Bản án số 130/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 130/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 130/2026/DS-PT ngày 15/05/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 130/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công ty Sông Đà kháng cáo về số tiền nợ gốc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 130/2026/DS-PT
Ngày: 15 - 05 - 2026
V/v Yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng
về điều khoản thanh toán
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên toà:
Các Thẩm phán:
bà Hoàng Ngọc Liễu
ông Nguyễn Mạnh Hùng
bà Trần Thanh Hải
- Thư phiên toà: Phương Anh - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:
ông Phạm Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 85/2026/TLPT DS ngày 25 tháng
03 năm 2026 về việc Yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng về điều khoản thanh
toán.
Do Bản án dân sự thẩm số: 05/2026/DS - ST ngày 06 tháng 02 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 117/2026/QĐ-PT
ngày 15/4/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Đinh T, sinh năm 1973. Địa chỉ: số nhà B, tổ H,
phường T, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần X (gọi tắt Công ty X). Địa chỉ: số nhà A,
tổ C, phường T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo pháp luật: bà Trần Thị Hoa L - Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: ông Hoàng Tuấn T1, sinh năm 1992. Địa
chỉ: khu phố Y, xã Y, tỉnh Phú Thọ.
3. Người làm chứng: Thị L1, sinh năm 1981. Địa chỉ: tổ C,
phường H, tỉnh Phú Thọ.
(Tại phiên tòa, ông T và ông T1 có mặt. H vắng mặt, bà L1 có đơn xin
xét xử vắng mặt).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo nội dung Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và
tại phiên tòa, nguyên đơn ông Đinh T trình bày: Ngày 10/02/2020, ông T
với Công ty X Hợp đồng kinh tế số: 05/HĐKT. Nội dung hợp đồng về việc giao
khoán khối lượng thi công công trình. Gói thầu số 01: Xây lắp tuyến kè bờ tả
đê quây kết hợp đường công vụ thanh thải dòng chảy phần điều chỉnh, bổ
sung dự án: Kè bảo vệ khu dân cư, đất nông nghiệp suối N, H, huyện T (dự
án thuộc công trình của Ban quản đầu xây dựng huyện T, tỉnh Lai Châu).
Hình thức giao khoán, đơn giá 160.000 đồng/1m
3
, khối lượng tạm tính
10.000m
3
tông, giá trị hợp đồng tạm tính 1.600.000.000 đồng, nếu trong quá
trình thi công phát sinh khối lượng thanh toán thì ông T sẽ được thanh toán
chi phí đó theo đơn giá đã thỏa thuận. Quá trình thực hiện hợp đồng đối với khối
lượng giá trị trộn, chở tông đội ông T đã thực hiện tổng 10.577m
3
với
đơn giá thỏa thuận là 160.000đồng/m
3
, bằng tổng stiền: 1.692.320.000 đồng.
Ngoài ra còn thực hiện nhiều hạng mục khác. Tổng kinh phí toàn bộ công trình
là 1.904.150.000 đồng. Bà Trần Thị Hoa L - Giám đốc Công ty đã ứng trả nhiều
lần qua tài khoản ngân hàng, tổng sđã trả 1.732.367.000 đồng. Đến nay còn
chưa trả cho ông số tiền 171.783.000 đồng (làm tròn 171.500.000 đồng).
Việc thi công công trình đã hoàn thành t2021, Công ty X đã bàn giao cho chủ
đầu tư và được thanh toán từ 2022. Đến nay giữa các bên không khiếu kiện, thắc
mắc gì về chất lượng công trình, nghĩa vụ bảo hành phần thi công, chất lượng bê
tông. Do Công ty C thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên nay ông T đã làm đơn
khởi kiện, yêu cầu Công ty X phải trả cho ông T stiền 171.500.000 đồng
tiền lãi 10%/năm tính từ tháng 3/2021. Ngoài ra, còn phải trả tiền công đi lại đòi
nợ phát sinh 25.000.000 đồng. Tại phiên tòa thẩm, ông T yêu cầu tính tiền
lãi từ ngày 13/8/2025, không yêu cầu đòi số tiền đi lại đòi nợ phát sinh.
Công ty X trình bày: Ngày 10/02/2020, Công ty X có ký Hợp đồng kinh tế
số: 05 với ông Đinh T với nội dung gói thầu số 01 xây lắp tuyến bờ tả
đê quây kết hợp đường công vụ thanh thải dòng chảy phần điều chỉnh, bổ
sung dự án: bảo vệ khu dân cư, đất nông nghiệp suối Nậm xã H huyện T với
giá 160.000đ /1m
3
. Dự tính hợp đồng có giá trị 1.600.000.000 đồng. Tổng giá trị
hợp động 1.904.150.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty X
chuyển thanh toán cho ông T rất nhiều lần với số tiền 1.732.367.000 đồng,
ông T cũng xác nhận việc đó. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai gói thầu giữa
Công ty X ông T sự thỏa thuận lại giá cả là thay đổi giá từ 160.000đ/1m
3
xuống còn 150.000đ/1 m
3
. Sau khi thực hiện xong công trình hai bên đã có Biên
3
bản quyết toán khối lượng công trình và ông T cũng ký xác nhận vào đó. Với số
tiền Công ty đã ứng thanh toán thì số tiền còn phải trả chỉ 69.707.400
đồng, Công ty đồng ý trả lãi theo số tiền này theo quy định của pháp luật. Không
đồng ý với yêu cầu đòi 25.000.000 đồng tiền công đi lại của ông T.
Bản án dân sự thẩm số: 05/2026/DS-ST ngày 06 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ quyết định:
n c khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227;
Điu 228; khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 ca B
lut T tng dân s;
Căn cứ Điều 104; Điều 199; Điều 146; Điều 280; Điều 357; Điều 385;
Điều 403; Điều 468 và Điều 688 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa buộc Bị
đơn phải thanh toán 25.000.000 đồng tiền chi phí đi lại thủ tục phát sinh
trong quá trình đòi nợ.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đinh T: Buộc Công ty X phải
thanh toán cho ông Đinh T số tiền gốc là: 171.500.000 đồng tiền lãi phát
sinh tính đến ngày 06/02/2026 8.316.575 đồng. Tổng số tiền là: 179.816.575
đồng. Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí
quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/2/2026, Công ty X kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm
về việc buộc Công ty phải thanh toán cho ông T số tiền 179.816.575 đồng, việc
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên như trên là chưa được khách quan, các chứng cứ chưa
được xem xét kỹ càng. Tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty X giữ nguyên nội dung
kháng cáo. Người đại diện theo ủy quyền trình bày thêm: nhất trí về khối lượng
công trình số tiền Công ty đã thanh toán cho ông T. Ông T1 khẳng định việc
thay đổi đơn giá chỉ được thỏa thuận bằng miệng, không phụ lục hợp đồng
như thỏa thuận tại Hợp đồng số 05 nhưng căn cứ vào Bảng đề nghị thanh toán
giá trị khối lượng công trình do ông T làm và đề nghị thanh toán với giá 150.000
đồng/1m
3
, từ khi vào văn bản đó cho đến nay ông T không khiếu nại hay
thắc mắc cho đến tháng 5/2025 khi các bên xảy ra tranh chấp thì ông T mới
ý kiến. Như vậy, ý chí của ông T đã nhất trí thay đổi đơn giá. Do đó, Công ty
chỉ chấp nhận trả cho ông T số tiền nợ gốc là 69.704.400 đồng.
4
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán
Thư phiên tòa của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp tụng
dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban vụ Quốc hội, không chấp nhận kháng
cáo Công ty, giữ nguyên ản án dân sự thẩm số: 05/2026/DS-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ. Về án phí, Công ty X
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ vào các chng c, tài liệu đã được thm tra ti phiên tòa phúc
thẩm; căn c vào kết qu tranh lun tại phiên tòa, trên s xem xét đầy đủ,
toàn din tài liu, chng c, ý kiến ca Kim sát viên những người tham gia
t tng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn yêu cầu tiếp tục thực hiện Hợp đồng
về điều khoản thanh toán. Bị đơn có địa chỉ tại phường T, tỉnh Phú Thọ. Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã xác định quan hệ pháp luật Yêu cầu tiếp
tục thực hiện hợp đồng về điều khoản thanh toán để thụ giải quyết vụ án
theo đúng quy định tại Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của Công ty X trong hạn luật định, hợp lệ. Theo quy
định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự được chấp nhận để xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T ông T1 mặt. H vắng mặt
nhưng đại diện theo ủy quyền. L1 đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn tiến hành
xét xử.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn ông Đinh T căn cứ Hợp đồng kinh tế số: 05 ngày
10/02/2020 để khởi kiện Công ty X, đnghị Tòa án buộc Công ty phải thanh
toán cho ông Đinh Bá T số tiền 171.500.000 đồng tiền lãi phát sinh tính từ
ngày 13/8/2025 đến ngày 06/02/2026 trả tiền công đi lại đòi nợ phát sinh
25.000.000 đồng. Công ty X với việc tính lãi phát sinh theo quy định nhưng
không nhất trí với số tiền ông T đề nghị thanh toán cho rằng số tiền gốc
5
chỉ còn lại 69.707.400 đồng không nhất trí tính tiền công đi lại đòi nợ. Tại
phiên tòa thẩm, ông T rút yêu cầu khởi kiện trả tiền công đi lại đòi nợ phát
sinh 25.000.000 đồng. Tòa án đã chấp nhận Đình chỉ nội dung này theo
quy định tại khoản 2 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời chấp nhận yêu
cầu khởi kiện còn lại của ông T, buộc Công ty X phải thanh toán số tiền
171.500.000 đồng tiền lãi phát sinh là 8.316.575 đồng. Tổng số tiền Công ty
X phải thanh toán 179.816.575 đồng. Công ty X không nhất trí với Bản án
dân sự sơ thẩm nên đã kháng cáo một phần bản án về số tiền nợ gốc.
[2.2] Xét kháng cáo của Công ty X. Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng kinh tế số: 05 ngày 10/02/2020, giữa ông T Công ty X được
thực hiện trên sở tự nguyện, các bên đều năng lực hành vi dân sự, không
bị đe dọa, ép buộc, lừa dối. Nội dung của Hợp đồng không vi phạm điều cấm,
không trái đạo đức hội. Do đó, Hợp đồng hiệu lực pháp luật, sự giàng
buộc giữa hai bên.
Theo nội dung của Hợp đồng thì hai bên thỏa thuận việc giao khoán khối
lượng thi công công trình xây lắp tuyến bờ tả và đê quây kết hợp đường
công vụ và thanh thải dòng chảy phần điều chỉnh, bổ sung dự án: Kè bảo vệ khu
dân cư, đất nông nghiệp suối N, H, huyện T (dự án thuộc công trình của Ban
quản lý đầu tư xây dựng huyện T, tỉnh Lai Châu) với đơn giá 160.000 đồng/1m
3
,
khối lượng tạm tính 10.000m
3
tông, giá trị hợp đồng tạm tính
1.600.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng, khối lượng thực hiện thực tế
10.577m
3
với đơn giá thỏa thuận 160.000 đồng/m
3
, bằng tổng số tiền:
1.692.320.000 đồng. Ngoài ra, giữa các bên còn thực hiện thêm công việc với
khối lượng 1.272m
3
(trong đó 1.209m
3
với giá 170.000 đồng 63m
3
với giá
100.000 đồng) là 211.830.000 đồng. Tổng kinh phí toàn bộ công trình là
1.904.150.000 đồng. Đối chiếu các khoản đã thanh toán 1.732.367.000 đồng, số
tiền gốc còn nlại 171.783.000 đồng, đã làm tròn theo đnghị của ông T là
171.500.000 đồng.
Công ty X về khối lượng công trình cũng như số tiền đã thanh toán
chuyển khoản cho ông T. Tuy nhiên về đơn giá của khối lượng 10.577m
3
thi
công theo Hợp đồng số 05 thì Công ty X khẳng định việc thay đổi giá chỉ thỏa
thuận miệng với ông T, không phụ lục hợp đồng nhưng Công ty X căn cứ
Bảng đề nghị thanh toán giá trị khối lượng công trình có chữ ký của ông T và bà
L1 kế toán của Công ty, nội dung thể hiện thay đổi đơn giá từ 160.000 đồng/1m
3
xuống là 150.000 đồng/1m
3
và Bảng đề nghị thanh toán này do ông T làm và đề
nghị.
6
Thấy rằng, theo quy định tại Điều 7 của Hợp đồng số 05 ghi: "Hai bên
cam kết thực hiện đúng theo các điều khoản của hợp đồng này, không bên nào
tự ý thay đổi hợp đồng không được sự đồng ý của bên kia. Mọi thay đổi
trong quá trình thực hiện hợp đồng đều phải được hai bên thống nhất bằng văn
bản…". Như vậy, việc thỏa thuận thay đổi đơn gphải bằng văn bản. Công ty
X căn cứ vào Bảng đề nghị thanh toán giá trị khối lượng công trình cho rằng do
ông T tự đề nghị đxác định việc thay đổi đơn giá xuống 150.000 đồng/1m
3
không có cơ sở bởi lẽ ông T không phải là người làm B đề nghị thanh toán như ý
kiến của ông T1 do L1 - kế toán Công ty làm theo sự chỉ đạo của Giám
đốc, việc này đã được L1 xác nhận. Nội dung của B đề nghị thanh toán cũng
không thể hiện việc ông T ý kiến nhất trí sửa đổi, bổ sung thay đổi đơn giá
của Hợp đồng số 05, Bảng đề nghị thanh toán giá trị khối lượng công trình
không phải là Biên bản quyết toán về toàn bộ khối lượng đã thực hiện cũng như
chốt lại số tiền Công ty còn phải thanh toán. Ngoài các tài liệu nêu trên, Công ty
không cung cấp thêm được các tài liệu, chứng cứ nào khác. Do đó, Tòa án cấp
thẩm buộc Công ty X còn phải thanh toán cho ông T số tiền 171.500.000
đồng là có căn cứ.
[2.3] Các bên thống nhất thời điểm tranh chấp 13/8/2025 với lãi suất
10% theo quy định của Bộ luật Dân sự nên số tiền lãi mà Bị đơn phải thanh toán
cho Nguyên đơn được tính từ ngày 13/8/2025 đến ngày 06/2/2026 (thời điểm xét
xử thẩm), cụ thể: 171.500.000đ x 10% x 177 ngày/365 ngày = 8.316.575
đồng. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc tổng số tiền Công ty X phải trả thanh toán
cho ông Đinh Bá T là: 171.500.000 đồng +8.316.575 đồng = 179.816.575 đồng
là có căn cứ.
[2.4] Từ những nhận định nêu trên, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của
Công ty X, cần giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số: 05/2026/DS - ST ngày
06/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
[3] Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 282 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Đối với án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của Công ty X không được
chấp nhận nên Công ty phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được quy định tại
Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
[5] Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Tòa
án nên được chấp nhận.
7
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần X. Giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 05/2026/DS - ST ngày 06/2/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 -
Phú Thọ (kèm theo Thông báo sữa chữa bổ sung số 21/2026/QĐ - SCBSBA
ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ).
2. Các quyết định khác của Bản án dân sự thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
3. V án phí: căn cứ Điu 148 B lut T tng dân skhoản 3 Điều 29
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Công ty Cổ phần X phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) án
phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001282 ngày
13/02/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Xác nhận Công ty Cổ phần X
đã nộp đủ án phí.
4. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (15/5/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- VKSND khu vực 12 - Phú Thọ;
- TAND khu vực 12 - Phú Thọ
- Phòng THADS khu vực 12 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu: HSVA; tổ HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
Tải về
Bản án số 130/2026/DS-PT Bản án số 130/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 130/2026/DS-PT Bản án số 130/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất