Bản án số 53/2026/HC-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 53/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 53/2026/HC-PT ngày 13/08/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 53/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/08/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 53/2026/HC-PT Bản án số 53/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 53/2026/HC-PT Bản án số 53/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!




- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Nga
Các Thẩm phán:
1. Bà Lê Thu Thủy
2. Bà Nguyễn Thị Bảo Thu
Thư phiên tòa: Bùi Thái Ngọc Huyền Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia
phiên toà: Ông Nguyễn Văn Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13/8/2026, tại trụ sTòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét
xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm thụ số 19/2026/TLHC-PT ngày
21/4/2026 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản
đất đai”.
Do Bản án hành chính thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 06/02/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 5177/2026/QĐ-PT
ngày 04/8/2026, giữa các đương sự:

Ông Ngô Vi H, sinh năm 1966
Địa chỉ: E N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Vi H:
Bà Ngô Thị Thanh H1, sinh năm 1965
Địa chỉ: phường T, Thành phố Hồ Chí Minh

Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:
Ông Huỳnh Anh T Chuyên viên Phòng Kinh tế, Hạ tầng Đô thị
phường P



  
Bản án số: 53/2026/HC-PT
Ngày: 13/8/2026
V/v: “Khiếu kiện Quyết định
hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai”.
2

Theo Bản án hành chính thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 06/02/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, thì:
Ông Ngô Vi H đang quản lý, sử dụng diện tích đất đo đạc thực tế
26.901,3m² thuộc một phần các thửa đất số 07, 12 14, tờ bản đồ số 95, trước
đây thuộc phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nay thuộc phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo trình bày của ông H các tài liệu trong hồ sơ, nguồn gốc diện
tích đất nêu trên do ông H nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay của ông
Ngọc G ngày 24/7/1988. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông H trực tiếp quản ,
sử dụng đất. Ông H tài liệu về việc nộp tiền đo đạc năm 1994, các chứng từ
nộp thuế, nộp tiền liên quan đến việc sử dụng đất trong các năm 1998, 2008,
2020.
Ủy ban nhân dân (viết tắt UBND) phường P xác nhận: Tại hồ địa chính
năm 1993: Diện tích 26.901,3m² thuộc một phần các thửa đất 05+06+07+sông
D, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 17 tờ bản đồ số 03. Trong đó, thửa đất số 05 có
diện tích 24.250m² đất Đùn, thửa đất số 06 có diện tích 2.198m² đất Đùn và thửa
đất số 07 có diện tích 453m² đất Ao đều ghi tên ông Ngô Vi H; thửa đất số 17, tờ
bản đồ số 03 diện tích 28.293m² đất Đm ghi tên ông Ngô Vi L. Tại hồ địa
chính năm 2002: Diện tích 26.901,3m² tương ứng một phần các thửa đất
07+12+14, tờ bản đồ s95. Trong đó, thửa đất số 07 diện tích 85.401m² đất
Đùn, ghi tên ông Ngô Vi H, thửa đất số 12 diện tích 4.469m² đất CD thửa
đất số 14 diện tích 463.364m² đất Sg do Nớc quản lý.Tại hồ địa
chính năm 2015: Diện tích 26.901,3m² tương ứng một phần các thửa đất
07+12+14, tờ bản đồ s95. Trong đó, thửa đất số 07 diện tích 85.401m² đất
NTS, không ghi tên người quản lý, sử dụng; thửa đất số 12 có diện tích
4.469,5m² đất DTL và thửa đất số 14 diện tích 466.542,2m² đất SON do Nhà
nước quản lý.
Theo kết quả đo đạc được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai xác nhận
ngày 26/9/2025, diện tích đất ông H đang sử dụng 26.901,3m², hiện trạng sử
dụng là đất nuôi trồng thủy sản.
Ngày 07/10/2025, UBND phường P công khai kết quả kiểm tra hồ đăng
ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hết thời gian công khai không phát
sinh tranh chấp.
Ngày 27/10/2025, Chủ tịch UBND phường P ban hành Thông báo số
364/TB-ĐKĐĐ xác định ông Ngô Vi H không đủ điều kiện đăng ký đất đai theo
khoản 1 Điều 132 không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất theo điểm b khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024.
Không đồng ý, ông H khởi kiện yêu cầu:
1. Hủy Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ ngày 27/10/2025 của Chủ tịch UBND
phường P;
3
2. Buộc Chủ tịch UBND phường P thực hiện nhiệm vụ, công vụ, giải quyết
việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất ông đang
quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật.
Người bị kiện Chủ tịch UBND phường P cho rằng diện tích đất ông H sử
dụng nằm trong khu vực được Nhà nước quản theo Quyết định số
6271/QĐ.UB năm 2002 Quyết định số 3693/QĐ-UBND năm 2019. Căn cứ
quy hoạch sdụng đất đến năm 2030, tầm nhìn đến 2050 của thành phố V đã
được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1093/QĐ-UBND ngày 01 tháng
4 năm 2022; phê duyệt Quy hoạch tỉnh Rịa ng Tàu thời k2021 - 2030,
tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định
số 1629/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê
duyệt điều chỉnh “Quy hoạch tỉnh Rịa Vũng Tàu thời k2021 - 2030, tầm
nhìn đến năm 2050" tại Quyết định số 1680/QĐ-UBND ngày 12 tháng 6 năm
2025 thì vị trí đất thuộc quy hoạch đất rừng phòng hộ (RPH) và đất sông (SON).
Đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại Bản án hành chính thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 06/02/2026 của
Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vi H.
- Hủy Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ ngày 27/10/2025 của Chủ tịch UBND
phường P, thành phố Hồ Chí Minh.
- Buộc Chủ tịch UBND phường P, thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
nhiệm vụ, công vụ nhận lại hồ giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Ngô Vi H đối với diện tích đất đang sử dụng thuc mt phn
các thửa đất s 07+12+14, tờ bản đồ số 95 ti phưng P, TP H Chí Minh. Din
tích đất c th do quan thẩm quyền xác định khi cp Giy chng nhn
quyn s dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã thực hiện xong.
3. Án phí hành chính sơ thẩm: Chủ tịch UBND phường P, thành phố Hồ
Chí Minh phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Trả lại cho ông Ngô Vi H số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) đã nộp theo biên lai số 0037368 ngày 12/11/2025 của Thi hành án dân sự
thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị thi hành
án.
Ngày 25/02/2026, Chủ tịch UBND phường P kháng cáo cho rằng diện tích
đất ông H xin cấp Giấy chứng nhận nằm trong phần đất mà UBND Thành phố V
được giao theo Quyết định 6271/QĐ.UB ngày 05/8/2022 của UBND tỉnh B.
Đến ngày 31/12/2019 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3693/QĐ
UBND xác lập khu đất trên đất công, nên không thể cấp Giấy chứng nhận
theo hồ của ông H. Đề nghị sửa Bản án thẩm, bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của ông Ngô Vi H.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện,
người kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
4
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người bị kiện cho rằng: Mặt
dù đất này gia đình ông H canh tác sử dụng từ năm 1988 đến nay, nhưng UBND
tỉnh B đã giao cho UBND Thành phố V, tiếp đó UBND Thành phố V đã xác lập
đất công nên UBND phường không có cơ sở để cấp Giấy chứng nhận cho ông H
là đúng. Đề nghị Tòa bác yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vi H.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý
kiến:
+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư các đương sự chấp
hành đúng quy định pháp luật Tố tụng Hành chính 2015; đơn kháng cáo của
người bị kiện làm trong hạn luật định là hợp lệ.
+ Về nội dung: Viện kiểm sát cho rằng nội dung đơn kháng cáo của Chủ
tịch UBND phường P không căn cứ, đất này gia đình ông H quản sử
dụng 1988 đến nay, đã nộp thuế và kê khai đăng ký với cơ quan Nhà nước trong
sổ mục từ năm 1993. Nhưng đến năm 2002, UBND tỉnh B lại ban hành
Quyết định 6271/QĐ.UB giao diện tích 1.672ha đất rừng đất lâm nghiệp
(nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp) cho UBND thành phố V để bo v, quản
s dng (trong diện tích 1.672ha có phần đất ông H xin cấp Giấy chứng nhận) là
không phù hợp. Việc giao đất như trên nhưng không thực hiện thủ tục thu hồi
đất do người dân quản lý sử dụng, đã khai đăng trái Điều 21 Luật Đất
đai 1993, dẫn đến các Quyết định số 3693/QĐ UBND giao các khu đất trên
cho Phường 12 quản lý (theo phụ lục 5) bất cập. Nên ngày 29/8/2025, UBND
phường P các Báo cáo số 101/BC UBND gửi Sở Xây dựng UBND
Thành phố H kiến nghị hủy bỏ Quyết định 6271/QĐ.UB ngày 05/8/2002 của
UBND tỉnh B để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đất đai theo qui định.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng o của người
bị kiện, giữ nguyên Bản án thẩm. Người kháng cáo phải chịu án phí phúc
thẩm. Do án thẩm tuyên “buộc Chủ tịch UBND phường P, thành phố Hồ Chí
Minh thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhận lại hồ giải quyết cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Vi H đối với diện tích đất đang sử dụng
thuc mt phần các thửa đt s 07+12+14, tờ bản đồ số 95 ti phưng P, TP H
Chí Minh. Diện tích đất c th do cơ quan thẩm quyền xác định khi cp Giy
chng nhn quyn s dụng đất theo quy định pháp luật” chưa đúng, cần điều
chỉnh phần quyết định tại nội dung này “buộc Chủ tịch UBND phường P,
thành phố Hồ CMinh thực hiện nhiệm vụ, công v nhận lại hồ giải
quyết cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông NVi H theo quy định
của pháp luật và nhận định trong bản án này”.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện
Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
[1]. Về xác định đối tượng khởi kiện, quan hệ pháp luật, thời hiệu khởi
kiện thẩm quyền giải quyết: Cấp thẩm xác định đối tượng khởi kiện, quan
hệ pháp luật, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đúng quy định tại
5
Điều 30, 31 và 116 Luật Tố tụng Hành chính 2015. Quá trình thu thập chứng cứ
các thủ tục tố tụng khác, Tòa án cấp thẩm thực hiện đầy đủ thủ tục, đúng
trình tự thẩm quyền; các đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo
luật định.
[2]. Về kháng cáo: Ngày 06/02/2026, Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm tuyên án cùng ngày, vắng mặt Chủ tịch
UBND phường P. Ngày 16/02/2026, Chủ tịch UBND phường P nhận được Bản
án hành chính thẩm số 06/2026/HC-ST ngày 06/02/2026. Ngày 25/02/2026,
người bị kiện nộp đơn kháng cáo trực tiếp tại Tòa (dấu công văn đến). Vậy đơn
kháng cáo của Chủ tịch UBND phường P làm trong hạn 15 ngày hợp lệ, nên
được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[3]. Về xét xử vắng mặt: Chủ tịch UBND phường P đơn xin xét xử
vắng mặt. Căn cứ khoản 4 Điều 225 Luật Tố tụng Hành chính 2015, Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người kháng cáo là đúng pháp luật.
Về nội dung kháng cáo:
[4] Về do từ chối cấp giấy chứng nhận do đất bị quản theo Quyết
định số 6271/QĐ.UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B
Điều 1 Quyết định số 6271/QĐ.UB như sau: Nay giao rừng đất lâm
nghiệp nằm ngoài quy hoạch phát triển lâm nghiệp đã xác định mốc giới cho
UBND Thành phố V để quản lý, bảo vệ sử dụng theo kế hoạch sử dụng đất
hàng năm được phê duyệt với diện tích như sau:
Tổng diện tích: 1.672ha
Phường 1: 139ha
….…..
Phường 11: 650ha
….
Điều 2: Sở N Chi cục Kiểm lâm trách nhiệm bàn giao toàn bhồ
sơ, tài liệu, ranh giới cọc mốc rừng liên quan đến việc quản 1.885ha đưa
ra ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho UBND Thành phố V theo quy định.
Một trong các căn cứ ban hành quyết định số 6271/QĐ.UB quyết định
số 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng chính phủ về Thực hiện
trách nhiệm quản nhà nước của các cấp về rừng đất lâm nghiệp, Điều 4
quyết định số 245/1998/QĐ-TTg quy định “Sở Nông nghiệp Phát triển
nông thôn quan giúp Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản
Nhà nước về quản lý rừng, sử dụng rừng phát triển rừng trên địa bàn tỉnh.;
Chi cục Kiểm lâm quan thực hiện trách nhiệm kiểm tra giám sát việc thi
hành pháp luật về quản bảo vệ phát triển rừng trên địa bàn tỉnh. Trong
trường hợp đặc biệt, tổ chức phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an trên địa
bàn để tuần tra truy quét bọn lâm tặc bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng”.
Như vậy, theo Điều 1 Luật Đất đai 1993, Khoản 2 Điều 4 Quyết định số
245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng chính phủ, thì Quyết định
6271/QĐ.UB quyết định phân cấp thẩm quyền quản Nhà nước vđất đai.
Đây không phải quyết định giao đất cho người sử dụng đất, cũng không phải
6
quyết định được ban hành trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà
nước. Việc xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất thuộc phạm vi
quyết định 6271/QĐ.UB (nếu có) căn cứ vào quy định pháp luật về đất đai,
không ảnh hưởng đến quyền nghĩa vụ của UBND tỉnh B (nay UBND
Thành phố H). Người bị kiện căn cứ quyết định số 6271/QĐ.UB để cho rằng đất
đã được giao quản lý theo Điều 7 Luật Đất đai 2024 là chưa chính xác.
[5] Về do từ chối cấp giấy chứng nhận do đất công theo Quyết định
số 3693/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND thành phố V
Theo quyết định số 6271/QĐ.UB ngày 05/8/2002 của UBND tỉnh B về
việc giao đất rừng đất lâm nghiệp nằm ngoài quy hoạch lâm nghiệp cho
UBND thành phố V quản lý, bảo vệ và sử dụng, thì phần đất tại Phường A thuộc
qũy đất này có diện tích là 650ha ( phường A sau này được tách thành phường A
phường A). Tại thời điểm ban hành quyết định 6271/QĐ.UB chưa xác định
được ranh giới đất thuộc phạm vi quyết định số 6271/QĐ.UB.
Tại phiên tòa phúc thẩm, UBND phường P cho rằng quỹ đất tại quyết
định 6271/QĐ.UB được giao một phần cho một số dự án, phần còn lại đều xác
lập đất công. Phần đất của ông Ngô Vi H đã được UBND Thành phố V thực
hiện khai quản đất công tại quyết định số 3693/QĐ-UBND ngày
31/12/2019. UBND Thành phố V không bản đồ thể hiện đất công theo quyết
định số 3693/QĐ-UBND.
Xét thấy: Danh mục đất công kèm theo quyết định số 3693/QĐ-UBND
ngày 31/12/2019 ( phụ lục 5) có ghi diện tích đất công thuộc quỹ “đất nằm ngoài
quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng” tại Phường A là 25.000m
2
, tại Phường A
2.137.000m
2
(tổng cộng 2.161.000m
2
= 216,1ha), ngoài ra không ghi chú bất
kỳ thông tin nào khác, như các thửa đất công khác cùng danh mục, như: địa
điểm đất, tờ bản đồ, quy hoạch sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, kiến nghị và
đề xuất sử dụng. Phường 12 được tách từ Phường A, thời điểm quyết định
6271/QĐ.UB t toàn Phường 11 diện tích 650ha thuộc quyết định
6271/QĐ.UB, nhưng theo quyết định số 3693/QĐ-UBND tđất công tại cả hai
Phường A Phường A 216,1ha < 650ha ban đầu. UBND thành phố V
không bản đồ thể hiện đất công theo quyết định số 3693/QĐ-UBND, đồng
thời do thông tin về đất công (có nguồn gốc đất thuộc quyết định 6271/QĐ.UB)
tại mục lục 5 không xác định cụ thể thửa đất, tờ bản đồ, nên chưa đủ sở xác
định rằng phần đất 26.901,3m² của ông Ngô Vi H đã được quản theo diện đất
công tại quyết định số 3693/QĐ-UBND. Mặt khác, tại điều 4 quyết định số
3693/QĐ-UBND quy định trách nhiệm của UBND cấp huyện trong việc quản lý
đất công, thì UBND cấp huyện các trách nhiệm như (1) xác định ranh giới
các khu đất đang quản lý; (2) hàng năm phải ban hành kế hoạch thanh tra, kiểm
tra toàn diện việc quản lý, sử dụng đất công trên địa bàn, lập hồ vi phạm; (3)
báo cáo tình hình quản sử dụng đất công về Sở T1 định kỳ vào ngày 05
tháng 12 hàng năm. UBND phường P cho rằng phần đất của ông H đã được
quản đất công tại quyết định số 3693/QĐ-UBND nhưng từ khi quyết định
năm 2019 đến nay, Ủy ban chưa cung cấp được tài liệu thể hiện trách nhiệm
quản đất công như quyết định số 3693/QĐ-UBND đã ghi. Với các chứng cứ
7
trong hồ sơ, chưa đsở để cho rằng phần đất 26.901,3m² đất công theo
quyết định số 3693/QĐ-UBND năm 2019.
[6] Về lý do từ chối do đất thuộc quy hoạch rừng phòng hộ
Theo các tài liệu do người bị kiện cung cấp, vị trí đất hiện thuộc quy
hoạch đất rừng phòng hộ theo quy hoạch đã được quan thẩm quyền phê
duyệt. Theo Khoản 4 Điều 76 Luật Đất đai năm 2024 quy định trường hợp quy
hoạch sử dụng đất đã được công bố nhưng chưa kế hoạch sử dụng đất hằng
năm đối với diện tích đất thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng thực
hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định. Hồ vụ án không thể
hiện tại thời điểm giải quyết hồ của ông H đã kế hoạch sử dụng đất hằng
năm xác định cụ thể diện tích 26.901,3m² phải thu hồi hoặc chuyển mục đích để
thực hiện dự án. vậy, việc diện tích đất đang nằm trong quy hoạch đất rừng
phòng hộ, chưa phải căn cứ đầy đủ đban hành thông báo từ chối toàn bộ
việc đăng ký và xem xét cấp Giấy chứng nhận cho ông H.
[7] Về căn cứ pháp lý ban hành Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ
Ngày 27/10/2025, Chủ tịch UBND phường P ban hành Thông báo số
364/TB-ĐKĐĐ xác định diện tích đất nêu trên không đủ điều kiện đăng đất
đai và không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo khoản 1
Điều 132 và điểm b khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024.
UBND phường P xác nhận nguồn gốc quá trình sử dụng đất do ông H
tại Văn bản số 2389/UBND-KTHTĐT ngày 04/12/2025 đã ghi nhận các tài liệu
địa chính qua các thời kghi tên ông Ngô Vi H. Do đó, UBND phường P áp
dụng khoản 1 Điều 132 Luật Đất đai năm 2024 để xử lý là không phù hợp.
Khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 xử trong trường hợp Người
sử dụng đất yêu cầu cấp giấy chứng nhận đối với đất đang được giao quản lý.
Ông Ngô Vi H không phải người được giao để quản thuộc các trường hợp
quy định tại Điều 7 Luật Đất đai 2024 nên Chủ tịch UBND phường P áp dụng
điểm b khoản 1 Điều 151 Luật Đất đai năm 2024 để xử không phù hợp
pháp luật.
Do đó, UBND phường P ban hành Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ là không
đúng căn cứ pháp luật.
[8]. Về nguồn gốc đất, đăng ký kê khai, quản lý sử dụng:
Tài liệu trong hồ thể hiện ông Ngô Vi H nhận chuyển nhượng đất
của ông Võ Ngọc G bằng giấy viết tay ngày 24/7/1988 quản lý, sử dụng từ
thời điểm đó. Hồ sơ địa chính năm 1993 thể hiện các thửa đất số 05, 06, 07, tờ
bản đồ số 11 có ghi tên ông Ngô Vi H. Ông H chứng từ nộp tiền đo đạc năm
1994, chứng từ nộp thuế các khoản tiền liên quan đến việc sdụng đất trong
các năm 1998, 2008, 2020. UBND phường P xác nhận nguồn gốc và quá trình
sử dụng đất do ông H tại Văn bản số 2389/UBND-KTHTĐT ngày 04/12/2025
cũng ghi nhận các tài liệu địa chính qua các thời kỳ. Ngày 07/10/2025, UBND
phường P đã thực hiện công khai hđăng ký, cấp Giấy chứng nhận. Hết thời
gian công khai không có tranh chấp. Kết quả đo đạc ngày 26/9/2025 và biên bản
xem xét, thẩm định tại chỗ xác định ông H đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất
8
vào mục đích nuôi trồng thủy sản. Quyết định 6271/QĐ.UB ban hành năm 2002
nhưng không xác định được vị trí đất bị ảnh hưởng. Đến năm 2023 UBND
Thành phố V mới thực hiện việc cắm mốc. Như vậy, có đủ căn cứ xác định ông
Ngô Vi H đã sdụng đất thực tế từ năm 1988, mục đích nuôi trồng thủy sản,
không bị xử về hành vi lấn, chiếm, việc sử dụng quá trình liên tục, công
khai và hiện không có tranh chấp.
Quyết định 6271/QĐ.UB thể hiện “giao 1.672ha rừng đất lâm nghiệp
nằm ngoài quy hoạch phát triển lâm nghiệp”, căn cứ Điều 1, Điều 2 Luật Bảo v
và Phát triển Rừng năm 1991 thì chưa đủ cơ sở xác định trước khi có quyết định
6271/QĐ.UB phần đất này đất Rừng hay đất lâm nghiệp, đất có được giao
cho nhân, tổ chức nào hay chưa. Ông H cho rằng ông nhận chuyển nhượng
bằng giấy tay từ ông Trần Ngọc G1 vào năm 1988, đất do ông G1 khai hoang.
Mặc kết quả xác minh tại Hạt Kiểm lâm P thể hiện quá trình bàn giao hồ
giữa các thời kkhông tài liệu về việc đơn vị này quản các thửa đất đang
là đối tượng của vụ kiện. Nhưng UBND phường P chưa làm rõ về nguồn gốc đất
trước năm 1988, ông Giàu có hành vi lấn đất, chiếm đất có nguồn gốc nông, lâm
trường đã được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các đối tượng
qua các thời kỳ hay không, hay đất do ông G1 khai hoang có; Từ đó mới
thể áp dụng các điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất pháp luật
đất đai đã quy định cho phù hợp.
Mặt khác, theo thông tin hồ sơ địa chính qua các thời kỳ thì trong
26.901,3m² đều một phần là sông nhưng Ủy ban chưa làm phần diện tích
đất có nguồn gốc là sông để có hướng xử lý phù hợp.
Từ các nhận định trên, Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ của Chủ tịch UBND
phường P nội dung trả lời không đủ sở đcấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho ông Ngô Vi H không đúng, nên UBND phường P phải nhận lại
hồ sơ yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H giải quyết
theo quy định của pháp luật. Án sơ thẩm tuyên hủy thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ
của Chủ tịch UBND phường P là đúng nên cần giữ nguyên án sơ thẩm.
Yêu cầu buộc Chủ tịch UBND phường P, thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện nhiệm vụ, công vụ nhận lại hồ sơ và giải quyết cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông Ngô Vi H đối với diện tích đất đang sử dụng thuc mt
phần các thửa đất s 07+12+14, tờ bản đồ số 95 ti phường P, TP H Chí Minh
không phải đối tượng khi kin trong v án hành chính, đây hu qu pháp
lý khi tuyên hủy thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ. Do đó, cần điều chỉnh phần quyết
định tại nội dung này cho phù hợp với Đ b Khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng
Hành chính, “buộc Chủ tịch UBND phường P, thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện nhiệm vụ, ng vụ nhận lại hồ xem xét, giải quyết cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Vi H theo quy định của pháp luật phù
hợp với nhận định trong bản án này”.
Khi giải quyết lại hồ sơ, cơ quan thẩm quyền phải xác định cụ thể ranh
giới, nguồn gốc đất, từ đó xác định diện tích đủ điều kiện được công nhận; loại
đất; hạn mức giao đất nông nghiệp; phần diện tích vượt hạn mức nếu có; nghĩa
vụ tài chính; phần diện tích thực tế sông, đất do Nhà nước trực tiếp quản
9
hoặc thuộc trường hợp pháp luật không cho phép cấp Giấy chứng nhận nếu có,
trên cơ sở kết quả đo đạc, xác minh và các chứng cứ cụ thể.
[9] Về nội dung chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã thực
hiện xong, không kháng cáo nên có hiệu lực pháp luật.
[10] Kháng cáo của người bị kiện là không có cơ sở nên không chấp nhận.
[11] Nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với tài liệu
chứng cứ, phù hợp qui định pháp luật đã được Hội đồng xét xử phân tích, đánh
giá, nên được chấp nhận.
[12] Về án phí hành chính phúc thẩm:Do kháng o không được chấp
nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, Điều 242 Luật Tố tụng Hành chính 2015;
căn cứ khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Bác kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P;
Giữ nguyên Bản án hành chính thẩm số 06/2026/HC-ST ngày
06/02/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Ngô Vi H:
- Hủy Thông báo số 364/TB-ĐKĐĐ ngày 27/10/2025 của Chủ tịch Ủy ban
nhân dân phường P, thành phố Hồ Chí Minh.
- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, thành phố Hồ Chí Minh thực
hiện nhiệm vụ, ng vụ nhận lại hồ xem xét, giải quyết cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Ngô Vi H theo quy định của pháp luật phù
hợp với nhận định trong bản án này.
2. Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã thực hiện xong.
3. Án phí hành chính thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P,
Thành phố Hồ Chí Minh phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hành
chính sơ thẩm.
Hoàn trả cho ông Ngô Vi H số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm
ngàn đồng) đã nộp theo biên lai số 0037368 ngày 12/11/2025 của Thi hành án
dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
4.Án phí hành chính phúc thẩm
Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) án phí hành chính phúc thẩm. được khấu trừ 300.000đ (ba trăm ngàn
đồng) tiền tạm ứng án phí người kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0015854 ngày 13/3/2026 của Thi hành án dân sự Thành
phố Hồ Chí Minh.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
10
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân TP.HCM;
- Tòa án nhân dân Khu vực 11, TP.HCM;
- Thi hành án dân sự TP.HCM;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án.



Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 53/2026/HC-PT Bản án số 53/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 53/2026/HC-PT Bản án số 53/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất