Bản án số 123/2026/HS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 123/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 123/2026/HS-PT ngày 02/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 123/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 02/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk về việc tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2026/HS-ST ngày 25/02/2006 của Tòa án nhân dân khu vực 11- tỉnh Đắk Lắk về mức hình phạt của bị cáo Trần Thị Tuyết K.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 123/2026/HS-PT
Ngày: 02 - 6 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Trương Công Bình và bà Đặng Thị Thu Hằng
Thư phiên tòa: Đinh Thị Tân Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Biện Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 06 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 82/2025/TLPT-HS ngày 07 tháng 4
năm 2026, đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K do có kháng nghị của bị cáo đối với Bản
án hình sự sơ thẩm s23/2026/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 11 - tỉnh Đắk Lắk.
* Bị cáo có kháng nghị:
Trần Thị Tuyết K, sinh năm 1985; Số căn cước công dân: ************,
cấp ngày 20/6/2024; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: khu phố C, phường T, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: không; Trình
độ học vấn: 11/12; con ông Trần Đình K1 (Đã chết) con Nguyễn Thị L, sinh
năm 1959; có chồng là (Đã ly hôn) và có 02 con, sinh năm 2005 và 2009.
- Tiền án:
+ Tại bản án hình sự số 85/2013/HS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2013 của Toà án nhân
dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt Trần ThTuyết K 09 năm tù, hình
phạt bổ sung 25.000.000 đồng, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b
khoản 2, khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999;
+ Tại bản án hình sự số 96/2013/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2013 của Toà án nhân
dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt Trần Thị Tuyết K 09 tháng về tội
“Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999;
Bị cáo Trần Thị Tuyết K đã chấp hành xong hình phạt từ ngày 27/8/2020, chưa
chấp hành hình phạt bổ sung 25.000.000 đồng và án phí.
- Nhân thân: Ngày 22/9/2025, bị Tòa án nhân dân khu vực 11, tỉnh Đắk Lăk xử
phạt 06 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ
luật Hình sự.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2025 tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh Đ,
có mặt.
2
Ngoài ra còn bị cáo Nguyễn Thị Kim A không kháng cáo không bị
kháng cáo, kháng nghị.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1994; ĐKTT: Khu phố P, phường Đ, tỉnh
Đắk Lắk, vắng mặt.
2. Ông Trần ng N, sinh năm 2003; Nơi cư trú: Thôn P, T, tỉnh Đắk Lắk,
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 gingày 12/8/2025, tại Căn hộ M Tòa nhà A Phú Yên, thuộc khu
phố T, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thị Kim A dùng tài khoản Zalo tên “Hí Lô
N1gọi qua tài khoản Zalo tên “Trần Kiều” của Trần Thị Tuyết K hỏi mua 01
hộp 10 ma túy đá với giá 4.800.000 đồng. K đồng ý bán hẹn Kim A đến Căn hộ
M Tòa nhà A Phú Yên nhận ma túy Kim A đồng ý, đi một mình vào Căn hộ M
gặp K, K giao cho Kim A 01 bì ma túy đá. Sau đó, Kim A đem bì ma túy đá về Căn
hộ M Tòa nhà A1, phân lẻ ra thành các nhỏ cất giấu trong i ch cầm tay.
Đến khoảng 12 giờ 20 phút ngày 13/8/2025, Kim A lấy trong túi xách 01 bì nhựa
trong suốt hàn kín chứa ma túy đá cầm trên tay trái đi xuống đến sảnh phía bắc
của Tòa nhà Apec Mandala P thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang khi Kim A đang
cầm trên tay trái 01 đoạn nhựa bên trong chứa ma túy. Kim A khai nhận, số ma
túy này là của Kim A mua, mục đích cất giấu để bán lại cho người khác kiếm lời. K
khai nguồn gốc số ma túy bán cho Kim A vào ngày 12/8/2025, K mua của một
người thanh niên (không xác định) tại Tòa nhà A Phú Yên với giá 4.800.000 đồng.
Kết quả điều tra xác định, trước đó Nguyễn Thị Kim A đã 02 lần bán ma y
cho người khác để kiếm lời, cụ thể:
Vào ngày 08/8/2025, Trần Công N đã dùng tài khoản messenger liên hệ với
Kim A hỏi mua ma túy đá với giá 500.000 đồng, Kim A đồng ý hẹn giao ma tuý
tại bãi đậu xe khu vực a nhà A Phú Yên, thuộc khu phố T, phường T, tỉnh Đắk
Lắk, N đã dùng tài khoản ngân hàng V1 số 0869459524 chuyển vào tài khoản ngân
hàng OBC số 0986046260 của Kim A 500.000 đồng trước khi nhận ma tuý do Kim
A giao.
Khoảng 20 giờ ngày 11/8/2025, Nguyễn Thành V sử dụng tài khoản Zalo liên
hệ với Kim A hỏi mua ma túy đá với giá 1.500.000 đồng, Kim A đồng ý và hẹn giao
ma tuý tại một quán ăn phường Đ, tỉnh Đắk Lắk (không c định), V đến điểm
hẹn nhận ma tuý, sau đó sử dụng tài khoản ngân hàng B2 số 1770404682 của V
chuyển vào tài khoản ngân hàng O số 0986046260 số tiền 1.500.000 đồng. Kim A
khai nguồn gốc số ma tuý bán cho N V do Kim A mua của Trần Thị Tuyết K
nhưng K không thừa nhận.
Khám xét khẩn cấp chỗ của Nguyễn Thị Kim A tại Căn hộ M Tòa nhà Apec
Mandala P, phát hiện 03 túi nilon trong suốt bên trong chưa chất tinh thể màu
trắng.
Kết luận giám định số 248/KL-KTHS ngày 22/8/2025 của Phòng K4 Công an tỉnh
Đ kết luận: Tinh thể màu trắng trong bì nhựa trong suốt hiệu A
1
ma túy,
khối lượng 0,173g loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong túi nilon trong
suốt hiệu A
2.1
ma túy, khối lượng 0,775g loại Methamphetamine; tinh thể
3
màu trắng trong túi nilon trong suốt hiệu A
2.2
ma túy, khối lượng 1,046g
loại Methamphetamine; tinh thể màu trắng trong túi nilon trong suốt hiệu A
3
ma túy, có khối lượng 2,456g loại Methamphetamine.
Tại Bản án s23/2026/HS-ST ngày 25/02/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 11 Đắk Lắk đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết K phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52
Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Tuyết K 04 (B) năm tù về tội “Mua bán
trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Điều 56 Bộ luật nh sự, tổng hợp hình phạt: 06
(S) tháng về tội Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự thẩm số
28/2025/HSST ngày 22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk. Buộc bị
cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án là: 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng
tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/8/2025.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị
cáo Trần Thị Thúy K2 10.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định vhình phạt đối với bị cáo Nguyễn
Thị Kim A, xử lý tang vật chứng của vụ án nhưng không bị kháng cáo, kháng nghị.
Ngày 25/3/2026, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk quyết định kháng
nghị phúc thẩm số:19/QĐ–VKS–P7 kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm số
23/2026/HSST ngày 25/02/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk tăng
hình phạt tù đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk giữ
nguyên quyết định kháng nghị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Tuyết K thừa nhận toàn bộ hành vi
phạm tội đúng như nội dung Bản án thẩm đã tuyên, lời khai của bị cáo phù hợp
với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm về việc giải
quyết vụ án như sau: Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo Trần Thị Tuyết K về tội
Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ,
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về mức hình phạt, Tòa án cấp thẩm tuyên
phạt bị cáo K 04 năm quá nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp
nhận quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, tăng mức
hình phạt tù đối với bị cáo; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51,
điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết K từ 05
năm đến 05 năm 06 tháng về tội “Mua n trái phép chất ma tuý” tổng hợp
hình phạt 06 tháng vtội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự thẩm số
28/2025/HSST ngày 22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk, phạt
tiền bị cáo Trần Thị Tuyết K 10.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Đồng thời, giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị.
Bị cáo K không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét v
mức hình phạt tù cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hsơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Tuyết K đã khai hành vi phạm tội
4
của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, xét xtại cấp
thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử
phúc thẩm xét thấy có đủ sở để khẳng định: Sau khi mua ma tuý của một người
đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch), đến ngày 12/8/2025 tại Căn hộ M Tòa nhà A
Phú Yên, thuộc Khu phố T, phường T, tỉnh Đắk Lắk, Trần Thị Tuyết K lại hành
vi bán trái phép 4,45 gam ma túy loại Methamphetamine cho Nguyễn Thị Kim A
với giá 4.800.000 đồng. Số ma túy trên K đem phân lẻ cất giấu mục đích để bán lại
kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Như vậy, Tòa án cấp thẩm xét xbị cáo K về tội Mua bán trái phép chất
ma túy quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự căn cứ, đúng pháp
luật.
[2]. Xét mức hình phạt đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K:
Qua nghiên cứu hvụ án, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy
tố xét xử tại cấp thẩm, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đắk Lắk tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
thì thấy bị cáo K đã thực hiện hành vi mua bán với khối lượng 4,45 gam ma túy loại
Methamphetamine, bị cáo nhân thân xấu đã từng bị kết án 09 năm tù cũng về tội
“Mua bán trái phép chất ma tuý” và các tội phạm khác chưa được xoá án tích nhưng
không chịu rèn luyện, cải tạo mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội là thuộc trường
hợp “tái phạmquy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự nên mức hình
phạt 04 năm tù đối với bị cáo K không nghiêm minh. Tuy nhiên, xét thấy ngoài
hình phạt chính tToà án cấp thẩm còn áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền
10.000.000 đồng còn tổng hợp với phần hình phạt của bản án khác, bị cáo là phụ
nữ, đã ly hôn chồng, 02 con khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội do bị
cáo thực hiện.
Do đó, không cần thiết phải tăng hình phạt tù đối với bị cáo K, giữ nguyên mức
hình phạt tù của Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên.
[3]. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể tngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đắk Lắk về việc tăng nh phạt tù đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K, giữ nguyên Bản
án hình sự thẩm số 23/2026/HS-ST ngày 25/02/2006 của Tòa án nhân dân khu
vực 11- tỉnh Đắk Lắk về mức hình phạt của bị cáo Trần Thị Tuyết K.
Tuyên xử:
[1]. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết K phạm tội Mua bán trái
phép chất ma túy”.
[2]. Về Điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52
Bộ luật Hình sự;
5
Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết K 04 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất
ma tuý”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 (S) tháng về tội
“Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự thẩm số 28/2025/HSST ngày
22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk, buộc bcáo Trần Thị Tuyết
K phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng
, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày
13/8/2025.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt
tiền bị cáo Trần Thị Tuyết K 10.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
[4]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Thị Tuyết K không phải chịu án
phí phúc thẩm.
[5]. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ Giám đốc, kiểm tra 1 - TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11 – Đắk Lắk;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ; lưu án văn.
TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
ã ký)
Y Phi Kbuôr
6
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 09 giờ 10 phút ngày 02 tháng 6 năm 2026;
Tại: Phòng nghị án - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi K3
Các Thẩm phán: Ông Trương Công B1 và bà Đặng Thị Thu H
Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 82/2025/TLPT-HS ngày
07 tháng 4 năm 2026, đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K do kháng nghị của bị cáo
đối với Bản án hình sự thẩm số 23/2026/HS-ST ngày 25 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - tỉnh Đắk Lắk.
Bị cáo Trần Thị Tuyết K, sinh năm 1985; Nơi trú: khu phố C, phường T,
tỉnh Đắk Lắk bị Tòa án nhân dân khu vực 11- Đắk Lắk xét xử về tội tội Mua bán
trái phép chất ma tuýtheo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt 04
(B) năm tù
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng
tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về điều luật áp dụng:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Không chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Đắk Lắk về việc tăng hình phạt tù đối với bị cáo Trần Thị Tuyết K, giữ nguyên Bản
7
án hình sự thẩm số 23/2026/HS-ST ngày 25/02/2006 của Tòa án nhân dân khu
vực 11- tỉnh Đắk Lắk về mức hình phạt của bị cáo Trần Thị Tuyết K.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đng .
2. Về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52
Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết K 04 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất
ma tuý”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 (S) tháng về tội
“Cố ý gây thương tích” tại Bản án hình sự thẩm số 28/2025/HSST ngày
22/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 Đắk Lắk, buộc bcáo Trần Thị Tuyết
K phải chấp hành hình phạt chung của 02 Bản án 04 (Bốn) năm 06 (Sáu) tháng
, thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày
13/8/2025.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đng .
3. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự, phạt tiền bị
cáo Trần Thị Tuyết K 10.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đng .
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo K không phải chịu án phí phúc thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đng .
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét đã hiệu lực pháp luật kể từ ngày
hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3 đng .
Biên bản lập xong hồi 09 giờ 20 phút cùng ngày. Đã đọc lại cho mọi người
cùng nghe nhất trí và ký tên.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trương Công B1 Đặng Thị Thu Hằng Y Phi K3
8
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 123/2026/HS-PT Bản án số 123/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất