Bản án số 151/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 151/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 151/2026/DS-PT ngày 11/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 151/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành A, bà Nguyễn Thị Thanh H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 25/2025/DS-ST, ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xphúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thuấn.
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Nguyễn Thị My My.
- Thư phiên a: Trương Cẩm Nhung Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Trần
Thị Xuân Linh Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ dân sự thụ số 593/2025/TLPT DS, ngày 17 tháng
12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp đòi đất cho mượn theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 74/2025/-PT, ngày 14/01/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1973, s CCCD:
049073001476. Địa chỉ: Thôn 9, xã KB, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông N: Bà Hoàng Phong L, sinh năm 1974,
số CCCD: 042174004549; Địa chỉ: Cổng chợ ET, Km 9 Quốc lộ 14, thôn 5, phường
TA, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành A, sinh năm 1975, số CCCD: 048075000651;
Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1971, số CCCD: 049171001211. Cùng địa chỉ:
Thôn 8, xã KB, tỉnh Đắk Lắk. Ông A vắng mặt, bà H có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông A H: Trần Thị Bích T, sinh
năm 1980, số CCCD: 066180004031; Địa chỉ: Buôn AD, phường BT, tỉnh Đắk Lắk.
Có mặt.
3. Ngưi kháng cáo: B đơn Ông Nguyễn Thành A Nguyễn Thị Thanh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện các tài liệu trong hồ vụ án, nguyên đơn
người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất số 488 tờ bản đồ số 09, có diện tích 545m
2
và thửa đất số 502, tờ bản
đồ số 9, có diện tích 620m
2
được UBND huyện KB, Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số H 091567, ngày 16/5/1996 cho ông Nguyễn X cha của ông
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 151/2026/DS-PT
Ngày: 11/3/2026
V/v Tranh chp đòi đt cho mưn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Nguyễn Thanh N đã chết năm 2010; địa chỉ thửa đất: Thôn 5, KNĐ, huyện KB,
tỉnh Đắk Lắk; hai thửa đất này nằm cùng 01 dãy, thửa giáp đường đi (502) đuôi
vườn là thửa 488.
Nguồn gốc thửa đất này gia đình ông Nguyễn X đã sử dụng từ khoảng năm
1990, trồng sắn cây điều tại thửa đất số 488 còn thửa đất 502 mặc dù gần đường
đi nhưng đất toàn sỏi đá nên ông Nguyễn X đã cho chú của ông N ông Nguyễn
Thanh C (sinh năm 1958, hiện cư trú tại Thôn 5, KNĐ, KB, Đắk Lắk) mượn để làm
chuồng bò. Đến năm 2005 thì ông Nguyễn Thanh C dỡ chuồng bò và trả lại đất cho
ông Nguyễn X. Năm 1996 thì UBND huyện KB, Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Nguyễn X đối với 02 thửa đất này. Từ khoảng năm 1999, cha
mẹ ông N chuyển ra mặt đường tại thôn 6, KNĐ, hiện nay chợ chiều KNĐ để
buôn bán, làm ăn. Do vậy, khi ông Nguyễn Thanh C trả đất vào năm 2005 thì cha mẹ
ông N cũng để vạt đất đấy không trồng tỉa nên khi ông A H nhà sát cạnh
bên thửa đất (H con gái của anh trai bố ông N, ông N gọi bà H chị con bác
ruột) xin mượn đất này để canh tác thì cha mẹ ông N đã cho ông A bà H mượn rồi
họ sdụng từ đó cho đến nay. Thời điểm đó do kinh tế khó khăn nên thửa đất trên
gia đình ông X không làm hàng rào mà chỉ lấy cuốc để xẻ rãnh làm ranh đất.
Hiện nay, thừa đất 502 tông A bà H cùng đã xây tường bằng gạch ngăn cách
với thửa đất nhà ông A - bà H, bên thửa đất nhà ông A - bà H thì ông A - bà H cũng
đã xây nhà sát ranh đất; Còn phía bên kia giáp đầu ông Y tông Y cũng đã xây hàng
rào, thửa đất của gia đình ông X còn trống giữa, hiện nhà ông A H đang trồng
cây chuối. Còn phía thửa 488 thì nhà ông A bà H trồng chuối và không tạo ranh với
vườn nhà ông A bà H.
Ngày 21/9/2010, thì ông Nguyễn X chuyển toàn bộ Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số H 091567 cho Nguyễn Thị Thanh Th mẹ của ông Nguyễn Thanh
N. Năm 2017 thì bà Thuỷ chết.
Năm 2024, các anh chị em của ông N gồm 06 người là: Nguyễn Thanh Đ, sinh
năm 1970; hiện trú tại thêm 5, KNĐ, KB, Đắk Lắk, Nguyễn Thanh N, sinh năm
1973; Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979, hiện cư trú tại thôn PT, ĐT, ĐB, Quảng Nam;
Nguyễn Thị L2, sinh năm 1979, địa chỉ: Thôn 5, KNĐ, KB, Đắk Lắk; Nguyễn Thị
L3, sinh năm: 1983, địa chỉ: Tổ dân phố 3, phường TH, TP BT, tỉnh Đắk Lắk: Nguyễn
Thanh M, sinh năm: 1986; Địa chỉ: Thôn 5, KNĐ, KB, Đắk Lắk. Tất cả anh chị em
đã làm thủ tục sang tên cho ông Nguyễn Thanh N được toàn quyền sử dụng các thửa
đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 091567.
Ngày 24/01/2024, Văn phòng ĐKĐĐ huyện KB đã xác nhận trong Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất về việc ông N được thừa kế Quyền sử dụng đất nêu trên.
Tại Biên bản hòa giải ngày 11/01/2024, tại UBND xã KNĐ thì ông A bà H
cũng đồng ý 02 thửa đất này (thửa 502 488) của gia đình ông X ông mượn
để canh tác nên đã đồng ý để anh em ông N làm thủ tục sang tên cho ông N đứng tên
quyền sử dụng đất. Nhưng khi văn phòng đăng ký đất đai huyện KB, Đắk Lắk xuống
đo đất đcấp đổi sang sổ hồng thì hộ ông A bà H không đồng ý vì vậy xảy ra tranh
chấp giữa 02 hộ; ông Nguyễn Thanh Y em ruột H cũng không giáp ranh
cho ông N vì bà H không cho ký.
3
Nay, do gia đình ông N cần sử dụng hai thửa đất này nên đã yêu cầu ông A
H trả lại hai thửa đất này nhưng ông A - bà H không đồng ý trả và cho rằng cha ông
N ông Nguyễn X đã bán cho họ từ năm 2005 họ chỉ nói miệng không
giấy tđể chứng minh, thậm chí ông A còn viết giả giấy tờ mua bán và giả ch
của ông Nguyễn X, điều này ông A đã thừa nhận, đã xin lỗi mọi người tại UBND xã
KNĐ, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk đã được ghi nhận tại Biên bản hòa giải ngày
11/01/2024.
vậy, đề nghị Tòa án nhân dân huyện KB, Đắk Lắk giải quyết buộc ông A
bà H trả 02 thửa đất lại cho ông N, gồm: Thửa đất số 488 tờ bản đồ số 09, diện tích
545m
2
thửa đất số 502, tờ bản đồ số 9, diện tích 620m
2
được UBND huyện KB,
tỉnh Đắk Lắk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 091567, ngày 16/5/1996
cho ông Nguyễn X, địa chỉ thửa đất: Thôn 5, xã KNĐ, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.
Mặt tiền 02 thửa đất này theo giấy chứng nhận quyền sdụng đất 19,2m
nhưng thực tế 02 bên đã làm hàng rào, do vậy thửa đất này chcòn mặt tiền 18,7m.
vậy, yêu cầu ông A - H trả đất lại cho ông N theo giấy chứng nhận quyền s
dụng đất và mặt tiền thực tế 18,7m.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H ông Nguyễn Thanh A, tại bản tự khai biên
bản hòa giải, thống nhất trình bày:
Tôi Nguyễn Thị Thanh H là cháu gái đã giao trực tiếp cho chú tôi là Nguyễn X
số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng chẵn); giấy viết tay mua bán do ông A tự viết
để chú tôi ký vào. Số tiền trên sau khi chú tôi nhận đã giao lại cho người con rể của
mình là Phan Đình B hiện nay đang công tác tại Trạm xã EL, huyện KB, với mục
đích ông Nguyễn X ý nguyện từ trước phần đất này của ông dành tặng cho
người con gái Nguyễn Thị Ngân để làm nhà ở, nhưng không may chNgân lâm bệnh
đã chết, không được hưởng nên bây giờ ông ngoại bán, lấy tiền để hỗ trợ cho 2
cháu trong lúc mồ côi mẹ. (Theo lời kể của Phan Đình B, anh đã nhận được nguồn
tiền bán đất trên để chi tiêu, trang trải và kỉ niệm nhất là dùng mua một vật dụng từ
thời đó mà còn tồn tại đến bây giờ chính là chiếc tủ lạnh vẫn còn đang sử dụng).
lại người trong nhà đất mua của chú ruột mình, hơn nữa thời gian sau
này chú tôi hay đau ốm, bệnh mỗi ngày một nặng hơn, đã qua đời. Tiếp đến không
được bao lâu Thiếm tôi cũng lâm bệnh, nằm một chỗ cũng đã chết, nên chuyện
buồn của gia đình kéo dài vợ chồng tôi chưa vội làm các thủ tục sang nhượng chủ
quyền. Đến tháng 6 năm 2011, đợt toàn xã KNĐ có hợp đồng dịch vụ rà soát làm s
đỏ cho toàn dân theo quy định chung, trong lúc chuẩn bị hồ sơ để làm sổ đỏ cho toàn
bộ đất trong gia đình, vợ chồng Tôi mới phát hiện giấy viết tay của mảnh đất này đã
bị rách nát làm đôi do qtrình bảo quản bị độ ẩm, chữ nhòe; tuy đọc được nhưng
không giá trị về pháp lý. Cán bộ làm thủ tục đất đã xem nhưng yêu cầu phải về
viết lại giấy khác nhờ Ban thôn xác nhận. Vào thời điểm này ông X đã chết,
chủ quan nên chồng tôi tự tay viết lại giấy mua bán lần thứ 2, đồ lại chữ ký theo bản
gốc, đến nhà các con chú, mượn sổ đỏ phô đến chính quyền thôn nhờ xác nhận,
cũng chủ quan người ký lúc này không ai khác mà chính người con rể của c
tôi Đặng Quang H1 đã xác nhận vào giấy (Đợt này không làm được cho toàn
dân tôi không rõ lý do).
4
Vào thời điểm tháng 6 năm 2013 vợ chồng tôi lại tiếp tục đi làm sổ sang tên một
lần nữa, đã đến nhà các em con chú tôi để mượn lại sổ đỏ lần thứ 2 đi phô tô, lúc đó
anh Nguyễn Thanh M con út đã đưa sổ đỏ cho cho ông A, nhờ anh L4 cán bộ địa
chính xã KNĐ làm thủ tục sang tên tách sổ; chờ đợi thời gian rất lâu nhưng vì lý do
không rõ, chỉ được biết anh L4 đã nghỉ việc, không còn công tác tại xã, ông
Nguyễn Văn Trương chủ tịch trực tiếp gửi trả hồ về cho Ban thôn ông
Văn Tỵ nhờ đưa hộ về gia đình.
Qua nhiều lần cố làm thủ tục sang tên đổi chủ nhưng đều gặp các khó khăn vợ
chồng tôi đã thống nhất cách làm đợt này như sau: Ngày 9 tháng 11 năm 2023 (nhằm
ngày 26/9 Quý mão) là ngày giỗ của chú tôi, ngày các em vdự đám giỗ đông đủ,
cũng là ngày thống nhất của 06 anh chị em của nhà chú tôi ủy quyền cho người con
trai thứ Nguyễn Thanh N được thừa kế toàn bộ quyền sử dụng, mua bán, sang
nhượng đất của chú tôi và đồng thời cũng là lúc thực hiện việc thống nhất là Anh N
đồng ý y quyền thửa đất này cho Nguyễn Thành A chồng của tôi tự đi làm các
thủ tục tách sổ, đứng tên. Thủ tục này đang thực hiện một cách thuận lợi vào các
ngày tiếp theo dưới sự hướng dẫn của ông Lê Phước Tu cán bộ Tư pháp- hộ tịch
KNĐ. Hồ ủy quyền, thừa kế đã lập thành nhiều bản theo nội dung như đã trình
bày, các bên cũng đã thống nhất ký vào, sáu anh, chị, em nhà chú tôi cùng chồng tôi
đã tham gia ký, riêng anh Nguyễn Thanh N sót một tờ cùng nội dung trong các t
đã in soạn tại xã, anh Tu cán bộ tư pháp của xã có mời Anh N đến ký bổ sung vào tờ
thiếu sót vào giấy y quyền cho anh A để làm thủ tục sang tên nhưng Anh N
lúc này đơn phương đổi ý, lấy toàn bộ hồ sơ về nhà không giao lại cho chính quyền
xã, không tiếp tục thực hiện thỏa thuận của hai gia đình và các thủ tục tại xã.
quyền lợi của vợ chồng và bị vu khống cướp đất của chú tôi theo lời nói
của Anh N nên vợ chồng tôi có trình bày với xã, ngày 11/01/2024 được ủy ban nhân
dân mời họp hòa giải. Cũng đây việc mang tính nội bộ gia đình nên cán bộ
xã cũng giải quyết trên nền tảng tự nguyện của hai bên, cùng với các lời giải thích về
pháp luật “người chết không thể ký sang tên cho người sống được” nên vợ chồng tôi
buộc phải đồng ý cho Anh N được ủy quyền thừa kế luôn mảnh đất kể trên đAnh
N đứng tên cùng với điều kiện Anh N về họp lại gia đình sang lại chủ quyền
cho vợ chồng tôi, rồi Anh N không thực hiện lời hứa trong cuộc hòa giải. Sau thời
gian không lâu, Anh N có đến yêu cầu gia đình tôi chỉ ranh, ký giáp ranh và đe dọa
lấy đất sát tường không còn không gian để mở cửa sổ, vợ chồng tôi không đồng ý
ký. Cho đến ngày 28 tháng 6 năm 2024 UB mời hòa giải lần 2. Do trước đây nhiều
lần tôi đã đến nhà Anh N, với tình nghĩa chị em, cố tìm phương án tốt nhất để giải
quyết thuận lợi, Anh N nói rằng: chị về tính lại chị mua đất của ba tôi thời điểm đó
quy về thời này bao nhiêu, báo cho tôi biết đtrả lại tiền cho chị, tôi lấy lại đất,
khi nào tôi lấy tôi sbáo trước cho chị trước 06 tháng để gia đình chị chuẩn bị v.v....
Tôi nhắc lại các nội dung trên tại cuộc hòa giải lần này để Anh N và xã hiểu rõ việc
vợ chồng tôi có mua đất chứ không cướp đất như Anh N đã quy chụp, nhưng Anh N
không công nhận và cho rằng lời nói gió bay không có cơ sở, vẫn nhất quyết không
có thỏa thuận nào khác, kiên quyết lấy lại đất.
Ngày gần đây 25/9/2024 UBND xã KNĐ mời vợ chồng tôi đến để làm việc
cũng với nội dung hòa giải trong gia đình, tôi có nhắc lại lời của ông chú ruột đứng
ra thỏa thuận chia đôi mảnh đất trên mi người một nửa, vừa đảm bảo quyền lợi vừa
5
được tình cảm trong gia đình, nhưng Anh N vẫn cố chấp, cố tình lấy lại toàn bộ diện
tích đất.
Về sự thật tôi đã mua đất, canh tác trong suốt quá trình từ tháng 5 năm 2005 cho
đến hiện nay không tranh chấp nào, cả xóm làng đều thấy làm chứng,
trong đơn xác nhận. (có giấy xác nhận kèm theo). Nay bất ngờ nhận được giấy triệu
tập của Tòa, vì chứng cứ giấy tờ mua bán gốc đã thất lạc do thiên tai năm 2020 (có
xác nhận của địa phương) các điều kiện bất lợi khác làm tôi thiệt thòi quyền lợi.
Tôi xin kiến nghị nhờ Tòa can thiệp cho các nhân chứng như ông Phan Đình B
người nhận tiền bán đất từ chú tôi, ông Đặng Quang H1 người đại diện chính quyền
thôn xác nhận có mua bán. Cả 2 người trên vừa nhân chứng, vừa là người trong
cuộc, được đối diện trước Tòa để minh chứng vcác oan sai của vợ chồng tôi giờ
đang gánh chịu.
Nay Anh N khởi kiện yêu cầu gia đình chúng tôi phải trả lại 02 thửa đất
không đúng sự thật nên chúng tôi không đồng ý.
Tại Bản án dân sự thẩm số 25/2025/DS-ST, ngày 25 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk đã quyết định:
Áp dụng khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; 147;
157; 241; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điu 166 Bộ luật
dân sự; Áp dụng Điều 26; Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng
khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N, về việc:
“Tranh chấp đòi đất cho mượn”.
- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thành A Nguyễn Thị Thanh H phải nghĩa
vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh N 02 thửa đất tài sản trên đất toàn bộ y
chuối: Thửa đất số 273 (488 cũ), tờ bản đồ số 49 (09 cũ), có diện tích được cấp mới
536.5m
2
(diện tích cũ: 545m
2
đất màu) thửa đất số 274 (502 cũ), tờ bản đồ số
49 (09 cũ), có diện tích được cấp mới 576.6m
2
(diện tích cũ: 620m
2
đất màu) đất
trồng cây hàng năm khác. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 091567 do
Ủy ban nhân dân huyện KB ký cấp ngày 16/5/1996, số vào sổ QSDĐ: QH04, do Ủy
ban nhân dân huyện KB cấp ngày 16/5/1996, cấp cho ông Nguyễn X. Các thửa
đất nêu trên đã được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KB xác nhận thỏa
thuận chuyển quyền cho vợ ông X là bà Nguyễn Thị Thanh Th vào ngày 21/9/2010.
Vào ngày 24/01/2024 chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện KB chỉnh
chuyển quyền sử dụng đất của 2 thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Thanh N được
hưởng thừa kế. Cả 02 thửa đất liền knhau tọa lạc tại thôn 8, KB, tỉnh Đắk Lắk
(địa chỉ cũ: Thôn 5, xã KNĐ, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk. Có tứ cận:
+ Phía Đông giáp đường tông giao thông nông thôn (cạnh thửa 274), cạnh
dài: 17,69m.
+ Phía Tây giáp đất ông Trần Văn Xuân, ông Nguyễn Thanh N (cạnh thửa 273),
cạnh dài: 2,38m + 4,57m + 11,58m.
6
+ Phía Nam giáp thửa đất ông Nguyễn Thanh Y, cạnh dài: 2,96m + 26,34m,
8,9m + 5,79m + 16,21m + 1,86m.
+ Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Thành A, bà Nguyễn Thị Thanh H, cạnh dài:
29,56m + 32,33m.
- Ông Nguyễn Thanh N phải nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thành A và
Nguyễn Thị Thanh H số tiền trị giá cây chuối trồng trên đất là 2.676.000 đồng (Hai
triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên ván phí, chi phí tố tụng, nghĩa vụ thi
hành án, nghĩa vụ chậm thi hành ánh và quyền kháng cáo.
Ngày 07/10/2025, bị đơn ông Nguyễn Thành A và bà Nguyễn Thị Thanh H
đơn kng cáo đề nghị a cấp phúc thm xét xử theo hưng sửa bản án thẩm, không
chấp nhn toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định Bộ
luật tố tụng dân sự. Đương sự đã thực đầy đủ các quyền của nh theo quy định
pháp luật. Vnội dung: Đề ngh Hội đng xét x căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS
không chp nhn kháng cáo ca b đơn ông Nguyễn Thành A Nguyễn Thị
Thanh H. Gi nguyên bn án dân s thẩm s 25/2025/DS-ST, ngày 25 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hvụ án được thẩm tra tại phiên
tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm
sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Bđơn ông Nguyễn Thành A Nguyễn Thị Thanh
H đơn kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định
kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Vnguồn gốc đất: Thửa đất số 488, tờ bản đồ số 09, diện tích 545m
2
và thửa đất số 502, tờ bản đồ số 09, diện tích 620m
2
, tọa lạc tại thôn 5, xã KNĐ,
huyện KB, tỉnh Đắk Lắk (Nay là xã KB, tỉnh Đắk Lk) nguồn gốc do gia đình ông
Nguyễn X sử dụng ổn định từ khoảng năm 1990. Ngày 16/5/1996, UBND huyện KB,
tỉnh Đắk Lắk cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 091567 cho ông Nguyễn
X với nhiều thửa đất, trong đó có hai thửa đất nêu trên.
[2.2] Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KB đã tiến hành đo đạc diện
tích thực tế hai thửa đất đang tranh chấp. Thửa đất số 273, tờ bản đồ số 49, có diện
tích được cấp mới 536,5m
2
đất trồng cây hàng năm khác thửa đất s274, tờ bản
đồ số 49, diện tích được cấp mới là 576,6m
2
đất trồng cây hàng năm khác. Diện
tích đo đạc thực tế giảm do với diện tích theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
nguyên đơn đồng ý theo kết quả đo đạc, yêu cầu bị đơn trả đất theo diện tích đo đạc
7
thực tế. Do đó, tòa án cấp thẩm căn cứ vào Mảnh trích đo chỉnh địa chính số
131 2025, ngày 18/02/2025 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện KB
thực hiện để giải quyết vụ án là có căn cứ.
[2.3] Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N trình bày trong quá trình sử dụng, do
thửa đất số 502 (nay là thửa đất số 274) là đất sỏi đá, gần đường đi nên ông Nguyễn
X cho ông Nguyễn Thanh C mượn làm chuồng bò, đến năm 2005 thì ông Củng dỡ
chuồng và trả lại đất. Sau đó, do gia đình ông X không trực tiếp canh tác, nên cho vợ
chồng ông A, H mượn đất để canh tác. Năm 2010, ông Nguyễn X làm thủ tục
chuyển quyền sử dụng đất cho vợ Nguyễn Thị Thanh Th. Ngày 21/9/2010,
quan thẩm quyền đã xác nhận chỉnh trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
chuyển quyền cho bà Nguyễn Thị Thanh Th, trong đó có hai thửa đất nêu trên. Năm
2017, Thủy chết. Ngày 10/11/2023, những người thừa kế theo pháp luật của
Thủy lập Văn bản phân chia tài sản thừa kế, tặng cho lại phần thừa kế của mình cho
ông Nguyễn Thanh N, ông N được quyền quản lý, sử dụng và được Chi nhánh Văn
phòng đăng ký đất đai huyện KB xác nhận chỉnh lý vào ngày 24/01/2024. Như vậy,
nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N chủ sử dụng hợp pháp đối với hai thửa đất 273
(thửa đất số 488 cũ) và thửa đất số 274 (thửa đất số 502 cũ), cùng tờ bản đồ số 49 (t
bản đồ 09 cũ) và được pháp luật bảo vệ.
[2.4] Bị đơn ông Nguyễn Thành A, Nguyễn Thị Thanh H cho rằng đã mua
hai thửa đất đang tranh chấp nêu trên của ông Nguyễn X từ năm 2005, việc mua bán
viết giấy ông X xác nhận. Bị đơn ông A, H cho rằng việc chuyển
nhượng nhiều người biết sự việc nhưng đều không cung cấp được giấy tờ đ
chứng minh, những người làm chứng đều không biết việc cụ thể.
[2.5] Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là căn
cứ. Bị đơn ông A, bà H kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu chứng
cứ gì mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
[3] T nhng phân tích, nhận định trên, xét thy không có sở để chp nhn
kháng cáo ca bị đơn ông Nguyễn Thành A, Nguyễn Thị Thanh H, gi nguyên
bn án sơ thẩm.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chp nhận nên bị
đơn ông Nguyễn Thành A, Nguyễn Thị Thanh H phi chu án phí Dân s phúc
thẩm theo quy định.
Vì các lẽ đó,
QUYẾT ĐNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành A, bà Nguyễn Thị
Thanh H. Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số 25/2025/DS-ST, ngày 25 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 – Đắk Lắk.
[2] Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; 147;
157; 241; 266; 267; 271; 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điu 166 Bộ luật dân sự;
Điều 26; Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 27 Nghị quyết
8
số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2.1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh N, về
việc: “Tranh chấp đòi đất cho mượn”.
[2.1.1] Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thành A bà Nguyễn Thị Thanh H phải
nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Thanh N 02 thửa đất tài sản trên đất toàn
bộ cây chuối: Thửa đất s273 (488 cũ), tờ bản đsố 49 (09 cũ), diện tích được
cấp mới 536.5m
2
(diện tích cũ: 545m
2
đất màu) thửa đất số 274 (502 cũ), tờ bản
đồ số 49 (09 cũ), diện tích được cấp mới 576.6m
2
(diện ch cũ: 620m
2
đất màu)
đất trồng cây hàng năm khác. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H 091567
do Ủy ban nhân dân huyện KB ký cấp ngày 16/5/1996, số vào sổ QSDĐ: QH04, do
Ủy ban nhân dân huyện KB cấp ngày 16/5/1996, cấp cho ông Nguyễn X. Các thửa
đất nêu trên đã được chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện KB xác nhận thỏa
thuận chuyển quyền cho vông X bà Nguyễn Thị Thanh Thủy vào ngày 21/9/2010.
Vào ngày 24/01/2024 chi nhánh văn phòng đăng đất đai huyện KB chỉnh
chuyển quyền sử dụng đất của 2 thửa đất nêu trên cho ông Nguyễn Thanh N được
hưởng thừa kế. Cả 02 thửa đất liền knhau tọa lạc tại thôn 8, KB, tỉnh Đắk Lắk
(địa chỉ cũ: Thôn 5, xã KNĐ, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk. Có tứ cận:
+ Phía Đông giáp đường tông giao thông nông thôn (cạnh thửa 274), cạnh
dài: 17,69m.
+ Phía Tây giáp đất ông Trần Văn Xuân, ông Nguyễn Thanh N (cạnh thửa 273),
cạnh dài: 2,38m + 4,57m + 11,58m.
+ Phía Nam giáp thửa đất ông Nguyễn Thanh Y, cạnh dài: 2,96m + 26,34m,
8,9m + 5,79m + 16,21m + 1,86m.
+ Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Thành A, bà Nguyễn Thị Thanh H, cạnh dài:
29,56m + 32,33m.
[2.1.2] Ông Nguyễn Thanh N phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Thành A
Nguyễn Thị Thanh H số tiền trị gcây chuối trồng trên đất là 2.676.000 đồng
(Hai triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
[2.1.3] Về nghĩa vụ chậm thi hành án: K t ngày đơn yêu cầu thi hành án
của người được thi nh án (đối vi các khon tin phi tr cho người được thi hành
án) cho đến khi thi hành xong tt c các khon tin, hàng tháng bên phi thi hành
án còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi thi hành án theo mc lãi sut
hai bên tha thuận nhưng không được ợt quá 20%/năm; nếu không có tha thun
thì theo mc lãi suất 10%/năm tương ng vi thời gian chưa thi hành án. Theo quy
định tại điều 357 và 468 B lut dân s.
[2.1.4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, hợp đồng đo đạc
và định gtài sản là 6.126.900 đồng, ông Nguyễn Thanh N nộp tạm ứng (đã chi phí
xong). Ông Nguyễn Thanh N khởi kiện được chấp nhận. Buộc vợ chồng ông Nguyễn
9
Thành A Nguyễn Thị Thanh H phải hoàn trả cho vợ chồng ông Nguyễn Thanh
N số tiền 6.126.900 đồng (Sáu triệu một trăm hai mươi sáu nghìn chín trăm đồng).
[2.1.5] Về án phí:
Ông Nguyễn Thanh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án
phí dân sự thẩm giá ngạch. Được khấu trừ vào stiền 5.000.000 đồng (Năm
triệu đồng) ông N đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự thẩm tại Chi cục thi hành
án dân sự huyện KB (nay Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 Đắk Lắk) theo
biên lai số 0007214, ngày 11/10/2024. Hoàn trả cho ông Nguyễn Thanh N số tiền
4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm
đã nộp.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thành A Nguyễn Thị Thanh H phải chịu
300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch
và 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng s tin
tm ng đã nộp theo Biên lai thu tm ng án phí, l phí Tòa án s 0003559, ngày
29/10/2025 tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 - Đắk Lắk.
[3] Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- Tòa PT TANDTC tại Đà Nẵng;
- TAND khu vực 6 - Đắk Lắk;
- Đương sự;
- Phòng THADS khu vực 6 - Đắk Lắk;
- P.TTNV&THA;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- Lưu HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Duy Thuấn
Tải về
Bản án số 151/2026/DS-PT Bản án số 151/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 151/2026/DS-PT Bản án số 151/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất