Bản án số 133/2025/HC-PT ngày 17/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 133/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 133/2025/HC-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 133/2025/HC-PT
Tên Bản án: | Bản án số 133/2025/HC-PT ngày 17/02/2025 của TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
---|---|
Quan hệ pháp luật: | |
Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại Đà Nẵng |
Số hiệu: | 133/2025/HC-PT |
Loại văn bản: | Bản án |
Ngày ban hành: | 17/02/2025 |
Lĩnh vực: | Hành chính |
Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
Thông tin về vụ án: | Hủy một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối với yêu cầu của người khởi kiện Công ty TNHH MTV S hủy Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
ông Phạm Ngọc Thái
Các Thẩm phán:
ông Phạm Văn Hợp
bà Trần Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: bà Văn Thị Mỹ Thảo, Thư ký Tòa án cấp cao tại Đà
Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà:
bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
cấp cao tại Đà Nẵng và điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng mở phiên tòa trực tuyến xét xử phúc thẩm
công khai vụ án hành chính thụ lý số 445/2024/TLPT-HC ngày 18 tháng 11 năm
2024 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 12/9/2024 của Tòa
án nhân dân tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 01
năm 2025, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Công ty TNHH S; địa chỉ: làng T, xã V, huyện V, tỉnh
Quảng Trị.
Người đại diện theo pháp luật: bà Hoàng Thị T – Giám đốc Công ty; có mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 133/2025/HC-PT
Ngày 17/2/2025
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành
chính trong lĩnh vực quản lý đất
đai”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
Người đại diện theo ủy quyền: bà Nguyễn Thị Thu H – Luật sư Văn phòng L
thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q; có mặt.
2. Người bị kiện: UBND huyện V, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: thị trấn H, huyện
V, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Anh T1 – Phó chủ tịch UBND
nhân dân huyện V. (Văn bản ủy quyền ngày 11/7/2024); có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty Cổ phần S; địa chỉ: làng T, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phan Chu Thiện M – Phó tổng giám đốc
Công ty Cổ phần S; có mặt.
- Công ty TNHH MTV S; địa chỉ: thị trấn H, huyện V, tỉnh Quảng Trị, có đơn
xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 18/6/2024, tại phiên đối thoại và trong quá trình
tố tụng người khởi kiện trình bày:
Từ năm 2016, bà Hoàng Thị T và Công ty Cổ phần S (sau đây gọi là Công ty
S) thỏa thuận miệng về việc hợp tác chế biến gỗ, bằng cách Công ty Lâm sản có
quyền sử dụng đất nên cho bà T xây dựng nhà xưởng, đầu tư máy móc, thiết bị để
chế biến gỗ. Về lợi nhuận, Công ty S hưởng theo khối lượng, còn bà T được vay vốn
kinh doanh 8%/năm. Đến năm 2020, bà T lập Công ty TNHH MTV S (sau đây gọi
là Công ty S). Từ năm 2016 cho đến nay, Công ty S đã đầu tư xây dựng nhà xưởng,
máy móc và cùng hợp tác sản xuất chế biến gỗ đều chi trả lợi nhuận đầy đủ cho Công
ty S theo các chứng từ ghi công nợ chi tiền hàng tháng; giữa các bên không có tranh
chấp gì.
Năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện V thực hiện dự án đường C đoạn C - V.
Trên diện tích đất thu hồi của Công ty S là nhà xưởng, thiết bị máy móc của Công
ty S. (Công ty S và Công ty S đã có biên bản kiểm kê tài sản nộp cho ban quản lý dự
án của huyện V).
Ngày 21/02/2024, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án xây dựng
CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai đoạn 2021-2025, đoạn V - C có Công
văn số 48/CV-HĐ về việc yêu cầu cung cấp chứng từ liên quan đến bồi thường hỗ
trợ đối với công ty V1 nội dung yêu cầu Công ty S cung cấp hợp đồng liên doanh
giữa 02 Công ty; tuy nhiên, giữa 02 Công ty thỏa thuận không lập bằng văn bản.
3
Ngày 06/6/2024, UBND huyện V có Văn bản số 1198/UBND-BQLDA có nội
dung: Công ty S không có hồ sơ giấy tờ chứng minh việc đầu tư nhà xưởng máy móc
trên đất là hợp pháp. Do đó, UBND huyện V không lập phương án, hỗ trợ đối với
Công ty S.
Vì vậy, ngày 18/6/2024 Công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án:
- Hủy Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V
về việc trả lời đơn công dân.
- Buộc UBND huyện V tiến hành lập phương án bồi thường toàn bộ tài sản
trên đất cho Công ty S.
2. Tại văn bản số 1496/UBND-HĐBT ngày 11/7/2024 của Ủy ban nhân dân
huyện V và quá trình giải quyết vụ án người bị kiện trình bày:
Thực hiện Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai
đoạn 2021-2025, đoạn V - C.
Ngày 27/5/2024, UBND huyện V nhận được Công văn số 871/VP-KT ngày
23/5/2024 của Văn phòng UBND tỉnh Q chuyển Đơn ghi ngày 16/5/2024 của Công
ty TNHH S có nội dung kiến nghị, phản ánh về việc xem xét, hỗ trợ , bồi thường cho
công ty K thực hiện dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông
giai đoạn 2021-2025, đoạn V - C.
Qua xem xét nội dung đơn của Công ty S, trên cơ sở báo cáo của Hội đồng
bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện thì ngày 25/11/2023, Hội đồng bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư huyện V đã kiểm kê, kiểm đếm ghi nhận bằng biên bản kiểm
đếm số 68/BB-KĐ đối với toàn bộ tài sản của Công ty TNHH S theo đề nghị của
Công ty trên thực tế. Theo đó, toàn bộ tài sản máy móc, thiết bị, nhà xưởng của Công
ty TNHH S đều xây dựng trên đất của Công ty cổ phần S và Công ty TNHH MTV
S. Ngày 21/02/2024, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án xây dựng
CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai đoạn 2021-2025, đoạn V - C có Công
văn số 48/CV-HĐ về việc yêu cầu cung cấp chứng từ liên quan đến bồi thường, hỗ
trợ đối với công ty. Công ty không có hồ sơ giấy tờ chứng minh cho việc đầu tư nhà
xưởng máy móc trên đất là hợp pháp.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 289/VP-KT ngày
01/4/2024 về việc giải quyết đề nghị của UBND huyện V tại Báo cáo số 146/BC –
UBND ngày 29/3/2024 về khó khăn vướng mắc trong công tác GPMB của đường C
- C.
Ngày 09/4/2024, tại Văn bản số 1328/STNMT-ĐĐBĐ&TĐC của Sở T2 về
việc giải quyết đề nghị của UBND huyện V về khó khăn vướng mắc trong công tác
GPMB của đường C - C, trong đó có trường hợp của Công ty TNHH MTV S. Tại
4
Văn bản này có nêu nội dung: "UBND huyện đề nghị UBND tỉnh đồng ý chủ trương
hỗ trợ toàn bộ tài sản của Công Ty S, mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá nhà, vật kiến
trúc cho Công ty S theo quy định tại khoản 4, Điều 6 Quyết định 26/2021/QĐ-UBND
ngày 27/10/2021 của UBND tỉnh Q quy định “Đối với nhà , công trình xây dựng
khác nằm trong phạm vi nhà nước thu hồi đất nhưng không đủ điều kiện bồi thường
thì được xem xét hỗ trợ, mức hỗ trợ tối đa bằng 50 % đơn giá của UBND tỉnh quy
định tại thời điểm có quyết định thu hồi”.
Đề nghị UBND huyện V tổ chức làm việc với Công ty TNHH S, Công ty cổ
phần S và Công ty TNHH MTV S để xác định hồ sơ pháp lý về việc sử dụng đất của
Công ty TNHH S. Trên cơ sở đó , nếu xác định việc sử dụng đất, xây dựng công
trình của Công ty TNHH S là hợp pháp thì lập phương án bồi thường, hỗ trợ theo
quy định. Nếu tài sản Công ty TNHH S tạo lập trái phép thì sẽ không được bồi
thường tài sản gắn liền với đất theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Luật đất đai”
Do Công ty TNHH S không có hồ sơ giấy tờ chứng minh việc đầu tư nhà
xưởng máy móc trên đất là hợp pháp nên không thể bồi thường. UBND huyện V ra
Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V về việc trả
lời đơn công dân với nội dung không tiến hành lập phương án bồi thường toàn bộ
tài sản trên đất cho Công ty TNHH S.
Tại Văn bản số 356/ HĐ -TLKN ngày 24/7/2024 Hội đồng bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai đoạn
2021-2025, đoạn V - C trả lời kiến nghị ngày 23/7/2024 của Công ty S. Hiện nay
Công ty S đang có đơn khởi kiện và được Tòa án nhân dân giải quyết. Hiện tại chưa
có bản án có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng đã kiểm kê, kiểm đếm ghi nhận
đối với toàn bộ tài sản xây dựng tạo lập của Công ty S trên đất của Công ty cổ phần
S và Công ty TNHH MTV S có đầy đủ thành phần tham gia ký xác nhận vào ngày
25/11/2023. Do đó trường hợp Tòa án phán quyết là đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ
cho Công ty thì Hội đồng sẽ lập phương án bồi thường, hỗ trợ cho công ty theo đúng
quy định.
Vì vậy, để đảm bảo bàn giao giải phóng mặt bằng theo chỉ đạo của UBND
tỉnh Công ty khẩn trương di dời tài sản bàn giao mặt bằng trước ngày 26/7/2024. Đề
nghị Công ty TNHH S phối hợp thực hiện.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần S trình bày:
Giữa Công ty S và Công ty S không có hợp tác làm ăn hay kinh doanh với
nhau.
Công ty S chỉ biết có cho ông Trần Xuân C (chồng bà T – giám đốc Công ty
S) tá túc trên đất của Công ty S để thu mua cây tràm; sau đó ông C tự ý dựng 04 cây
5
trụ lợp tôn để đặt cưa, rồi dần dần mở rộng nhà xưởng mà không được sự đồng ý
của Công ty S. Từ năm 2021, Công ty S đã nhiều lần yêu cầu ông C di dời tài sản
trên đất nhưng ông C không đồng ý.
Các khoản tiền mà Công ty Cổ phần S nhận là các khoản công nợ của Công
ty S phát sinh do công ty sử dụng điện, sử dụng dịch vụ cân điện tử, tiền công của
nhân viên trực, công bốc xếp ghắp gỗ lên xuống xe, tiền lãi do Công ty S vay vốn
nhàn rỗi của Công ty S.
Công ty Cổ phần S không liên quan gì đến vụ án khởi kiện của Công ty S và
đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV S – Quảng
Trị: Không có yêu cầu tranh chấp gì đối với tài sản của công ty S và đề nghị giải
quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
5- Quá trình giải quyết vụ án, tại Biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân
dân tỉnh Quảng Trị lập ngày 12/7/2024 xác định tài sản của Công ty TNHH MTV S:
có các công trình trên 2348,1m
2
gồm: nhà kho 182 m
2
, nhà làm việc 89,2m
2
,nhà
xưởng 1781 m
2
, nhà băm dăm 99,6 m
2
,nhà để máy sấy 195,7 m
2
, toàn bộ tài sản máy
móc, thiết bị, nhà xưởng của Công ty TNHH S đều xây dựng trên đất của Công ty
cổ phần S và Công ty TNHH MTV S.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày 12/9/2024 của
Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã quyết định:
Căn cứ vào: khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; Điều
116; Điều 164; điểm a khoản 2 Điều 193; Điều 194; Điều 206; Điều 213; Điều 358;
Điều 359 Luật Tố tụng Hành chính năm 2015Nghị định 47/2014/NĐ-CP15/5/2014;
Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện Công ty TNHH MTV S về việc
yêu cầu hủy Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại
chỗ và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 17/9/2024, người khởi kiện Công ty TNHH S có người đại diện theo
pháp luật là bà Hoàng Thị T - Giám đốc Công ty có Đơn kháng cáo, với nội dung:
cho rằng bản án sơ thẩm đã xét xử đối vụ án trên như vậy là không đúng pháp luật,
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của người khơi kiện: Hủy văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày
06/6/2024 của UBND huyện V về việc trả lời đơn công dân. Buộc UBND huyện V
tiến hành lập phương án bồi thường toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty S.
6
Tại phiên tòa phúc thẩm: bà Hoàng Thị T – Giám đốc Công ty TNHH S là
người đại diện theo pháp luật cho người khởi kiện xuất trình chứng cứ là Biên bản
kiểm đếm số 68/BB-KĐ ngày 25/11/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư.
Người đại diện cho UBND huyện V thừa nhận những tài sản hội đồng đã kiểm
kê, kiểm đếm ghi nhận đối với toàn bộ tài sản xây dựng tạo lập là tài sản của Công
ty S và có quan điểm trình bày: theo báo cáo 146/BC – UBND ngày 29/3/2024;
UBND huyện V đồng ý chủ trương hỗ trợ toàn bộ tài sản của Công Ty S, mức hỗ
trợ bằng 50% đơn giá của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi
theo quy định tại khoản 4, Điều 6 Quyết định 26/2021/QĐ-UBND ngày 27/10/2021
của UBND tỉnh Q cho Công ty S nên đồng ý tiến hành lập phương án hỗ trợ toàn bộ
tài sản trên đất cho Công ty S theo chủ trương này.
Bà Hoàng Thị T đại diện cho người bị kiện thống nhất với phương án hỗ trợ
nêu trên và cam kết Công ty sẽ tự nguyện phối hợp tháo dỡ, di dời tài sản bàn giao
mặt bằng để kịp thời tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời đồng ý rút đơn khởi kiện
đối với yêu cầu hủy Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND
huyện V.
Đại diện UBND huyện V đồng ý về việc rút đơn của người khởi kiện nêu trên
và cam kết thực hiện việc hỗ trợ toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty Cường Thịnh
theo chủ trương trên.
Đối với yêu cầu buộc UBND huyện V thực hiện việc tiến hành lập phương án
bồi thường toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty S thì người khởi kiện và người bị
kiện đều thống nhất đề nghị: Hội đồng xét xử công nhận việc đối thoại này để UBND
huyện V tiến hành các thủ tục ban hành quyết định hỗ trợ toàn bộ tài sản của Công
ty S (theo Biên bản kiểm đếm số 68/BB-KĐ ngày 25/11/2023 đã được Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư ghi nhận), với mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá của UBND
tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi theo quy định tại khoản 4, Điều 6
Quyết định 26/2021/QĐ-UBND ngày 27/10/2021 của UBND tỉnh Q cho Công ty S
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng nêu quan điểm giải
quyết vụ án; đề nghị Hội đồng xét xử hủy án sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ
án. Công nhận sự thỏa thuận và đối thoại nêu trên để UBND huyện V tiến hành các
thủ tục ban hành quyết định hỗ trợ toàn bộ tài sản của Công Ty C, với mức hỗ trợ
bằng 50% đơn giá của UBND tỉnh Q theo quy định
Sau khi nghe: người kháng cáo trình bày nội dung kháng cáo; Ý kiến của các
bên liên quan đến nội dung kháng cáo và tranh luận tại phiên tòa; Ý kiến của Kiểm
sát viên về việc tuân theo pháp luật ở giai đoạn xét xử phúc thẩm và quan điểm của
7
Viện kiểm sát về giải quyết vụ án; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử
nhận định về các nội dung kháng cáo như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên toà, ý kiến trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh luận tại
phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Sau khi thảo luận và nghị án,
Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bà Hoàng Thị T – Giám đốc Công ty
TNHH S là người đại diện theo pháp luật cho người khởi kiện còn trong thời hạn và
đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên
tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH MTV S - Quảng Trị đã
được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 225 Luật tố
tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu khởi kiện:
Ngày 27/5/2024, UBND huyện V nhận được Đơn đề ngày 16/5/2024 của
Công ty TNHH S có nội dung đề nghị về việc xem xét, hỗ trợ, bồi thường cho công
ty K thực hiện dự án xây dựng công trình đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai
đoạn 2021-2025, đoạn V - C. Ngày 06/6/2024 của UBND huyện V ban hành Văn
bản số 1198/UBND-BQLDA về việc trả lời công dân với nội dung: Công ty không
có hồ sơ giấy tờ chứng minh cho việc đầu tư nhà xưởng máy móc trên đất là hợp
pháp; do dó không tiến hành lập phương án bồi thường hỗ trợ. Văn bản hành chính
này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi Công ty TNHH S nên là đối tượng khởi kiện
trong vụ án hành chính. Công ty S khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Văn bản số
1198/UBND-BQLDA để UBND huyện V và buộc UBND huyện V tiến hành lập
phương án bồi thường hỗ trợ toàn bộ tài sản. Căn cứ Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản
4 Điều 32; Điều 116 Luật tố tụng hành chính Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thụ
lý, giải quyết vụ án là đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của người khởi kiện Công ty TNHH S thì thấy;
[4]. Về tính hợp pháp và có căn cứ của Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày
06/6/2024 của UBND huyện V, Hội đồng xét xử thấy;
- Về chủ thể ban hành: Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của
UBND huyện V về việc trả lời đơn đối với Công ty S đã được ban hành bởi người
có thẩm quyền Chủ tịch UBND huyện V là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung thì thấy:
8
Thực hiện Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai
đoạn 2021-2025, đoạn V - C. Ngày 21/02/2024, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư dự án có Công văn số 48/CV-HĐ về việc yêu cầu cung cấp chứng từ liên
quan đến bồi thường hỗ trợ đối với công ty với nội dung yêu cầu Công ty S cung
cấp: hợp đồng liên doanh giữa Công ty TNHH S với Công ty cổ phần S và Công ty
TNHH MTV S; các báo cáo tài chính các năm 2019, 2020, 2021 và 6 tháng đầu năm
2022 của Công ty TNHH S có cơ quan thuế xác nhận; Giấy chứng nhận kinh doanh;
các hóa đơn chứng từ chứng minh liên quan đến các thiết bị, máy móc của nhà máy.
Tại Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V
về việc trả lời đơn. UBND huyện V cho rằng do Công ty TNHH S không có hồ sơ
giấy tờ chứng minh việc đầu tư nhà xưởng máy móc trên đất là hợp pháp nên không
tiến hành lập phương án bồi thường toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty TNHH S.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp có trong hồ sơ vụ
án thì thấy Công ty TNHH S đã xuất trình đầy đủ các báo cáo tài chính các năm
2019, 2020, 2021 và 6 tháng đầu năm 2022 của Công ty TNHH S có cơ quan thuế
xác nhận; Giấy chứng nhận kinh doanh; các hóa đơn chứng từ chứng minh liên quan
đến các thiết bị, máy móc của nhà máy và rất nhiều tài liệu chứng cứ khác thể hiện
về việc có sự hợp tác trong việc sản xuất, kinh doanh, đầu tư nhà xưởng máy móc
trên đất là hợp pháp (Bút lục 19 – 179) đáp ứng đầy đủ như yêu cầu tại Công văn số
48/CV-HĐ về việc yêu cầu cung cấp chứng từ liên quan đến bồi thường hỗ trợ.
Xét các hợp đồng trong quá trình xây dựng, mua máy móc để sản xuất kinh
doanh của Công ty S như: Hợp đồng lắp ghép nhà xưởng ngày 13/11/2016, Hợp
đồng mua bán vật liệu xây dựng 01/2/2017; Hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng
14/3/2017, Hợp đồng lắp ghép nhà xưởng ngày 15/10/2019, Hợp đồng mua bán vật
liệu xây dựng 20/10/2019, Hợp đồng lắp ghép nhà xưởng ngày 15/12/2020, Hợp
đồng mua bán vật liệu xây dựng 11/12/2021, Hợp đồng mua bán vật liệu xây dựng
25/9/2022, Hợp đồng thi công đổ bê tông 20/12/2022; các Hợp đồng nhân công khác;
Hợp đồng mua bán Máy cưa Ripsaw xẻ gỗ tròn 05/04/2021; Hợp đồng đặt hàng
pallet 02/01/2023; Hợp đồng kinh tế pallet 30/3/2023 ....(BL 121 – 136) thì thấy
Công ty TNHH S đã liên tục tạo lập nhà xưởng và mua máy móc trong nhiều năm
để sản xuất, kinh doanh từ thời điểm năm 2016 cho đến năm 2023. So sánh với thời
điểm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CT 01566 ngày
25/7/2017 do Sở T2 cấp cho Công ty cổ phần S thì thấy Công ty S đã tạo lập tài sản
và hoạt động sản xuất kinh doanh từ năm 2016; trước khi Công ty cổ phần S được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2017 nhưng khi giải quyết đơn của
Công ty S đề nghị về việc xem xét, hỗ trợ, bồi thường cho công ty khi thực hiện dự
9
án UBND huyện V đã không xem xét đến quá trình sử dụng đất nên có sai sót. Như
vậy, tại Văn bản giải quyết trả lời đơn không xem xét đến những vấn đề trên để làm
rõ nguồn gốc, quá trình hình thành tài sản và quá trình sử dụng đất của Công ty
TNHH MTV S là thiếu khách quan, chưa đúng pháp luật.
Ngoài ra, xem xét các bảng kê công nợ do công ty cổ phần S lập hàng tháng,
diễn ra liên tục trong nhiều năm, cụ thể như: Bảng kê công nợ do công ty cổ phần S
lập tháng 5/2021; Bảng kê công nợ do công ty cổ phần S lập tháng 7/2023 (BL 137
– 179) thì thấy công ty Cường Thịnh khi đổ gỗ vào nhà xưởng thì phải trả tiền bãi
cho Công ty cổ phần S, thuê nhân công của Công ty cổ phần S, tiêu thụ sản phẩm
thông qua Công ty cổ phần S và hai bên được phân chia lợi nhuận … Công ty cổ
phần S còn cho Công ty S vay vốn để kinh doanh. Như vậy, có căn cứ xác định việc
tạo lập xây dựng nhà xưởng chế biến gỗ của Công ty TNHH S là để cùng hợp tác
trong sản xuất kinh doanh chế biến gỗ; hoạt động sản xuất, kinh doanh này cũng phù
hợp với việc sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần S nên không trái pháp luật.
Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (BL 06) thấy năm 2020,
bà Hoàng Thị T thành lập Công ty TNHH MTV S. Mã số doanh nghiệp:
3200711341; Đăng ký lần đầu 18/8/2020; Đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày
25/11/2020. Địa chỉ trụ sở chính: làng thanh niên lập nghiệp, xã V, huyện V, tỉnh
Quảng Trị. Tại Biên bản xác nhận địa điểm kinh doanh ngày 08/9/2020 của Chi cục
thuế khu vực V2 và các Thông báo chấp nhận việc nộp hồ sơ khai thuế của T3 thì
Công ty TNHH MTV S có địa điểm kinh doanh:làng thanh niên lập nghiệp, xã V,
huyện V, tỉnh Quảng Trị (BL 48-51).
Từ những vấn đề và phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác
định doanh nghiệp của bà T là Công ty TNHH MTV S đã được thành lập hợp pháp.
Quá trình hợp tác kinh doanh, xây dựng nhà xưởng mua sắm máy móc tại địa điểm
kinh doanh: làng thanh niên lập nghiệp, xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị từ năm 2016
đến thời điểm thực hiện Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông
giai đoạn 2021-2025, đoạn V - C thì tài sản Công ty S tài sản được tạo lập ra là hợp
pháp, không trái pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án Công ty cổ phần S và Công ty
TNHH MTV S đều thừa nhận về các tài sản của Công ty S thể hiện tại Biên bản
kiểm đếm số 68/BB-KĐ, ngày 25/11/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái
định cư là tài sản của Công ty S và không có tranh chấp gì về tài sản; do đó có đủ
căn cứ xác lập quyền sở hữu về tài sản theo quy định tại Điều 222 Bộ luật dân sự
năm 2015 quy định: “Người lao động, người tiến hành hoạt động sản xuất, kinh
doanh hợp pháp có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ lao động, hoạt động sản
xuất, kinh doanh hợp pháp, kể từ thời điểm có được tài sản đó…”. Vì vậy, khi nhà
10
nước thu hồi đất của các doanh nghiệp khác thì chủ sở hữu hợp pháp tài sản trên đất
là Công ty S phải được bồi thường về tài sản đúng theo quy định của pháp luật.
Theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất được
quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Đất đai 2013Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở
hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường”.
Do vậy, kháng cáo của người khởi kiện: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa án
sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện: Hủy
Văn bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V về việc trả
lời đơn công dân. Buộc UBND huyện V tiến hành lập phương án bồi thường toàn
bộ tài sản cho Công ty S là có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm Công ty TNHH MTV S có xuất trình chứng
cứ là Biên bản kiểm đếm số 68/BB-KĐ ngày 25/11/2023 của Hội đồng bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai
đoạn 2021-2025, đoạn V - C và trình bầy:
Các tài sản của Công ty S thể hiện theo Biên bản kiểm đếm số 68/BB-KĐ,
được Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V ghi nhận bằng biên bản
kiểm đếm đối với toàn bộ tài sản của Công ty TNHH S trên thực tế cụ thể như sau:
“...b, V kiến trúc:
- Nhà xưởng:
1) Nhà xưởng có kết cấu khung sắt lợp tôn nền đất.
DT: 47,1 x 31,6 + 5,9 x 26,65 + 2 x 13,5 + 18,6 x 7,3 + 20,54 x 4,6
2) Sân lát gạch (phòng làm việc).
DT: 5,7 x 4
3) Tường xây blô kín tô trát hoàn chỉnh (kể cả móng)
DT: 8,8 x 2,6 + 5 x 2,6 + 5,7 x3,3 + 10,3 x 3,4
4) Tường bằng khung thép hộp ốp tôn
DT: 3,5 x 6,6 x 2 mặt + 3,7 x 5,7 + 3,5 x 5,7 + 3,4 x 5,7
5) Vách chắn phía sau xưởng làm bằng gỗ cao 2 m 56 md
6) La phong tôn
DT: 5,7 x 4
7) Nền bê tông xi măng dày 10 cm M> 10 cm
DT: 52,2 x 31 + 18,6 x 6,8 + 19,9 x 4,1 + 4,8 x 6,8
- Kho sấy:
1) Kho sấy có kết cấu khung sắt, lợp tôn, nền đất
DT: 18,6 x 10,0
2) Nền bê tông xi măng dày 10 cm, M> 100
11
DT: 10,4 x 18,1
- Kho chứa thành phẩm
1) Kho chứa thành phẩm có kết cấu khung sắt, lợp tôn, nền đất
DT: 18,3 x 5,8
2) Nền bê tông xi măng dày 10 cm, M> 100
DT: 10,3 x 17,7
- Nhà xưởng băm gỗ
1) Nhà xưởng băm gỗ có kết cấu khung sắt, lợp tôn, nền đất
DT: 8,23 x 10,96 + 8,1 x 3,53
2) Nền bê tông móng hầm dày 10 cm, M> 100
3) Bê tông móng hầm bằng bê tông cốt thép M 250, đá 1 x 2
KL: 3,2 x 1,7 x 0,2
4) Bê tông hầm bằng bê tông cốt thép M 250, đá 1 x 2
KL: ( 3 + 4 , 2) x 2 bên x cao 1,7 x dày 0,2
- Phần điện
1) Dây từ hộp điện tổng đi qua các máy cáp điện lực hạ thế có giáp bảo vệ 0,6
/1 KV- ( 3 lõi pha + 1 lõi đất, ruột đồng, cách điện P, giáp băng thép bảo vệ, loại
CVV DSTA – 3 x 16 + 1 x 10 – 0,6/ 1KV = 280 md
2) Dây điện, cáp điện Cadivi VCmd – 2 x 1,5 – ( 2 x 30/ 0,25) – 0,6/ 1 KV
200 md
3) Cáp điện hạ thế - 0,6/1KV – ( 3lõi, ruột đồng, cách điện P, vỏ P) CVV – 3
x 50 – 0,6 / 1 KV ( từ trạm biến áp về hộp đồng hồ tổng )
4) Lắp đặt các aptomat 3 pha ≤ 200, AM CCB 150, 200 (A)
I cu – 30 KA - 6 cái
5) Lắp đặt các aptomat 1 pha ≤100, AM CCB 3P 75, 100 (A)
I cu – 22 KA – 7 cái
6) Lắp đặt các aptomat 1 pha ≤ 100, AM CCB 2P 10,16,20,25,32,40 (A)
I cu – 4,5 KA – 4 cái
5) Aptomat 1 pha, 1 cực MCB 16 AM CB 1P 10,16,20,25,32,40 (A)
I cu – 4,5 KA – 15 cái
- Phần rãnh thoát nước phía bên, sau nhà xưởng
1) Bê tông đáy mương bằng bê tông M 150, không cốt thép, đá 2 x 4, PC 40
KL: 76 x 0,5 x 0,12
2) Xây tường thẳng blô
KL: 76 x 0,3 x 0,2 x 2 bên
- Máy móc thiết bị:
12
1) Máy cưa CD: 06 cái
2) Máy CD cưa bìa : 02 cái
3) Máy cắt ngang: 06 cái
4) Máy xẻ gỗ tròn nhiều lưỡi D 300: 01 cái
5) Máy xẻ gỗ tròn nhiều lưỡi D 400: 01 cái
6) Máy xẻ hộp nhiều lưỡi: 01 cái
7) Máy cắt 2 đầu : 01 cái
8) Máy lọng : 01 cái
9) Máy rong nan nhiều lưỡi: 01 cái
10) Máy lip xô : 04 cái
11) Máy hút bụi + ống dẫn bụi : 02 cái
12) Máy mài dao băm : 01 cái
13) Máy băm cưa bìa : 01 cái
14) Máy băm gỗ cưa tròn : 01 cái
15) Hệ thống lò sấy gỗ 2T : 01 cái ”
Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện V thừa nhận những tài sản
nêu trên hội đồng đã kiểm kê, kiểm đếm ghi nhận đối với toàn bộ tài sản xây dựng
tạo lập là tài sản thuộc quyền sở hữu của Công ty S như nội dung Biên bản kiểm
đếm số 68/BB-KĐ ngày 25/11/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Dự án xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai đoạn 2021-2025,
đoạn V - C mà công ty S xuất trình là đúng. Nhưng có quan điểm trình bày: theo báo
cáo 146/BC – UBND ngày 29/3/2024 UBND huyện V đồng ý chủ trương hỗ trợ toàn
bộ tài sản của Công ty S, với mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá của UBND tỉnh quy định
tại thời điểm có quyết định thu hồi cho Công ty nên đồng ý khắc phục hành vi hành
chính bằng việc: UBND huyện V tiếp tục tiến hành lập phương án hỗ trợ toàn bộ tài
sản trên đất cho Công ty S, với mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá của UBND tỉnh quy
định tại thời điểm có quyết định thu hồi, đúng theo quy định tại khoản 4, Điều 6
Quyết định 26/2021/QĐ-UBND ngày 27/10/2021 của UBND tỉnh Q: “Đối với nhà
, công trình xây dựng khác nằm trong phạm vi nhà nước thu hồi đất nhưng không
đủ điều kiện bồi thường thì được xem xét hỗ trợ, mức hỗ trợ tối đa bằng 50 % đơn
giá của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi”. Thực hiện đúng
như ý kiến chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 289/VP-KT ngày 01/4/2024 và
Văn bản số 1328/STNMT-ĐĐBĐ&TĐC ngày 09/4/2024 của Sở T2 về giải quyết đề
nghị của UBND huyện V về khó khăn vướng mắc trong công tác GPMB của đường
C - C, trong đó có trường hợp của Công ty TNHH MTV S.
13
Bà Hoàng Thị T đại diện cho người bị kiện thống nhất với phương án hỗ trợ
nêu trên và cam kết Công ty sẽ tự nguyện phối hợp tháo dỡ, di dời tài sản bàn giao
mặt bằng để kịp thời tiến độ thực hiện dự án. Đồng thời đồng ý rút đơn khởi kiện
đối với yêu cầu hủy Văn bản số 1198; đại diện UBND huyện V cũng đồng ý về việc
rút đơn của người khởi kiện và cam kết thực hiện việc hỗ trợ toàn bộ tài sản trên đất
cho Công ty S.
Mặt khác, đối với yêu cầu buộc UBND huyện V thực hiện việc tiến hành lập
phương án bồi thường toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty S thì người khởi kiện và
người bị kiện đều thống nhất đề nghị: Hội đồng xét xử công nhận việc đối thoại này
để UBND huyện V tiến hành các thủ tục ban hành quyết định hỗ trợ toàn bộ tài sản
của Công ty S (theo Biên bản kiểm đếm số 68/BB-KĐ ngày 25/11/2023 đã được Hội
đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ghi nhận), với mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá
của UBND tỉnh quy định tại thời điểm có quyết định thu hồi theo quy định tại khoản
4, Điều 6 Quyết định 26/2021/QĐ-UBND ngày 27/10/2021 của UBND tỉnh Q cho
Công ty Cường Thịnh
Do đó, Hội đồng xét xử hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST
ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và Đình chỉ việc giải quyết đối
với yêu cầu của người khởi kiện Công ty TNHH MTV S đối với yêu cầu hủy Văn
bản số 1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V. Đồng thời sửa
bản án sơ thẩm theo hướng công nhận việc đối thoại của các đương sự để UBND
huyện V tiến hành các thủ tục để ban hành quyết định hỗ trợ toàn bộ tài sản trên đất
cho Công ty S theo như thỏa thuận và cam kết nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành
án hành chính.
[5] Về án phí. Công ty TNHH MTV S phải chịu án phí hành chính theo quy
định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác về án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 143; khoản 2 và 4 Điều 241 Luật tố tụng Hành
chính năm 2015.
1. Hủy một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày
12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và Đình chỉ việc giải quyết vụ án đối
với yêu cầu của người khởi kiện Công ty TNHH MTV S hủy Văn bản số
1198/UBND-BQLDA ngày 06/6/2024 của UBND huyện V.
14
2. Sửa một phần Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2024/HC-ST ngày
12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị và Công nhận việc đối thoại, thỏa
thuận giữa người khởi kiện Công ty TNHH MTV S với đại diện UBND huyện V
đối với yêu cầu buộc UBND huyện V phải tiến hành lập phương án bồi thường, hỗ
trợ toàn bộ tài sản trên đất cho Công ty S, để đảm bảo cho việc thi hành án hành
chính, cụ thể như sau.
- Buộc UBND huyện V phải có trách nhiệm phải tiến hành các thủ tục ban
hành quyết định hỗ trợ toàn bộ tài sản của Công Ty S (Theo Biên bản kiểm đếm số
68/BB-KĐ, ngày 25/11/2023 của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Dự án
xây dựng CT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía đông giai đoạn 2021-2025, đoạn V -
C và tự mà công ty S đã được Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư ghi nhận)
với mức hỗ trợ bằng 50% đơn giá của UBND tỉnh Q theo đúng như quy định tại
khoản 4, Điều 6 Quyết định 26/2021/QĐ-UBND ngày 27/10/2021 của UBND tỉnh
Q và các quy định khác của pháp luật
- Buộc Công ty TNHH S phải có trách nhiệm phối hợp với Hội đồng bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư huyện V tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản của công ty B
để đảm bảo kịp tiến độ của dự án.
3. Về án phí: áp dụng Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/ 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Công ty TNHH MTV S phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm
nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000169 ngày 22/10/2024 của Cục
thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
4. Các quyết định khác về án phí hành chính sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ được thực hiện theo quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số
15/2024/HC-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị (Người khởi
kiện đã nộp đủ).
Bản án phúc thẩm có lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Trị;
- VKSND tỉnh Quảng Trị;
- Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Phạm Ngọc Thái
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 31/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 28/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 27/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/03/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm