyển
nhượng cho ông T1, S1, ông T, bà P bà, T4 nghe. Sau đó, người làm
chứng là bà và bà T4 đọc lại Hợp đồng chuyển nhượng trên cho ông T1 nghe
hay không thì bà không nhớ rõ vì thời gian đã lâu. Sau đó, ông T1, bà S1, ông T,
P bà, T4 đều vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụn đất. Tại
thời điểm công chứng ông T1, S1 vẫn giao tiếp bình thường. Sau khi các bên
kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xong thì T4 đi v
trước. Ông T1, S1, ông T, P vẫn tại Văn phòng công chứng. khẳng
định chữ , chữ viết Kim Thị L1 trong hợp đồng trên là chữ ký, chữ viết của bà.
Với nội dung trên, tại bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều
266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015; Căn cứ vào Điều 6,
Điều 12, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 2
Điều 26 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, bà Kim Thị P.
Buộc ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải trả cho ông Trần Anh T, Kim
Thị P 5,9m
2
đất (nay thôn P, T, tỉnh Phú Thọ), (phần đất này được giới
hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 5, 1 trên sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên
đất) các chiều cạnh cụ thể như sau: Phía Bắc giáp lối đi được giới hạn bởi
các điểm 5, 1 dài 2,05m; phía Đông giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất
số 10.1, tờ bản đồ số 8, được giới hạn bởi các điểm 1, 2 dài 2,48m; phía Nam giáp
phần diện tích đất còn lại của thửa đất số 10.1, tờ bản đồ số 8, được giới hạn bởi
các điểm 2, 3 dài 2,09m; phía Tây giáp thửa đất số 10, tờ bản đồ số 8, được giới
hạn bởi các điểm 3, 5 dài 3,42m. Ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải tháo
7
dỡ các tài sản, công trình đã xây dựng, đã làm trên diện tích đất lấn chiếm để trả
lại đất cho ông Trần Anh T, Kim Thị P, gồm đoạn tường xây 10cm, dài 3,59m,
cao 1,90m; 01 trụ cổng rộng 0,50m x 0,50m, cao 2,5m; 01 cánh cổng sắt; một
phần mái cổng lợp tôn; một phần sân tông 5,9m
2
các công trình, tài sản khác
phát sinh trên phần diện tích đất này.
Ngoài ra quyết định còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm và quyền kháng
cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị S kháng
cáo với nội dung: Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu và có
quan điểm: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn Thị
S. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm
số 02/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 9
Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh
tụng công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn T1 Nguyễn
Thị S nộp trong hạn luật định, Ông T9 và S được miễn nộp tiền tạm ứng án p
phúc thẩm nên kháng cáo của ông bà được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn T1 và bà Nguyễn
Thị S xét thấy:
Ngày 08/8/2013, Văn phòng C (nay đã được đổi tên là Văn phòng C) có lập Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng ông Trần Văn
T1, Nguyễn Thị S bên nhận chuyển nhượng ông Trần Anh T, Kim Thị
P, với nội dung ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S chuyển nhượng cho ông Trần
Anh T, bà Kim Thị P quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số C 733093, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận 766/QSDĐ/569/QĐ-UBND do y
ban nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Pc cấp ngày 29/11/1993, thuộc thửa số 10, tờ
bản đồ số 8, địa chỉ thửa đất: Tổ dân phố Đ, thị trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc
(nay là thôn Đ, xã T, tỉnh Phú Thọ), với diện tích 180m², với giá chuyển nhượng
28.000.000 đồng, vào số công chứng 418.2013/HĐCN; quyển số 01- TP/CC-
SCC/HĐGD ngày 08/8/2013, do công chứng viên Doãn Khắc L3 ký. Căn cứ để
Văn phòng Công chứng lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên
do bà Nguyễn Thị S1 người yêu cầu công chứng Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sdụng đất, thể hiện phiếu yêu cầu, kèm theo các tài liệu gồm: Giấy
8
chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông T1,
S yêu cầu Văn phòng C lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với
bên nhận chuyển nhượng là ông Trần Anh T, Kim Thị P, diện tích đất trên có
vị trí tại tổ dân phố Đ, thị trấn H. huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi tiếp nhận các
giấy tờ trên, Văn phòng C (cũ) soạn thảo văn bản theo đúng như yêu cầu của các
bên, khi đó mặt đầy đủ các bên tên trong hợp đồng. Ông T1 không viết được
nên có mời 02 người làm chứng là bà Kim Thị L1 và bà Trần Thị T4 chứng kiến.
Người làm chứng đã đọc cho ông T1 nghe. Sau đó, các bên người làm chứng
đều đã vào hợp đồng chuyển nhượng. Việc công chứng được thực hiện theo
đúng trình tự do pháp luật quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã lấy lời khai của Kim Thị L1 và bà Trần
Thị T4 người làm chứng. Những người này đều xác định ngày 08/8/2013, đã
đến tại n phòng C để làm chứng đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trên. L1 xác định ông T1, bà S giao tiếp bình thường, phợp với
nội dung làm việc với Văn phòng C. Bà T4 xác định do thời gian đã lâu bà không
nhớ cụ thể nên tchối không trình bày gì khác;T1 cũng trình bày có 02 người
làm chứng anh Trần Văn L, ông Trần Văn T3 biết việc ông T1, S không
chuyển nhượng 180m
2
đất trên cho ông T, bà P. Ông Trần Anh T đã đề nghị Tòa
án lấy lời khai của anh Trần Văn L, ông Trần Văn T3 triệu tập anh L, ông T3
tham gia phiên tòa với tư cách người làm chứng. Tòa án cũng đã lấy lời khai
của anh L, ông T3. Qua lời khai của anh L, ông T3 xác định anh L, ông T3 không
được trực tiếp chứng kiến việc các bên mua bán, chuyển nhượng chỉ nghe ông
T1, T2 kể lại, cụ thể như anh L, ông T3 đã trình bày trên anh L, ông T3
không tài liệu, chứng cứ để chứng minh nên lời khai của anh L, ông T3 hoàn
toàn không có cơ sở.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy, việc chuyển nhượng 180m
2
đất giữa ông T1, bà S với ông T, bà P trên cơ sở Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sdụng đất trên hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
của các bên. Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tn, ông T, bà P đã
sử dụng n định, công khai, không tranh chấp, không ai có ý kiến gì. Đến ngày
15/5/2022, ông T1, S đã xây dựng các công trình trên một phần diện tích đất
đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông T, P như các bên đã trình bày trên thì
xảy ra tranh chấp. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định thửa đất số 10.1, tờ bản đồ
số 8 như các bên đã trình bày ở trên thuc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trần
Anh T, bà Kim Thị P từ năm 2013 và sau khi xem xét, thẩm định tại chỗ xác định
được ông T1, bà S đang sử dụng một phần lớn diện tích đất của vợ chồng ông T,
bà P, trong đó có cả phần diện tích đất 5,9m
2
ông T1, bà S đã xây, làm một số
công tnh trên diện tích đất này bao gồm 01 đoạn tường xây 10cm, dài 3,59m,
9
cao 1,90m; 01 trụ cổng rộng 0,50m x 0,50m, cao 2,5m; 01 cánh cổng sắt; một
phần mái cổng lợp tôn; một phần sân tông 5,9m
2
. Việc sử dụng đất của ông T1,
bà S đối với phần 5,9m
2
đất trên là không đúng vị trí, lấn chiếm sang diện tích đất
của ông T, bà P mà ông T, bà P đã có yêu cầu khởi kiện nên cần buộc ông T1, bà
S tháo dỡ các công trình đã xây dựng, đã làm trên phần đất lấn chiếm y để trả
lại phần đất lấn chiếm cho ông T, P. Nay ông T, P yêu cầu Tòa án giải quyết
buộc vợ chồng ông T1, S phải trả lại cho ông T, P phần diện tích đất
5,9m
2
vợ chồng T1, bà S đã sử dụng lấn chiếm của ông T, P căn cứ
và hợp pháp nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, bà P, buộc ông T1,
bà S trả lại cho ông T, bà P 5,9m
2
đất ở theo yêu cầu của ông T, bà P và buộc ông
T1, bà S phải tháo dỡ toàn bộ các công trình đã xây dựng, đã làm trên phần diện
tích đất lấn chiếm trên. Đối với phần diện tích đất của thửa đất số 10.1 mà ông T,
bà P đã nhận chuyển nhượng nhưng vẫn để cho ông T1, bà S1 sử dụng và không
yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết đối với
phần diện tích đất này. Bà T2 cho rằng ông T1, bà S chỉ chuyển nhượng cho ông
T, bà P 30m
2
đất trong bìa đỏ của ông T1 là không có cơ sở. Theo Biên bản định
giá tài sản của Hội đồng định giá đối với thửa đất số 10.1, tờ bản đồ số 8 trên thì
đất ở có giá là 1.000.000đồng/m
2
; đất vườn có giá là 60.000đồng/m
2
.
Như vậy nội dung kháng cáo của ông Trần Văn T1 Nguyễn Thị S không
căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
Tại cấp phúc thẩm, Vũ Thị H là người đại diện theo ủy quyền của ông T1 cho
rằng Nguyễn Thị S bị bệnh tâm thần đã phải đi điều trị tâm thần vào ngày
02/9/2013 trước đó một lần vào tháng 7/2013 nên không đủ minh mẫn
để Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, tại cấp thẩm
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh V. Kết quả xác minh
thể hiện ngày 02/9/2013, S được gia đình đưa đến khám điều trị tại Bệnh
viện Tâm thần tỉnh V. Bệnh viện chuẩn đoán bà S bị rối loạn cảm xúc lưỡng cực
hiện tại giai đoạn hỗn hợp. Ngày 10/9/2013, gia đình S xin cho S ra viện.
Bệnh viện thấy tình trạng bệnh của bà S đã ổn định nên cho bà S ra viện. Từ thời
điểm bà S ra viện cho đến nay, Bệnh viện không thấy S đến điều trị thêm lần
nào. Trước đó, từ ngày 05/7/2013 đến ngày 22/7/2013, S cũng đã điều trị tại
Bệnh viện Tâm thần tỉnh V với chuẩn đoán rối loạn hoang tưởng thực tổn. Bệnh
viện Tâm thần tỉnh V xác định khi phát bệnh đối với những bệnh này người bệnh
thể bị ảnh hưởng đến khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Tuy nhiên,
khi điều trị bệnh ổn định thì người bệnh nhận thức và sinh hoạt bình thường. Như
vậy sở để xác định khi không phát bệnh thì S hoàn toàn khả năng nhận
thức điều khiển hành vi. T2 cho rằng tại thời điểm chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, S không đủ minh mẫn nhưng không tài liệu, chứng cứ để
chứng minh nên không sở để xem xét. Đồng thời việc đề nghị giám định
10
tâm thần cho S tại thời điểm m 2013 trong khi S không tài liệu nào
chứng minh btâm thần tại thời điểm năm 2013 nhưng tại thời điểm giải quyết
xét xử vlại đề nghị giám định tâm thần thời điểm năm 2013 vkhoa học thực
tiễn thì không thể thực hiện việc giám định tâm thần tại thời điểm năm 2013 được.
Tại phiên toà phúc thẩm Hội đồng xét xử đã phân tích, các đương sự đã hiểu
không có yêu cầu đề nghị gì.
Quá trình giải quyết ván tại cấp phúc thẩm: Người đại diện theo uỷ quyền của
S đơn đề nghị Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, tuy nhiên tại
phiên toà bị đơn có trình bày tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 17 tháng 5
năm 2024 do cấp thẩm tiến hành S cũng mặt đlàm việc nhưng không
vào biên bản sau khi kết quả xem xét thẩm định tại chỗ các bên đương sự
đều không có khiếu nại ý kiến gì về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ do cấp sơ
thẩm thực hiện, khi nghiên cứu hồ cấp phúc thẩm cũng không thấy sai sót
trong việc thực hiện xem xét thẩm định tại chỗ nên yêu cầu này không có căn
cứ không được chấp nhận.
Đối với yêu cầu buộc tháo dỡ, cấp sơ thẩm đã tuyên buộc ông T1 và bà S phải trả
lại 5,9m
2
đất cho ông T P, cấp phúc thẩm sẽ giữ nguyên bản án thẩm
nhưng sẽ điều chỉnh cách tuyên cho cụ thể đviệc thực hiện thi hành bản án được
thuận lợi và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3]. Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải trả lại cho
ông Trần Anh T, bà Kim Thị P số tiền 7.700.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn
đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và chi pđịnh giá tài sản mà ông T,
bà P đã tạm ứng để chi.
[4].Về án phí dân sự thẩm: Đơn khởi kiện của ông Trần Anh T, Kim Thị P
được chấp nhận nên ông không phải nộp án phí được hoàn trả số tiền tạm
ứng án phí theo quy định. Ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S phải nộp án phí dân
sự sơ thẩm theo quy định.
[5].Về án phí dân sự phúc thẩm: Do ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S
đơn xin miễn nộp tiền án phí thuộc trường hợp được miễn án phí nên được
miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
quy định vmức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử dụng án phí lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng
cáo của ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S; ginguyên bản án dân sự thẩm
11
số: 02/2025/DS-ST ngày 18 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 9
Phú Thọ.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147;
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều
266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân snăm 2015; Căn cứ vào Điều 6,
Điều 12, Điều 166, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 2
Điều 26 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Anh T, bà Kim Thị P.
Buộc ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải trả cho ông Trần Anh T, Kim
Thị P 5,9m
2
đất ở thuộc thửa đất số 10.1, tờ bản đồ 08; địa chỉ: Tổ dân phố P, thị
trấn H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (nay thôn P, T, tỉnh Phú Thọ), (phần đất
này được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 5, 1 trên đồ hiện trạng thửa đất tài
sản gắn liền trên đất) và các chiều cạnh cụ thể như sau: Phía Bắc giáp lối đi
được giới hạn bởi các điểm 5,1 dài 2,05m; phía Đông giáp phần diện tích đất còn
lại của thửa đất số 10.1, tờ bản đồ số 8, được giới hạn bởi các điểm 1, 2 dài 2,48m;
phía Nam giáp phần diện tích đất còn lại của thửa đất số 10.1, tờ bản đồ số 8, được
giới hạn bởi các điểm 2, 3 dài 2,09m; phía Tây giáp thửa đất số 10, tờ bản đồ số
8, được giới hạn bởi các điểm 3, 5 dài 3,42m. Ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị
S phải tháo dỡ các tài sản, công trình đã xây dựng, đã làm trên diện tích đất lấn
chiếm để trả lại đất cho ông Trần Anh T, bà Kim Thị P, gồm đoạn tường xây 10
cm, dài 3,59m, cao 1,90m; 01 trụ cổng rộng 0,50m x 0,50m, cao 2,5m; 01 cánh
cổng sắt; một phần mái cổng lợp tôn; một phần sân ng 5,9m
2
các công
trình, tài sản khác phát sinh trên phần diện tích đất này.
Trường hợp ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S không tự nguyện tháo dỡ các tài
sản công trình trên diện tích đất 5,9m
2
trên thì bị cưỡng chế theo quy định của
pháp luật, mọi chi phí cưỡng chế phát sinh ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S
phải chịu.
Về chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải trả cho ông
Trần Anh T, Kim Thị P số tiền 7.700.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng)
tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ chi pđịnh giá tài sản ông Trần Anh
T và bà Kim Thị P.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn đề nghị thi
hành án, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì còn phải chịu lãi suất
theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền
thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
12
chế thi hành án tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí:
Án phí thẩm: Ông Trần Văn T1, Nguyễn Thị S phải nộp 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho ông Trần Anh T, bà Kim Thị
P số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai
thu số 0006862 ngày 21/12/2023 của quan Thi hành án dân sự huyện Tam
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 9 - Phú Thọ).
Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn T1, bà Nguyễn Thị S được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 9 – Phú Thọ;
- VKSND khu vực 9 – Phú Thọ;
- Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Nguyễn Thị Thu Hiền
Tải về
Bản án số 125/2026/DS-PT Bản án số 125/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 125/2026/DS-PT Bản án số 125/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất