Bản án số 135/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 135/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 135/2026/DS-PT ngày 19/05/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 135/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Trương Minh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc hộ ông Nguyễn T phải trả lại cho hộ bà Huỳnh Thị T toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả thẩm định, xem xét tại chỗ ngày 30/8/2021 là 145m² tại tờ bản đồ số 1X, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam cũ (nay là khối P, phường H, thành phố Đà Nẵng), đồng thời buộc ông Nguyễn T phải tháo dỡ toàn bộ phần nhà xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm nêu trên.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 135/2026/DS-PT Bản án số 135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 135/2026/DS-PT Bản án số 135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 135/2026/DS - PT
Ngày: 19 - 5 - 2026
V/v Tranh chp quyn s dng
đất
CỘNG A HỘI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Hiếu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thọ
Võ Thị Minh Phượng
- Thư phiên tòa: Nguyễn Thị Hồng Diễm, Thư Tòa án nhân dân
thành phố Đà Nẵng;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Phm Th Ngc
Dung - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 19 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà
Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 57/2024/TLPT-DS ngày
25 tháng 7 năm 2024 về vic “Tranh chấp quyn s dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 65/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của
Tòa án nhân dân thành phố Hội An (nay là Toà án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng)
bị kháng cáo.
Theo Thông báo mở lại phiên toà số: 219/TB-TA ngày 04 tháng 5 năm 2026,
giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Trương Minh P, sinh năm 1954, CCCD s
*********xxx; Địa ch: T 3x, khi T, phường H, thành ph Đà Nẵng (phường T,
thành ph H, tnh Qung Nam ). Có mt
Người đại din hp pháp của nguyên đơn: Ông Ngc X, sinh năm 1954;
Địa ch liên h: S 4x đưng L, phường H, thành ph Đà Nẵng người đại din
theo u quyn (Theo Giy u quyn lp ngày 08/6/2020 s chng thc: 1xx Quyn
2
s: 0x SCT/CK, ĐC tại Văn phòng Công chứng T, s 1xx đưng N, thành ph H,
tnh Quảng Nam cũ). mt
Người bo v quyn, li ích hp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngc C
Luật Văn phòng Luật T, thuộc Đoàn Luật thành phố Đà Nẵng; Địa ch
liên h: S 4x đưng L, phường H, thành ph Đà Nẵng. Có mt
2. B đơn: Ông Nguyn T, sinh năm 1960; Đa ch: T x, khi P, phường H,
thành ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh Q cũ).
Người đại din hp pháp ca b đơn: Nguyễn Xuân P, sinh năm 1995,
CCCD s *********xxx; Địa ch: T x, phường H, thành ph Đà Nẵng (phường C,
thành ph H, tnh Quảng Nam cũ) người đại din theo u quyn (Theo Giy u
quyn lp ngày 29/6/2020 ti U ban nhân dân phường C, thành ph H, tnh Qung
Nam cũ). Có mt
3. Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Trương Thị T, sinh năm 1939; Địa ch: S 2x đưng L, khi T,
phưng H, thành ph Đà Nẵng (phường T, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ).
3.2. Bà Trương Thị H, sinh năm 1942; trú tại: T x, khi P, phường H, thành
ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ).
3.3. Ông Trương Minh V, sinh năm 1950; Địa ch: S 2xx đưng P, phường
H, thành ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ).
3.4. Ông Trương Minh Đ, sinh năm 1953; đa ch: T x, khi S, phường H,
thành ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ).
3.5. Ông Trương Minh T, sinh năm: 1959; đa ch: T 0x, khi P, phường H,
thành ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ).
3.6. Trương Thị H, sinh năm: 1964; đa ch: đưng L, khối 8, phường T,
thành ph H, tnh Qung Nam .
Người đại din hợp pháp cho các ông/bà Trương Thị T, Trương Thị H,
Trương Minh V, Trương Minh Đ, Trương Minh T và Trương Thị H: Ông Trương
Minh P; sinh năm 1954; địa ch: T 3x, khi T, phường H, thành ph Đà Nẵng
(phường T, thành ph H, tnh Quảng Nam cũ) người đi din theo u quyn
(Theo Giy u quyn lp ngày 19/6/2020 s chng thc 1xx, Quyn s: 0x
SCT/CK, ĐC tại Văn phòng Công chứng T).
3.7. Bà Lê Th B, sinh năm 1966, CCCD s *********xxx.
3.8. Bà Nguyn Th Xuân H, sinh năm 1983, CCCD số *********xxx.
3.9. Bà Nguyn Xuân P, sinh năm 1995, CCCD số *********xxx.
Cùng địa ch: T x, khi P, phường H, thành ph Đà Nẵng (phường C, thành
ph H, tnh Qung Nam cũ).
3
3.10. Nguyn Th Xuân Sg, sinh năm 1985, CCCD số *********xxx;
Địa ch: S 3x đưng B, phường H, qun C, thành ph Đà Nẵng; Trú ti: S 5xx/1x
đưng x, phường H, thành ph Đà Nẵng
Người đại din hp pháp ca Th B, Nguyn Th Xuân Hg, Nguyn
Th Xuân S: Nguyn Xuân Pg, sinh năm 1995, CCCD s *********xxx; Địa
ch: T x, khi P, phường H, thành ph Đà Nẵng (phường C, thành ph H, tnh
Qung Nam cũ) (Theo Hợp đồng u quyn lp ngày 17/9/2024 s công chng:
037xx Quyn s 0x/2024 TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng Công chứng L).
3.11. Ủy ban nhân dân phường C, thành ph H, tnh Qung Nam.
Người kế tha quyền nghĩa vụ t tng: Ch tch U ban nhân dân
phưng H, thành ph Đà Nẵng; Địa ch: S 4xx đưng C, phường H, thành ph
Đà Nẵng. Người đại din tham gia t tng: Ông Nguyn Thế P Nhân viên Phòng
Kinh tế, H tầng và Đô th U ban nhân dân phưng H, thành ph Đà Nẵng (Theo
Văn bn u quyn s 10xxx/UBND ngày 26/12/2025 ca Ch tch U ban nhân dân
phưng H, thành ph Đà Nẵng). Có đơn xin xét xử vng mt.
4. Do kháng cáo ca nguyên đơn ông Trương Minh P kháng cáo ca
những người có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị T, bà Trương Th H,
ông Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, bà Trương Thị H và ông Trương Minh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa người bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn nguyên
đơn ông Trương Minh P cùng thống nhất trình bày:
Trước năm 1945, cha mẹ ông Trương Minh P là ông Trương Minh T (sinh
năm 1914, chết năm 1982) Huỳnh Thị T (sinh năm 1914, chết năm 2002)
tạo lập được 01 mảnh đất diện tích khoảng 1807m² tại C (nay khối P,
phường H, thành phố Đà Nẵng). Năm 1980, thực hiện Chỉ thị 299/TTg, T đã
khai mảnh đất trên theo đồ thuộc thửa đất số 6X, tờ bản đồ số X, diện tích
1807m² tại C. Đến năm 1998, gia đình T được Ủy ban nhân dân thị H cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 93XXXX ngày 31/12/1998 với thửa đất
mới s6X, tờ bản đồ số 1X, diện tích 1397m² đứng tên hộ Huỳnh Thị T. Tại thời
điểm khai sử dụng đất, hộ gia đình ông Mai B (liền kề với hộ T) đã xây dựng
nhà tường nhà nằm trên ranh giới giữa hai gia đình. Do đó, nguyên đơn xác định
đây ranh giới đất của hai gia đình. Khoảng năm 1988, hộ ông Mai B đã chuyển
nhượng toàn bộ nhà đất của mình cho ông Nguyễn T. Sau này ông Nguyễn T
khai theo nghị định 64/CP với thông tin thửa đất mới là thửa số 6X, tờ bản đồ số 1X,
diện tích 600m² với ranh giới tiếp giáp với gia đình T, sau này thửa đất trên đã
4
được Ủy ban nhân dân thị H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông
Nguyễn T.
Từ năm 2005 cho đến năm 2014 ông Nguyễn T đã cố ý xây dựng nhà trái
phép qua phần đất của gia đình T, ông T tiến hành chôn trụ bê tông nhằm thay
đổi mốc ranh giới ban đầu để lấn chiếm đất của gia đình T. Sau khi phát hiện,
ông P đã yêu cầu ông T trả lại phần diện đất đã lấn chiếm cho gia đình ông, nhưng
ông T không trả.
Nay để đảm bảo quyền lợi cho gia đình, ông Trương Minh P khởi kiện yêu
cầu Tòa án giải quyết buộc hộ ông Nguyễn T phải trả lại cho hộ Huỳnh Thị T
toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm theo kết quả thẩm định, xem xét tại chỗ ngày
30/8/2021 là 145m² tại tờ bản đồ số 1X, khối P, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng
Nam (nay khối P, phường H, thành phố Đà Nẵng), đồng thời buộc ông
Nguyễn T phải tháo dỡ toàn bộ phần nhà xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm nêu
trên.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại bản tự khai tại phiên toà đại diện
theo uquyền của bị đơn ông Nguyễn T, đồng thời cũng đại diện theo uquyền
của những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Th B, Nguyn Th
Xuân H, Nguyn Th Xuân S bà Nguyễn Thị Xuân P trình bày:
Theo sổ mục đăng theo Chỉ thị 299 thì nguồn gốc thửa đất số 6X, tờ
bản đồ số X, diện tích 662m
2
của ông Mai B đứng tên. Năm 1985, ông B chuyển
nhượng toàn bộ thửa đất cho gia đình cha tôi ông Nguyễn T. Thời gian sau này
gia đình ông T khai theo hồ Nghị định 64/CP thửa đất số 6X, tờ bản đồ số
1X, diện tích 600m
2
và được Ủy ban nhân dân thị H cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số K93XXXX ngày 24/9/2002. Trong quá trình sinh sống gia đình tôi
khai phá thêm diện tích đất 460.8m
2
(liền kề với diện tích đất đã được cấp Giấy
chứng nhận nằm vị trí hướng Đông của thửa đất) để trồng cây lâu năm đã
được nhà nước trích đo sổ mục kê VN 2000 với tổng diện tích 1060,8m
2
.
Trong suốt thời gian sử dụng đất, hai hộ gia đình không xảy ra tranh chấp gì.
Đến năm 2007, Nhà nước quy hoạch mở đường 3,5m vị trí diện tích gia đình
tôi khai hoang Ủy ban nhân dân phường C, thành phố H giao hồ kỹ thuật thửa
đất với diện tích ảnh hưởng, thu hồi 802m
2
. Năm 2011, Ủy ban nhân dân thành
phố H đã ban hành Quyết định số 4XX/QĐ-UBND ngày 13/6/2011 thu hồi đất với
diện tích 792m
2
của hộ gia đình tôi để xây dựng khu đô thị P - P. Năm 2014, Ủy ban
nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 3XX/QĐ-UBND ngày 12/6/2014 về
việc điều chỉnh Quyết định số 4XX/QĐ-UBND, theo đó thì Nhà nước thu hồi của
hộ gia đình tôi 684,9m
2
(gồm đất đất cây lâu năm). Đến năm 2015, Ủy ban
5
nhân dân thành phố H ban hành Quyết định số 6XX/QĐ-UBND về việc điều chỉnh
Quyết định số 3XX/QĐ-UBND với nội dung điều chỉnh thu hồi của hộ gia đình
tôi chỉ còn 183.6m
2
. Theo nội dung văn bản số 3XXX/UBND ngày 19/11/2020 của
Ủy ban nhân dân thành phố H cung cấp thông tin cho Tòa án nhân dân thì "Diện tích
bị thu hồi 183,6m² theo Quyết định 6XX/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 của hộ ông
Nguyễn T thuộc diện tích đất trồng cây lâu năm nguồn gốc từ đất vườn ao gắn
liền với đất của thửa đất số 5X, tờ bản đồ số 0X. Diện tích này không nằm trong
diện tích đất 600m đã cấp Giấy chứng nhận theo hồ Nghị định 64/CP", như vậy
diện tích còn lại do gia đình tôi khai hoang có nguồn gốc từ đất vườn ao gắn liền với
đất ở của hộ gia đình tôi đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài ra,
năm 2018 theo Quyết định về thu hồi diện tích đất để nâng cấp, mở rộng đường P
thì Nhà nước thu hồi diện tích trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia
đình tôi 5,8m².
Nay ông Trương Minh P khởi kiện yêu cầu tôi trả lại diện tích đất 145m² tại
tờ bản đồ số 1X, khối P ông cho rằng tôi lấn chiếm thì tôi không đồng ý. Bởi
phần đất đang tranh chấp trên đã được gia đình tôi sử dụng từ lâu, thực tế đó đất
của Nhà nước và chưa công nhận là của ai, gia đình tôi chỉ tạm thời sử dụng từ trước
cho đến nay. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ Huỳnh Thị T được cấp
1.397m², qua các lần do Nhà nước thu hồi thì còn lại 699,5m², hiện trạng đo đạc
688,6m², thiếu 10,9m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, ông
Trương Minh T tranh chấp và yêu cầu ông Nguyễn T trả lại 145m² là không đúng.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà ông Trương Minh P đồng
thời cũng là người đại diện cho những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trương Thị Ti, Trương Thị H, Trương Minh V, Trương Minh Đ, Trương Minh T
Trương Thị H thống nhất như lời trình bày của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của nguyên đơn và không bổ sung gì thêm.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên toà, người đại diện theo uỷ
quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường C, ông
Ngô Xuân Đ Phó Chủ tịch UBND phường trình bày:
Hộ bà Huỳnh Thị T cư trú tại địa phương từ rất lâu, nguồn gốc quyền sử dụng
đất hiện nay của hộ bà T được kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 299 và Nghị định 64/CP
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Nguồn gốc quyền sử
dụng đất của hộ ông Nguyễn T nhận chuyển nhượng lại từ ông Mai B, sau này hộ
ông Nguyễn T thực hiện khai, đăng theo Nghị định 64/CP được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần diện tích 145m² hiện nay các bên đang tranh
chấp chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất cho ai.
6
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Trần H Công chức Địa chính Xây dựng UBND
phường trình bày bổ sung: Đối với phần diện tích 145m² đất hiện nay các bên đang
tranh chấp theo kết quả thẩm định, xem xét tại chđược Chi nhánh văn phòng đăng
ký đất đai H trích đo ngày 15/9/2021 về mặt hình thể thì phù hợp với sơ đồ mà hộ bà
Huỳnh Thị T đăng ký theo Chỉ thị 299 và Nghị định 64/CP.
* Với nội dung vụ án như trên, Bản án dân sự thẩm số: 65/2024/DS-ST
ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An (nay Toà án
nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng) quyết định:
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 63, Điều
68, Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Điều 158, Điều 160 Bộ luật Dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều
26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh P về
việc yêu cầu ông Nguyễn T tháo dỡ hàng rào phần nhà xây dựng để trả lại phần
diện tích lấn chiếm 145m² cho hộ bà Huỳnh Thị T (Có sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần chi phí tố tụng, phần án phí,
quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án dân sự của các bên đương sự.
* Ngày 24 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn ông Trương Minh P những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trương Thị T, Trương Thị H, ông
Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T Trương Thị H đều
đơn kháng cáo với cùng nội dung kháng cáo toàn bộ bản án thẩm với do:
Tòa án cấp thẩm chưa xem xét toàn diện về quá trình sử dụng đất, cũng như
không căn cứ vào hồ khai sdụng đất của gia đình bà T như đồ đất, sổ
mục kê lập theo Chỉ thị 299/CT và Nghị định 64/CP, các Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất đã cấp cho 2 hộ để làm căn cứ xem xét việc giải quyết tranh chấp quyền sử
dụng đất, không xem xét ranh giới, quá trình nhận chuyển nhượng và lời khai của
người làm chứng xác nhận về nguồn gốc đất để làm căn cứ giải quyết, căn cứ
vào Hồ kỹ thuật được lập năm 2005 chưa đúng quy định của pháp luật, dấu
hiệu giả nhằm hợp thức hoá giấy tờ, chưa chính quyền địa phương xác nhận,
không sở pháp như trả lời từ phía UBND thành phố H để quyết định bác
yêu cầu khởi kiện của gia đình bà T là không đảm bảo quy định của pháp luật.
Do đó, kháng cáo yêu cầu Toà án sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc hộ ông Nguyễn T phải trả lại toàn bộ diện
7
tích đất đã lấn chiếm của gia đình Huỳnh Thị T với diện tích 145m² tại thửa đất
số 1X, tờ bản đồ số 1X, khối P, phường C, TP H (nay khối P, phường H, thành
phố Đà Nẵng); buộc hộ ông Nguyễn Tg phải tháo dỡ toàn bộ phần nhà xây dựng trái
phép trên phần đất lấn chiếm của gia đình Huỳnh Thị T theo quy định của pháp
luật.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Trương Minh P những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Trương Thị T, Trương Thị H, ông Trương Minh V, ông Trương
Minh Đ, ông Trương Minh T Trương Thị H vẫn giữ nguyên nội dung đã
kháng cáo, tuy nhiên nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn
thay đổi về diện tích đất tranh chấp, cụ thể: Khi khởi kiện nguyên đơn xác định diện
tích đất tranh chấp ranh giới bờ tường nhà của bị đơn, Tòa án cấp sơ thẩm
trưng cầu đo đạc xác định diện tích đất tranh chấp theo yêu cầu của nguyên đơn
145m², nguyên đơn cho rằng bị đơn đã lấn chiếm của gia đình nguyên đơn với
diện tích 145 nên yêu cầu bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích đất này. Tuy nhiên,
quá trình giải quyết phúc thẩm, nguyên đơn xác định lại ranh giới giữa hai thửa đất
tranh chấp là phần ranh giới ngoài cùng của mái nhà bị đơn (theo phương thẳng
đứng xuống dưới đất) và nguyên đơn đã đề nghị đo đạc lại diện tích thực tế đối với
diện tích đất tranh chấp. Sau khi Toà án cấp phúc thẩm tiến hành đo đạc lại theo
yêu cầu của nguyên đơn, tại Mảnh trích đo bản đồ địa chính: số 01 -2025, Hệ tọa độ
VN 2000 (Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/12/2024), do Văn
phòng đăng đất đai Quảng Nam (cũ) ngày 31/3/2025 xác định vị trí tranh chấp,
diện tích tranh chấp 128,7m
2
. Do đó, nguyên đơn yêu cầu Toà án buộc bđơn trả
lại phần diện tích đất bị đơn đã lấn chiếm của gia đình nguyên đơn 128,7m
2
,
không yêu cầu trả lại 145m² như khởi kiện tại giai đoạn sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phát
biểu quan điểm tranh luận như nội dung nguyên đơn đã kháng cáo, đề nghị HĐXX
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn không đồng ý với kháng cáo của
nguyên đơn, đề nghị HĐXX không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn,
giữ nguyên bản án thẩm. Hai bên không thoả thuận được với nhau về việc giải
quyết vụ án.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến:
V th tc t tng: Những người tiến hành t tng tham gia t tng ti cp
phúc thẩm đã thc hiện đúng, đầy đủ quy đnh ca B lut T tng dân s trong quá
trình gii quyết v án ti cp phúc thm.
8
V ni dung v án: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đề nghị
HĐXX phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn ông Trương
Minh P; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] V thời hạn, nội dung kháng o của nguyên đơn ông Trương Minh P
những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trương Thị T, bà Trương Thị H,
ông Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T và bà Trương Thị H:
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân thành ph Hi An đưa vụ án ra xét x,
cùng ngày ban hành Bn án s: 65/2024/DS-ST. Nguyên đơn ông Trương Minh P
đồng thời cũng là người đại diện theo uỷ quyền của những người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan Trương Thị T, bà Trương Thị H, ông Trương Minh V, ông
Trương Minh Đ, ông Trương Minh T Trương Thị H mt ti phiên toà.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, nguyên đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan này đơn kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề nghị HĐXX chấp toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; những người kháng cáo đều trên 60 tuổi được
miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Như vậy, kháng cáo của nguyên đơn và những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trên đảm bảo theo quy định tại Điều 271,
Điều 272 Điều 273 B lut T tng Dân s, đưc th lý, gii quyết theo trình t
phúc thm.
[2] Kháng cáo của nguyên đơn ông Trương Minh P những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Thị T, bà Trương Thị H, ông Trương Minh V,
ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T bà Trương Thị H cùng nội dung đề
nghị sửa Bản án thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích đất đã lấn chiếm, đồng thời tháo dỡ phần
công trình xây dựng trên phần đất lấn chiếm của gia đình nguyên đơn với diện tích
128,7m
2
tại thửa đất số 1X, tờ bản đồ số 1X, khối P, phường H, thành phố Đà Nẵng.
Do đó, HĐXX xét đồng thời kháng cáo của nguyên đơn và những người quyền
lợi và nghĩa vụ liên quan trên.
[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xác định lại diện tích đất tranh chấp
128,7m
2
theo kết quả trích đo bản đồ địa chính số 01 2025 ngày 31/3/2025 của
Văn phòng đăng đất đai Quảng Nam (cũ) đúng yêu cầu Toà án buộc bị đơn
phải trả lại phần diện tích lấn đất của gia đình nguyên đơn là 128,7m
2
chứ không phải
145m
2
như đã khởi kiện trước đây. Xét, nguyên đơn có thay đổi vdiện tích đất tranh
chấp so với yêu cầu khởi kiện ban đầu, không phải thay đổi yêu cầu khởi kiện, không
thuộc trường hợp vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu theo quy định tại
9
khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng Dân sự, HĐXX xem xét kháng cáo đối với diện
tích đất tranh chấp này.
[2.2] Nguyên đơn ông Trương Minh P những người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan gồm Trương Thị T, Trương Thị H, ông Trương Minh V, ông Trương
Minh Đ, ông Trương Minh T và bà Trương Thị H (các con bà T) xác định đất cấp cho
hộ Huỳnh Thị T do ông Trương Minh T (chết năm 1982) Huỳnh Thị T
(chết năm 2002) là cha mẹ các ông/bà tạo lập. Năm 1980, ông T, bà T đã kê khai theo
Chỉ thị 299/TTg mảnh đất trên theo sơ đồ thuộc thửa đất số 6X, tờ bản đồ số X, diện
tích 1807m². Diện tích đất nguyên đơn khởi kiện do hộ bị đơn đã lấn chiếm
thuộc diện tích đất 1807m² ông T, T đã khai theo Chỉ thị 299/TTg nêu trên
nên yêu cầu bị đơn trả lại. Xét, việc kê khai đất theo Chỉ thị 299/CT không tự động
làm phát sinh quyền sử dụng đất, mà chỉ là một trong những căn cứ để Nhà nước xem
xét công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất. Theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số K 93XXXX do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 31/12/1998,
hộ Huỳnh Thị T được cấp quyền sử dụng đối với thửa đất số 6X, tờ bản đồ s1X
(nay là thửa đất số 1X, tờ bản đồ số 1X), có diện tích 1.397m². Sau khi được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất 1.397m², hộ T không ý kiến,
không khiếu nại/khởi kiện đối với quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận về
trình tự, thủ tục, diện tích đất được cấp giấy chứng nhận ít hơn so với diện tích đất
khai theo Chỉ thị 299/CT; đồng thời cũng không tranh chấp ranh giới đối với các thửa
đất tứ cận theo giấy chứng nhận được cấp. Theo cung cấp thông tin của UBND thành
phố H tại Văn bản số: 3XXX/UBND ngày 19/11/2020 đối với đất tranh chấp của
nguyên đơn: Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất ngày 19/9/2005 đối với
các thửa đất nhằm mục đích xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo hiện trạng sử
dụng, thể hiện các chủ sử dụng đất tiếp giáp, mô tả ranh giới thửa đất, chủ hộ và các
hộ tiếp giáp xác định đúng ranh giới hiện trạng theo đ không tranh chấp.
Người tên Trương Minh V trong Biên bản xác nhận ranh giới, mốc gii thửa đất
ngày 19/9/2005 là ông Trương Minh V là con bà T. Tại thời điểm năm 2005, ông V
Tổ trưởng tổ dân số 0X, khối P, phường C. Như vậy, về ranh giới, mốc giới giữa
đất hộ Huỳnh Thị T các hộ liền kề không tranh chấp, giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà T đúng quy định của pháp luật.
[2.3] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K 93XXXX đối với diện
tích 1.397m² đất cấp cho hộ Huỳnh Thị T, tứ cận: Hướng y giáp với đất hộ
ông Nguyễn T, hướng Đông giáp đường quy hoạch 3,5m, hướng Bắc giáp đường quy
hoạch 3,5m hướng Nam giáp đường P. Quá trình sử dụng đất, hộ T bthu hồi
694,2m² đất theo Quyết định số: 6XX/QĐ-UBND ngày 13/8/2015 3,5m² theo
10
Quyết định số: 3XXXX/QĐ-UBND ngày 06/11/2018 của UBND TP H để làm Khu
đô thị P - P và mrộng đường P nên diện tích quyền sử dụng đất hợp pháp còn lại
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp của h bà Huỳnh Thị T
699,3m².
[2.4] Hộ ông Nguyễn Tg được Ủy ban nhân dân thị xã H cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số K93XXXX ngày 24/9/2002 đối với thửa đất số 6X, tờ bản đồ số
1X (nay là thửa số 5X, tờ bản đồ số X), diện tích 600m² (liền kề với thửa đất hộ bà T)
có tứ cận: Hướng Tây giáp với đất nhà ông Lê M và bà Trần Thị N, hướng Đông giáp
đất của hộ Huỳnh Thị T, hướng Bắc giáp đường quy hoạch 3,5m hướng Nam
giáp đường P. Quá trình sử dụng đất, hộ ông Tg bị thu hồi 5,8m² theo Quyết định số:
3XXX/QĐ-UBND ngày 06/11/2018 của UBND TP H để nâng cấp, mở rộng đường P
nên diện tích đất hợp pháp còn lại theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp
của hộ ông Nguyễn T 594,2m
2
.
[2.5] Qua đo đạc thực tế theo ranh giới, mốc giới thực tế đối với diện tích đất
hộ Huỳnh Thị T đất hông Nguyễn T đang quản sử dụng, theo kết quả trích
đo bản đồ địa chính s01 2025 ngày 31/3/2025 của Văn phòng đăng đất đai
Quảng Nam (cũ) xác định:
- Thửa đất s6X, tờ bản đồ số 1X do UBND thị xã H cấp GCNQSDĐ ngày
31/12/1998 cho hộ bà Huỳnh Thị T, hiện đang quản lý, sử dụng (không bao gồm diện
tích tranh chấp) là 738,3.
- Thửa đất s6X, tờ bản đồ số 1X do UBND thị H cấp GCNQSDĐ ngày
29/9/2002 cho hộ Nguyễn T, hiện đang quản lý, sử dụng (bao gồm diện tích tranh
chấp) là 909,8m
2
.
Như vậy, diện tích đất đang quản lý, sử dụng thực tế của cả hộ Huỳnh Thị
T hộ ông Nguyn T đều so với diện tích được cấp trong Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, cụ thể: hộ T chưa kể diện tích đất tranh chấp (128,7m
2
) thì
(738,3m² - 699,3m²) = 39m
2
; hộ ông T kể cả diện tích đất tranh chấp (128,7m
2
) thì dư
(909,8m
2
- 594,2m
2
) = 315,6m
2
. Theo Văn bản cung cấp thông tin số: 3XXX/UBND
ngày 19/11/2020 của Ủy ban nhân dân thành phố H: Sự biến động tăng giữa diện tích
đất thực tế đang sử dụng diện tích đất trong Giấy chứng nhận của thửa số 6X, tờ
bản đồ số 1X (nay thửa số 5X, tờ bản đồ số X) của hộ Nguyễn T được xác định
do ông khai hoang thêm tại phần tiếp giáp về phía Bắc của thửa đất. Diện tích đất
biến động tăng theo hồ sơ đăng ký Nghị định 64/CP là thuộc một phần diện tích thửa
đất số 5X, loại đất rừng trồng. Tại phiên tòa thẩm, đại diện UBND phường C xác
định: diện tích đất 145m
2
hai bên tranh chấp chưa được Nhà nước công nhận cho ai.
Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án cấp phúc thẩm lập ngày
11
06/5/2026, các bên đương sự tham gia đều xác nhận phần diện tích tranh chấp
128,7m
2
theo như tch đo bản đồ địa chính số 01 2025 ngày 31/3/2025 của Văn
phòng đăng đất đai Quảng Nam đúng; đồng thời đại diện theo y quyền của
Chủ tịch/Uỷ ban nhân dân phường H, thành phố Đà Nẵng cũng xác định phần diện
tích tranh chấp này chưa được Nhà nước công nhận cho ai. Do đó, không sở
cho rằng diện tích tranh chấp này thuộc quyền sử dụng của hộ Huỳnh Thị T như
nguyên đơn đã trình bày. Bản án sơ thm không chp nhn toàn b yêu cu khi kin
của nguyên đơn căn c. Quá trình gii quyết ti cp phúc thẩm, nguyên đơn
những người quyn li nghĩa v liên quan kháng cáo cũng không cung cp
đưc tài liu, chng c để chng minh cho kháng cáo của mình căn cứ chp
nhn.
[3] T nhng phân tích nhận định trên, HĐXX chp nhn ý kiến của đại din
Vin kim sát nhân dân thành ph Đà Nẵng ti phiên tòa, chp nhn ý kiến ca
người đại din hp pháp ca b đơn; không chp nhn ý kiến của nguyên đơn, ý kiến
tranh lun của người bo v quyn và li ích hợp pháp cho nguyên đơn; Không chấp
nhn toàn b kháng cáo ca nguyên đơn ông Trương Minh P những người
quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trương Thị T, Trương Thị H, ông Trương
Minh V, ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T và bà Trương Thị H; Gi nguyên
Bản án thẩm, tuy nhiên, do nguyên đơn xác đnh li diện tích đt tranh chp
128,7m
2
theo kết quả trích đo bản đồ địa chính số 01 2025 ngày 31/3/2025 của
Văn phòng đăng đất đai Quảng Nam, do đó sa phn diện tích đất không chp
nhn yêu cu của nguyên đơn 128,7m
2
theo kết quả trích đo bản đồ địa chính số
01 2025 ngày 31/3/2025.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm đnh ti chỗ, định giá tài sn, và
chi phí đo đạc tng cộng: 21.264.000đ, ông P phi chịu (đã nộp và chi phí xong).
[5] Về án phí: Án phí thẩm án phí phúc thẩm: Ông Trương Minh P và
những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm Trương Thị T, Trương
Thị H, ông Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T và bà Trương
Thị H người cao tuổi, do đó ông P được miễn án phí dân sự thẩm đối với u
cầu khởi kiện không được chấp nhận ông P, bà T, H, ông V, ông Đ, ông T,
H được miễn án pdân sphúc thẩm đối với kháng cáo không được chấp nhận
theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ- UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
12
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Minh P và kháng cáo của những
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trương Th T, bà Trương Th H, ông
Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, bà Trương Thị H và ông Trương Minh T;
Giữ nguyên Bản án dân sthẩm số: 65/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm
2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam (Nay Toà án nhân
dân khu vực 10 - Đà Nẵng).
Căn cứ:
- Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 63, Điều
68, Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
- Điều 101, Điều 166, Điều 170, Điều 179, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
- Điều 158, Điều 160 Bộ luật Dân sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều
26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trương Minh P
về việc yêu cầu ông Nguyễn T tháo dỡ hàng rào phần nhà xây dựng để trả lại
phần diện tích lấn chiếm 128,7m² cho hộ Huỳnh Thị T. (Có đồ kèm theo kết
quả trích đo bản đồ địa chính số 01 2025 ngày 31/3/2025 của Văn phòng đăng
đất đai Quảng Nam).
2. Về án phí dân sự:
2.1. Án phí sơ thẩm: Ông Trương Minh P được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
2.2. Án phí phúc thẩm: Ông Trương Minh P, bà Trương Thị T, bà Trương Thị
H, ông Trương Minh V, ông Trương Minh Đ, ông Trương Minh T và bà Trương Thị
H được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
3. Về chi phí tố tụng:
3.1. Chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm:
- Ông Trương Minh P phải chịu số tiền chi phí tố tụng thẩm 4.600.000
đồng (Bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp
7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng) theo Biên lai thu số 3X ngày 16/7/2020 của Tòa án
nhân dân thành phố Hội An. Hoàn trả lại cho ông Trương Minh P số tiền chi phí tố
tụng 2.400.000 đồng (Hai triệu bốn trăm ngàn đồng). (Đã thực hiện xong theo Giấy
nhận tiền do ông Trương Minh P nhận ngày 26/6/2024, tài liệu bút lục số 435 lưu
tại hồ sơ vụ án).
- Ông Trương Minh V phải chịu số tiền chi phí tố tụng thẩm là 2.000.000
đồng (Hai triệu đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp 10.000.000 đồng
13
(Mười triệu đồng) theo Biên lai thu số 4X ngày 17/12/2020 của Tòa án nhân dân
thành phố Hội An. Hoàn trả lại cho ông Trương Minh V số tiền chi phí tố tụng
8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). (Đã thực hiện xong theo Giấy nhận tiền do ông
Trương Minh P ký nhận ngày 26/6/2024, tài liệu bút lục số 435 lưu tại hồ sơ vụ án).
3.1. Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét, thẩm định ti ch,
định giá tài sn chi phí đo đạc, tng cng: 21.264.000đ, ông Trương Minh P phi
chịu (đã nộp và chi phí xong).
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hánh
án theo quy định tại Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 10;
- Tòa án nhân dân Khu vực 10;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Cao Văn Hiếu
14
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 135/2026/DS-PT Bản án số 135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 135/2026/DS-PT Bản án số 135/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất