Bản án số 35/2026/LĐ-PT ngày 22/07/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 35/2026/LĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 35/2026/LĐ-PT ngày 22/07/2026 của TAND TP. Hà Nội về tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương...
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hà Nội
Số hiệu: 35/2026/LĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2026
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp lao động
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 35/2026/LĐ-PT Bản án số 35/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/LĐ-PT Bản án số 35/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 35/2026/LĐ-PT
Ngày 22 tháng 7 năm 2026
V/v: T/c tiền lương và BHYT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Linh và ông Hoàng Chí Nguyện
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội
tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Huyền Trang - Kiểm sát viên
Ngày 22/7/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công
khai vụ án lao động thụ số 26/2025/LĐ-TLPT ngày 16/6/2026 về việc “Tranh chấp
Tiền lương bảo hiểm hội” do bản án lao động thẩm số 09/2026/LĐ-ST ngày
22/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử phúc thẩm số 542/2026/QĐ-PT ngày 01/7/2026 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 (Có mặt)
CCCD số: ************ cấp ngày 29/4/2021.
Địa chỉ: Số A P, phường H, thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Hoàng Ngọc H1 ông Bùi Tiến S -
Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư thành phố H (ông S có mặt)
Bị đơn: Công ty cổ phần V (trước đây là Công ty cổ phần V)
Địa chỉ trụ sở: Số A đường L, phường V - Q, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Anh T - Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh H2 - Trưởng phòng Tổ chức cán bộ
(CCCD: ************ cấp ngày 24/4/2021) Hoàng Thị T1 - nhân viên Phòng Tổ
chức cán bộ (CCCD: ************ cấp ngày 10/7/2021) (Có mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố H
Trụ sở: Số A phố C, phường H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc H3 - Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Đức T2 - Phó Giám đốc (Vắng mặt)
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
ông Nguyễn Văn H trình bày:
Ông Nguyễn Văn H công tác tại Hạt vận chuyển H từ năm 1973. Đến tháng 10/1982,
ông được lãnh đạo ngành cử sang nước Đức đlao động. Ông công tác tại nước Đ đến
tháng 11/1988 thì vnước công tác tại quan được hưởng mức lương (mức
lương năm 1981).
Ngày 30/12/1998, ông làm Đơn xin nghtheo chế độ. Ngày 25/01/1999, Hạt trưởng
Hạt vận chuyển H5 đã ban hành Quyết định số 02/TCLĐ với nội dung đồng ý cho ông
Nguyễn Văn H được nghỉ chế độ thôi việc kể từ ngày ký.
Về việc giải quyết chế độ thôi việc: Theo văn bản số 198/CV, với thời gian công tác
9 năm 7 tháng (từ 7/1989 đến tháng 01/1999) = 1.684.800 đồng. Do btính sai về thời
gian công tác, nên chưa xét duyệt cho ông được hưởng chế độ nghỉ hưu, vì thế ông không
đồng ý nhận chế độ thôi việc. Năm 2014, ông đã cung cấp được Giấy xác nhận thời gian
từ tháng 10/1973 cho đến tháng 7/1989.
Đến ngày 20/01/2017, Bộ L1 đã có Văn bản số 243/LĐTBXH-BHXH giải quyết chế
độ nghỉ hưu cho ông từ tháng 01/2017 theo Quyết định số 20001706767/QĐ-BHXH ngày
07/7/2017 về việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng của ông 2.246.244 đồng (tính mức
bình quân của 60 tháng tiền lương: 3.455.760 đồng).
Công ty cổ phần V không giải quyết đúng chế độ cho ông, cụ thể: Thời gian từ tháng
02/1999 đến tháng 12/2016: Ông H không được hưởng lương hưu, cũng không nhận được
bất kỳ chế độ, chính sách nào.
Do quyền lợi ích hợp pháp của mình chưa được bảo vệ, ông H đã gửi đơn đến
Công ty cổ phần V, yêu cầu căn cứ quy định tại Điều 59 và Điều 116 Luật Bảo hiểm
hội năm 2014, tính chi trả đúng tiền lương hưu cho ông. Cán bộ công ty cũng hứa hẹn
sẽ tham mưu văn bản báo cáo xin ý kiến chỉ đạo của Tổng Công ty Đ1 đgiải quyết
yêu cầu của ông. Nhưng từ đó đến nay, phía Công ty cổ phần V vẫn chưa giải quyết chế
độ gì cho ông. Bản thân ông hiện đã 70 tuổi, ông không biết phải chờ đợi đến khi nào mới
được nhận lại những quyền và lợi ích chính đáng của mình theo quy định của pháp luật.
Nay ông H khởi kiện đề nghị Tòa án:
- Buộc Công ty cổ phần V tính đúng, tính đủ thời gian công tác của ông bồi
thường bằng số tiền bảo hiểm hội chi trả cho mỗi tháng trong thời gian từ tháng
01/1999 đến tháng 12/2016 (17 năm 11 tháng). Cụ thể tổng số tiền là: 3.843.200 đồng
(mức lương hưu hiện tại) x 215 tháng = 826.288.000 đồng (tám trăm hai mươi sáu triệu
hai trăm tám mươi tám ngàn đồng),
- Buộc Công ty cổ phần V phải trả cho ông số tiền bảo hiểm y tế ông phải mua
trong 18 năm 600.000 đồng x 18 năm = 10.800.000 đồng (Mười triệu tám trăm ngàn
đồng).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:
3
Từ năm 2024, Công ty cổ phần V đã đổi tên thành Công ty cổ phần V.
Ngày 23/12/2025, Công ty cổ phần V nhận được Thông báo số 30/TBTL-TA ngày
01/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Nội đề nghị Công ty cho ý kiến đối với
yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955; địa chỉ: A P, phường H, thành
phố Hà Nội.
Trên cơ sở Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội, Công ty
cổ phần V có ý kiến như sau:
Về hồ sơ của ông Nguyễn Văn H:
Ông Nguyễn Văn H nguyên công nhân Hạt vận chuyển H nay Chi nhánh V1
thuộc Công ty cổ phần V, thời gian công tác trong ngành đường sắt là: 23 m 10
tháng, cụ thể:
Từ tháng 8/1974 đến tháng 9/1982: Làm công nhân gác ghi Hạt vận chuyển H thuộc
Xí nghiệp L2 khu vực 1 thuộc Tổng công ty Đ1.
Từ tháng 10/1982 đến tháng 11/1988: Được quan cử đi hợp tác lao động tại
CHDC Đ (có giấy xác nhận số 564/QLLĐNN - XN ngày 28/3/2013 của Cục Q - Bộ L1)
Từ tháng 12/1988 đến tháng 6/1989: Hoàn thành nhiệm vụ về nước nghnhà chờ
phân công công tác.
Từ tháng 7/1989: nghiệp L2 khu vực I tiếp nhận lại làm việc tại Hạt vận chuyển
H.
Ngày 30/12/1998 ông H viết đơn nghỉ chế độ. Căn cứ đơn xin nghỉ chế độ của ông H
hồ nhân của ông H (Thời điểm đó do không hồ sơ chứng minh thời gian công
tác từ 8/1974 đến tháng 11/1988 - thời điểm ông H bắt đầu vào làm việc tại ngành đường
sắt và thời gian đi lao động tại CHDC Đ) Hạt vận chuyển H5 đã ban hành Quyết định giải
quyết cho ông H nghỉ thôi việc hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với giai đoạn từ tháng
7/1989 đến tháng 1/1999 (từ khi tiếp nhận ông H lại làm việc đến khi xin nghỉ chế độ),
thời điểm Hạt vận chuyến H ban hành quyết định cho ông H nghỉ thôi việc hưởng chế độ
trợ cấp 1 lần, ông H có tuổi đời là 43 tuổi 6 tháng chưa đủ tuổi nghỉ hưởng chế độ hưu trí.
Căn cứ Quyết định của Hạt vận chuyển H5, Bảo hiểm hội thành phố H đã ra số
1810/QĐ ngày 25/9/1999 về việc hưởng trợ cấp 1 lần đối với ông H nhưng ông H không
nhận tiền trợ cấp. Do không nhận tiền trợ cấp nên suốt thời gian từ năm 1999 đến năm
2016 ông H vẫn chưa được hưởng chế độ đối với quãng thời gian 23 năm 10 tháng
công tác trong ngành đường sắt.
Quá trình giải quyết đơn của ông H:
Năm 2016, sau khi nhận được đơn của ông H cùng các hồ sơ tài liệu ông H cung cấp
(ngoài hồ công c ông H cung cấp thêm Giấy xác nhận số 564/QLLĐNN - XN ngày
28/3/2013 của Cục Q - Bộ L1), Công ty cphần V đã văn bản s143/VTHN - TCCB
ngày 29/02/2016 gửi Bảo hiểm hội thành phố H đnghị xem xét giải quyết chế độ đối
với ông Nguyễn Văn H.
4
Ngày 02/6/2016, Bộ L1 văn bản số 2007/LĐTBXH - BHXH gửi Công ty cổ phần
V yêu cầu công ty H6 hồ sơ báo cáo Tổng công ty Đ1 xem xét kết luận và gửi Bộ L1.
Ngày 17/8/2016, Công ty cổ phần V có văn bản số 1992/VTHN-NS gửi Ban Tổ chức
cán bộ - Tổng công ty Đ1 báo việc giải quyết chế độ của ông H.
Ngày 20/9/2016, Tổng công ty Đ1 văn bản số 2852/DS-TCCB yêu cầu Công ty
cổ phần V cam kết ông H chưa nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp 1 lần. Ngày 21/11/2016,
Công ty cổ phần V đã văn bản số 3012/VTHN - NS xác nhận hồ của ông Nguyễn
Văn H gửi Tổng công ty Đ1.
Ngày 29/11/2016, Tổng công ty Đ1 văn bản số 3688/ĐS-TCCB gửi Bộ L1 về
việc giải quyết chế độ bảo hiểm đối với ông Nguyễn Văn H.
Ngày 20/01/2017, Bộ L1 có văn bản số 243/LĐTBXH - BHXH gửi Tổng công ty Đ1
về việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đối với ông Nguyễn Văn H.
Thực hiện n bản số 243/LĐTBXH-BHXH ngày 20/1/2017 của Bộ L1, Công ty cổ
phần V đã văn bản số 284/VTHN - NS ngày 09/02/2017 yêu cầu Chi nhánh V1 thực
hiện các nội dung để giải quyết chế độ cho người lao động.
Ngày 30/6/2017, Chi nhánh V1 đã bàn giao sổ BHXH bản gốc của ông Nguyễn Văn
H để ông H làm các thủ tục hưu trí theo quy định.
Sau khi làm các thủ tục hưởng chế độ hưu trí, tháng 6/2018, ông Nguyễn Văn H tiếp
tục làm đơn gửi ng ty cổ phần V đòi bồi thường thiệt hại về Bảo hiểm xã hội, quyền lợi
hưu trí. Sau khi xem xét đơn của ông H, ng ty cổ phần V đã có văn bản số 1627/VTHN
- NS ngày 04/7/2018 trả lời ông H việc bồi thường thiệt hại về BHXH, quyền lợi hưu trí
không thuộc thẩm quyền giải quyết của Công ty.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố H trình bày:
Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955, căn cước công dân số: ************, số
BHXH: 0116202070. Ông H hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo Quyết định s
20001706767/-BHXH ngày 07/07/2017 của Giám đốc BHXH thành phố H, cụ thể:
- Hưởng chế độ hưu trí từ ngày: 01/01/2017, Mức bình quân tiền lương làm căn cứ
tính lương hưu là 3.455.760 đồng;
- Tỉ lệ hưởng là 65%;
- Mức lương hưu hiện hưởng là: 3.843.200 đồng/tháng. (Gửi kèm hồ hưởng chế
độ hưu trí hàng tháng của ông H).
Ý kiến của Bảo hiểm hội thành phố H: Ông Nguyễn Văn H, sinh ngày
09/07/1955, người lao động bảo lưu thời gian đóng BHXH, ngày 03/07/2016 ông H
đơn đề nghị hưởng chế độ hưu trí từ ngày 01/01/2017 (mẫu s14HSB). Căn cứ khoản 3
Điều 59 Luật Bảo hiểm hội số 58/2014/QH13: “Người đang bảo lưu thời gian đóng
BHXH, thời điểm hưởng lương hưu thời điểm ghi trong văn bản đề nghị của người lao
động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định” và hồ sơ đề nghị hưởng BHXH của
ông Nguyễn Văn H, ngày 07/07/2017 BHXH thành phố H đã ban hành Quyết định số
20001706767/-BHXH giải quyết hưởng chế độ hưu trí đối với ông H từ ngày
5
01/01/2017. Hồ việc giải quyết chế đhưu trí hàng tháng đối với ông Nguyễn Văn
H đã được thực hiện đúng quy định pháp luật.
Do bận công tác chuyên môn, không sắp xếp được lịch dự phiên tòa, Bảo hiểm
hội thành phố H đề nghị được vắng mặt trong các phiên tòa đề nghị Tòa án giải quyết
vụ việc theo quy định của pháp luật.
Tại bản án lao động thẩm số 09/2026/LĐ-ST ngày 22/4/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Hà Nội đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.
2. Buộc Công ty cổ phần V bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn H do chậm
giải quyết hưởng chế độ hưu trí, với số tiền là 38.186.148 đồng.
3.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về bồi thường tiền
bảo hiểm y tế. Buộc Công ty cổ phần V thanh toán cho ông Nguyễn Văn H khoản tiền bảo
hiểm y tế ông đã tự chi trả trong thời gian từ tháng 8 năm 2015 đến hết tháng 12 năm
2016 với số tiền 600.000 đồng
4. Không chấp nhận các phần yêu cầu khởi kiện còn lại của ông Nguyễn Văn H4.
Ngoài ra bản án còn tuyên về thi hành án, án phí thẩm quyền kháng cáo của
các đương sự.
Không đồng ý với bản án thẩm, ông Nguyễn Văn H đơn kháng cáo toàn bộ
bản án thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án theo tnh tự phúc thẩm
để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ginguyên yêu
cầu kháng cáo đề nghị Công ty cổ phần V phải thanh toán cho ông thời gian tính từ
tháng 7 năm 2010 đến tháng 12 năm 2016 với mức lương là 3.843.200 đồng/tháng.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông H đề nghị Hội đồng xét xử buộc
Công ty cổ phần V phải bồi thường stiền tổng 295.926.400 đồng số tiền ông H phải
tự mua bảo hiểm y tế là 10.800.000 đồng.
Ngượi đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét
không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nội phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành thụ lý và giải quyết
vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
việc chấp hành pháp luật của Nguyên đơn, Bị đơn: Thực hiện đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề
nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn
Văn H liên quan đến tiền bồi thường tiền bảo hiểm y tế 02 năm, các nội dung khác giữ
6
nguyên theo bản án lao động sơ thẩm số 09/2026/LĐ-ST ngày 22/4/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 2 - Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu do các bên đương sự cung cấp và Tòa án thu thập
được trong quá trình tiến hành tố tụng, sau khi đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa;
căn cứ vào kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn H nộp trong thời hạn luật định; người kháng
cáo thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên kháng cáo
hợp lệ, được chấp nhận.
Về thẩm quyền: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội thụ giải quyết vụ án
đúng thẩm quyền.
Về nội dung:
[1]. Đối với yêu cầu Công ty cổ phần V tính đúng, tính đủ thời gian Công tác của
ông bồi thường bằng số tiền Bảo hiểm hội chi trả cho mỗi tháng trong thời gian
từ tháng 01/1999 đến tháng 12/2016 (17 năm 11 tháng). Cụ thể tổng số tiền là: 3.843.200
đồng (mức lương hưu hiện tại) x 215 tháng = 826.288.000 đồng.
Nhận thấy:
+ Từ tháng 8/1974 đến tháng 9/1982: Làm công nhân gác ghi Hạt vận chuyển H
thuộc nghiệp L2 khu vực 1 thuộc Tổng công ty Đ1.
+ Từ tháng 10/1982 đến tháng 11/1988: Được quan cử đi hợp tác lao động tại
CHDC Đ (có giấy xác nhận số 564/QLLĐNN - XN ngày 28/3/2013 của Cục Q - Bộ L1)
+ Từ tháng 12/1988 đến tháng 6/1989: Hoàn thành nhiệm vụ về nước nghỉ ở nhà chờ
phân công công tác.
+ Từ tháng 7/1989: Xí nghiệp L2 khu vực I tiếp nhận lại làm việc tại Hạt vận chuyển
H với công việc là gác ghi
Năm 1996 ông Nguyễn Văn H có đơn trình bày xin nghỉ làm không hưởng lương.
Ngày 30/12/1998 ông Nguyễn Văn H gửi đơn xin nghỉ chế độ.
Ngày 25/01/1999 Hạt trưởng hạt vận chuyển H5 đồng ý cho ông H được nghỉ chế độ
thôi việc một lần.
Ngày 29/05/1999 Bảo hiểm hội thành phố H ban hành Quyết định số 1810/QĐ
ngày 29/05/999 về việc hưởng trợ cấp một lần đối với ông H.
Ngày 16/11/2002 hạt vận chuyển H5 thông báo cho ông H được biết đến đơn vị
giải quyết chế độ.
Thời điểm Hạt vận chuyển H5 đã ban nh Quyết định cho ông H nghỉ thôi việc
hưởng chế độ trcấp 1 lần. Căn cứ Quyết định của Hạt vận chuyển H5, Bảo hiểm hội
thành phố H đã ra số 1810/QĐ ngày 25/9/1999 về việc hưởng trợ cấp 1 lần, khi đó ông H
tuổi đời là 43 tuổi 6 tháng chưa đủ tuổi nghỉ hưởng chế độ hưu trí. Do không nhận tiền
7
trợ cấp nên suốt thời gian từ tháng 10/1973 đến năm 1999 ông H vẫn chưa được hưởng
chế độ gì đối với quãng thời gian 23 năm 10 tháng công tác trong ngành đường sắt.
Năm 2016 ông Nguyễn Văn H đơn và cung cấp hồ sơ tài liệu, ng ty cổ phần V
gửi Bảo hiểm xã hội thành phố xem xét.
Ngày 30/6/2017 ông Nguyễn Văn H được nhận sổ bảo hiểm hội làm thủ tục
hưu trí. Nvậy tính từ ngày 25/01/1999 Hạt trưởng hạt vận chuyển T3 đồng ý cho
ông H được nghỉ chế độ thôi việc một lần, thời điểm y ông H thời gian công tác
25 năm có tuổi đời là 43 tuổi 6 tháng.
Hội đồng xét xử nhận thấy theo quy định của luật bảo hiểm hội năm 2006; Nghị
định số 12/CP ngày 26/01/1995 về việc ban hành điều lệ bảo hiểm xã hội của Chính phủ
thì điều kiện được hưởng lương hưu, người lao động phải đáp ứng đủ điều kiện sau: “Thứ
nhất: thời gian công tác, đóng bảo hiểm hội theo quy định; Thứ hai: Đủ tuổi nghỉ
hưu theo quy định của pháp luật tại thời điểm giải quyết.
Như vậy đối với trường hợp của ông Nguyễn Văn H được nghỉ thôi việc thì thời
gian công tác tham gia đóng bảo hiểm xã hội đã đủ nhưng chưa đủ tuổi nghỉ hưởng chế độ
hưu trí. Việc quan Bảo hiểm hội thành phố H đã ban hành Quyết định số 1810/QĐ
ngày 25/9/1999 vviệc hưởng trợ cấp 1 lần đối với ông H phù hợp với quy định của
pháp luật. Nhưng thực tế ông H không nhận khoản tiền trợ cấp nên đến tháng 8 năm 2015
thì ông H đủ tuổi được hưởng chế độ hưu trí, vì quá trình tìm hồ sơ lưu trữ và tài liệu ông
H cung cấp nên quan Bảo hiểm hội thành phố H đã thực hiện việc ban hành Quyết
định về việc hưởng chế độ hưu trí hàng tháng cho ông H từ ngày 01/01/2017 với mức
lương là 2.246.244 đồng.
Đối với khoảng thời gian tính từ tháng 8/2015 đến hết tháng 12/ 2016 ông H chưa
được hưởng chế độ hưu trí là do trách nhiệm của Công ty cổ phần V phải chi trả, Bản án
thẩm đã tuyên có căn cứ đã đảm bảo quyền lợi cho ông H phù hợp với quy định
của pháp luật. Yêu cầu kháng cáo của ông H không có căn cứ chấp nhận.
[2]. Đối với yêu cầu Công ty cổ phần V phải trả cho ông số tiền bảo hiểm y tế
ông phải mua trong 18 năm là 600.000 đồng x 18 năm = 10.800.000 đồng (Mười triệu tám
trăm ngàn đồng).
Hội đồng xét xử nhận thấy như đã phân tích trên, căn cứ theo quy định của pháp
luật thì người được hưởng lương hưu thuộc đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế do quỹ
bảo hiểm hội chi trả, đối chiếu quy định của pháp luật thì trường hợp của ông H được
hưởng chế độ bảo hiểm từ tháng 8/2015 đến tháng 12 năm 2016, được làm tròn 2 năm
cụ thể mỗi năm 600.000 đồng. Bản án thẩm đã chấp nhận một phần yêu cầu của ông
đối với số tiền bảo hiểm y tế của ông có căn cứ. Tuy nhiên do cách tính chưa đúng nên
Hội đồng xét xử sửa lại làm tròn hai năm ông H đã bỏ tiền mua bảo hiểm y tế là 1.200.000
đồng.
Đối với yêu cầu của ông H về tiền bảo hiểm y tế trước năm 2015 không có căn cứ
chấp nhận.
8
Quan điểm của đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố phù hợp với nhận định của
Hội đồng xét xử.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không sở để chấp
nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn H, sửa Bản ánthẩm về cách tính tiền bảo hiểm y
tế.
[3]. Về án phí: Ông Nguyễn Văn H không phải chịu án phí kinh doanh thương mại
phúc thẩm.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hộ quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H. Sửa Bản án lao động
sơ thẩm số 09/2026/LĐ-ST ngày 24/4/2026 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hà Nội.
1. Buộc Công ty cổ phần V bồi thường thiệt hại cho ông Nguyễn Văn H do chậm
giải quyết chế độ hưu trí với số tiền 38.186.148 đồng và khoản tiền bảo hiểm y tế mà ông
H đã tự chi trả năm 2015 năm 2016 với số tiền 1.200.000 đồng. Tổng cộng
39.386.148 đồng.
2. Về án phí sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn H không phải nộp án phí lao động sơ thẩm.
Công ty cổ phần V phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 1.181.584 đồng.
3. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H không phải nộp án phí lao động phúc
thẩm.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành xong tất cả các khoản tiền, ng tháng n phải thi hành án còn tiếp tục chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi nh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì
người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án
theo quy định tại các điều 6, 7 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 22/7/2026).
9
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP. Hà Nội;
- TAND khu vực 2 - Hà Nội;
- THADS TP. Hà Nội;
- Lưu: HS, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Mai
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 35/2026/LĐ-PT Bản án số 35/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 35/2026/LĐ-PT Bản án số 35/2026/LĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất