Bản án số 204/2026/DS-PT ngày 27/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 204/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 204/2026/DS-PT ngày 27/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 204/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản là quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy dăng ký biến động đất đai
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 204/2026/DS-PT Bản án số 204/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 204/2026/DS-PT Bản án số 204/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 204/2026/DS-PT
Ngày: 27 - 7 - 2026
V/v kiện đòi tài sản là quyền sử
dụng đất và yêu cầu hủy đăng ký
biến động đất đai
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hữu Hiệu
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Tuyến, bà Đoàn Thị Hương Nhu
- Thư phiên toà: Triệu Mùi Nái - Thư Tòa án nhân dân thành phố
Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20/7 27/7/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành ph
Hải Phòng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 82/2026/TLPT-DS
ngày 22 tháng 5 năm 2026 về kiện đòi tài sản quyền sử dụng đất yêu cầu
hủy đăng biến động đất đai; do Bản án dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày
20 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng bị kháng cáo;
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 158/2026/QĐ-PT ngày 15 tháng
6 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2026/QĐ-PT ngày 01 tháng 7 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị X, sinh năm 1978; số CCCD: ************;
địa chỉ: Số E, đường C, Khu phố D, phường T, thành phố Hồ Chí Minh; mặt
trong quá trình tranh tụng, vắng mặt khi tuyên án có lý do.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn
Quốc P - Văn phòng L4; địa chỉ: Số H L, khu phố B, phường T, thành phố Hồ Chí
Minh; có mặt trong quá trình tranh tụng, vắng mặt khi tuyên án có lý do.
2. Bị đơn:
- Đặng Thị T, sinh năm 1960; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
M, C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, ủy quyền cho anh Hoàng Văn D
tham gia tố tụng.
- Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1985; số CCCD: ************; địa chỉ:
Thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2
- Anh Hoàng Văn G, sinh năm 1991; số CCCD: ************; địa chỉ:
Thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Trần Quốc T1,
Thủy L - Văn phòng luật Trần Quốc T1; địa chỉ: Số B khu Đ, phường H,
thành phố Hà Nội; có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Cụ Đào Thị X1, sinh năm 1929; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
M, xã C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Ông Hoàng Văn M, sinh năm 1957; số CCCD: ************; địa chỉ:
Thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt
- Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1989; số CCCD: ************; địa chỉ: Thôn
M, xã C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị P1, sinh năm 1991; số CCCD: ************; địa chỉ:
Thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Cụ X1, ông M, bà T, chị L1, chị P1 ủy quyền cho anh Hoàng Văn D tham
gia tố tụng.
- Hoàng Thị L2, sinh năm 1955; nơi trú cuối cùng: Thôn M, C,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- UBND C, thành phố Hải Phòng; người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn
Mạnh D1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND C ông Bùi Văn N - Chức vụ:
Chuyên viên phòng Kinh tế UBND xã C; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- UBND M, thành phố Hải Phòng; người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn
Khắc N1 - Chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã M và ông Trần Minh T2 - Chức vụ:
Chuyên viên phòng Kinh tế UBND xã M; có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Đặng Thị X, bị đơn Đặng Thị T
Bản án sơ thẩm không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn Đặng Thị X và người đại diện trình bày:
Chị X con gái duy nhất của ông Đặng Văn T3Hoàng Thị Lê . Ông
T3 liệt sĩ, hi sinh tháng 7 năm 1978, L2 đã được Tòa án nhân dân huyện
Cẩm Giàng (nay Tòa án nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng) tuyên bố mất tích
theo Quyết định số 05/2023/QĐST-DS ngày 28/9/2023. Trước năm 1980, bà L2
được UBND xã cấp đất để ở. Theo bản đồ 299 thể hiện thửa 428, tờ bản đồ số 03,
diện tích 390m
2
loại đất ONT, tại thôn M, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là
thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng) đứng tên Hoàng Thị Lê . Quá trình sinh sống
trên thửa đất bà L2 đã xây nhà cấp 4 hai gian tường gạch lợp ngói ta. Theo hồ sơ
năm 1993 tại bản đồ, sổ mục kê thể hiện là thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 diện tích
348m
2
cấp mang tên chị Đặng Thị X. Tuy nhiên ngày 11/7/2006, UBND huyện C
lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) cho cụ Đào Thị X1 (bà
nội chị X) là không đúng.
3
Từ khi được cấp đất, mẹ con chị X sinh sống trên thửa đất này cũng
nơi duy nhất để thờ bố chị liệt sĩ. Năm 1982, B đi khỏi địa phương, không
biết đi đâu. Do khi đó chị X còn nhỏ nên cụ X1 ra trên đất này cùng chị X để
chăm sóc trông nom chị, còn cụ B1 (chồng cụ X1) vẫn sinh sống tại thửa đất của
hai cụ ở trong làng. Sau đó một thời gian, cụ B1 cũng ra ở cùng với cụ X1 và chị
X. Năm 1988 vợ chồng bà T, ông M có khúc mắc với gia đình nhà chồng nên đã
về thửa đất cấp cho bà L2 để sinh sống cùng với chị X, cụ X1, cụ B1. Khi đó, ch
X không đồng ý, bởi vì chị xác định thửa đất là của mẹ chị không phải của cụ X1,
cụ B1. Cụ X1 nói với chX cho gia đình T, ông M nhờ trên thửa đất
này khi nào chị lớn thì vchồng T, ông M phải chuyển đi nơi khác để trả lại
thửa đất cho chị. Năm 2000, chị X chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh để học
tập, sinh sống lập gia đình trong đó, thửa đất này cụ X1 sinh sống, quản
trông nom giúp. Năm 2011, gia đình bà T đã tự ý phá dỡ nhà xây cấp 4 hai gian
do L2 xây dựng, chị X đã làm đơn kiến nghị đến UBND L (cũ) để giải quyết.
UBND xã lập biên bản vi phạm hành chính; biên bản đình chỉ việc xây dựng đối
với hộ gia đình bà T về việc tự ý thay đổi hiện trạng xây dựng công trình trên đất
mang tên chị X. Nhưng sau khi có biên bản đình chỉ được 01 tuần, gia đình bà T
lại tiếp tục xây dựng. Do xa nên chị X không yêu cầu T chấm dứt việc xây
dựng chuyển đến thửa đất khác sinh sống. Năm 2017, gia đình T tiếp tục
cho anh Hoàng Văn G, chị Nguyễn Thị P1 (con trai, con dâu T) xây nhà trên
thửa đất mang tên chị X thì chị không biết. Chị X không biết UBND huyện C đã
làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 cho cụ X1 vào
ngày 11/7/2006, cho đến khi gia đình T phá dỡ nhà xây cấp 4 hai gian do
X2 thì chị X mới biết việc này. Việc cấp GCNQSDĐ cho cụ X1 không đúng
trình tự quy định pháp luật. Ngày 05/4/2011, cụ X1 đã ra UBND L để làm Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho chị X. Do vậy, Văn phòng đăng ký đất đai
huyện C đã xác nhận việc tặng cho quyền sử dụng đất vào trang 4 của GCNQSDĐ.
Ngày 07/01/2011 ngày 26/3/2012 cụ B1 cụ X1 đơn đề nghị với UBND
huyện C; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; UBND xã L (cũ) thẩm quyền
thu hồi GCNQSDĐ đất mang tên cụ X1 để cấp đổi lại cho chủ sử dụng đất
Hoàng Thị L2 Đặng Thị X để thuận tiện cho việc trông nom, quản lý, thực hiện
các nghĩa vụ đối với nhà nước. Do vậy, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
giữa cụ X1 với chị X ngày 05/4/2011 hoàn toàn hợp pháp, đúng trình tự quy
định pháp luật.
Chị X yêu cầu gia đình bà T, anh D, anh G trả lại cho chị thửa đất số 142,
tờ bản đồ 03, diện tích 348m
2
theo GCNQSDĐ đã cấp mang tên chị vào năm 2011
tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên đất không được sự đồng ý
của chị nên chị không trách nhiệm phải hỗ trợ chi phí tháo dỡ. Quá trình gia
đình T sinh sống trên thửa đất mang tên chị lúc đó chị không mặt tại địa
phương tgia đình T công sức duy trì tôn tạo trên thửa đất nên chị chấp
nhận trích một phần công sức duy trì tôn tạo cho gia đình T. Phần trích trả công
sức này chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Đối với diện tích
đất không nằm trong GCNQSDĐ đã cấp mang tên chị chủ trương thu
hồi thì chị chấp nhận trả lại cho UBND xã để quản lý.
4
Chị X không đồng ý yêu cầu của T về việc: Hủy đăng ký biến động trên
GCNQSDĐ mang tên Đặng Thị X xác định thửa đất 142, tờ bản đồ 03 di
sản của cụ Đặng Văn B1, phân chia di sản thừa kế theo pháp luật tquan điểm
của chị không chấp nhận với yêu cầu phản tnày. Bởi vì vchồng T về sinh
sống cùng với cụ X1 thì cụ X1 cho một phần diện tích đất trong làng (không
phải thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 đang tranh chấp) nhưng T không đồng ý.
Sau đó, cụ X1 có cho vợ chồng bà T ở nhờ trên thửa đất cấp mang tên chị để tìm
chỗ đất khác. Thửa đất này không phải của cụ X1, cụ B1 là của mẹ chị trước
năm 1980, sau đó năm 1993 mang tên chị nên cụ X1, cụ B1 không có quyền tặng
cho bà T và không phải là di sản của cụ B1 nên không có quyền chia thừa kế đối
với thửa đất này.
2. Bị đơn Đặng Thị T và người đại diện trình bày:
Năm 1980 UBND xã L cấp đất giãn dân cho cụ B1 cụ X1 (là bố mẹ đẻ
của T) diện tích 348m
2
tại thôn M, L, huyện C, tỉnh Hải Dương (cũ). Sau
đó, cụ X1cụ B1 sinh sống với bà L2 trên thửa đất này để chăm sóc chị X giúp
Đ làm. Năm 1982, bà Lê B đi không sinh sống tại địa phương thì cụ X1, cụ
B1 vẫn sinh sống trên thửa đất này đchăm c chị X chị X còn nhỏ. Cuối năm
1988 được sự đồng ý của cụ B1, cụ X1 nên vợ chồng T về ở trên thửa đất 142,
tờ bản đồ 03 để trông nom hai cụ chị X. Cụ B1, cụ X1 chỉ nói bằng lời nói
không có văn bản gì thể hiện việc cho vợ chồng bà thửa đất số 142, vợ chồng bà
sử dụng thửa đất ổn định tnăm 1988 đó đến nay, không tranh chấp với các
hộ gia đình xung quanh. Từ khi sinh sống trên thửa đất năm 1988 đến năm 2011
gia đình bà nộp thuế đất cho Nhà nước nhưng vẫn mang tên cụ X1. Từ năm 2011
khi xảy ra tranh chấp đến nay ai là người nộp thuế đất thì bà T không nắm được,
mỗi năm gia đình T san lấp, không phải san lấp một lần nhiều lần
trong nhiều năm, bởi vì thửa đất đó rất trũng nên vợ chồng bà T tự chở đất ruộng
về để san lấp, không thuê người san lấp. Trên thửa đất lúc đó một ngôi nhà cấp
4 hai gian lợp ngói đã được X2 năm 1981 diện tích khoảng 20m
2
. Sau đó
đến năm 1989 được sự đồng ý của cụ B1, cụ X1 anh chị em trong gia đình, vợ
chồng bà T xây nhà cấp 4 ba gian được lợp bằng ngói ta xây bên cạnh nhà cấp 4
hai gian lợp ngói của L2. Sau đó, vợ chồng T cho vợ chồng anh D và vợ
chồng anh G chỉ thể hiện bằng lời nói không có văn bản và không ra cơ quan nhà
nước thẩm quyền để làm thủ tục tặng cho. Năm 2011, gia đình T phá dỡ nhà
cấp 4 hai gian do bà Lê X2 để cho vợ chồng anh D, chị L1 xây nhà thì UBND xã
L xuống lập biên bản vi phạm hành chính, biên bản đình chỉ việc xây dựng. Năm
2017, vợ chồng anh G, chị P1 phá dỡ ncấp 4 ba gian của vợ chồng đã xây
trước đó để xây lại ngôi nhà hai tầng kiên cố như hiện nay. Khi vợ chồng bà cho
các con đất để làm nhà thì cụ X1 biết và không có ý kiến . Việc chị X biết
vợ chồng bà tặng cho vợ chồng anh D và vợ chồng anh G để làm nhà hay không
thì bà không biết. Việc tặng cho giữa cX1 và chị X thửa đất vào năm 2011 bà T
không nắm được nên không công nhận thửa đất số 142 của chị X. Hiện nay trên
thửa đất đang tranh chấp có vợ chồng bà T, vợ chồng anh D, chị L1 ng với các
con của anh chị, vợ chồng anh G, chị P1 cùng với các con của anh chị sinh sống.
Nay chị X nguyên đơn khởi kiện đề nghị a án giải quyết yêu cầu gia đình bà,
anh D, anh G trả lại cho chị X toàn bộ thửa đất số 142, tờ bản đồ 03, diện tích
5
348m
2
và phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trên đất thì bà T không đồng
ý. Bởi vì bà xác định thửa đất này là của cụ X1, sau đó cụ X1 tặng cho vợ chồng
bà. Tuy không có giấy tờ thể hiện tặng cho quyền sử dụng đất t cụ X1 sang cho
bà nhưng vợ chồng bà cùng với các con sinh sống trên thửa đất đó từ nhiều năm,
sau đó vợ chồng tặng cho vợ chồng anh D, anh G mỗi người một phần diện
tích đất để làm nhà. Đối với diện tích không nằm trong GCNQSDĐ nếu UBND
nhu cầu chuyển mục đích sử dụng thì gia đình xin mua nộp mọi chi
phí theo quy định.
Ngày 29/01/2026 bà T có đơn yêu cầu phản tố với nội dung: Hủy đăng
biến động số 142, tờ bản đồ 03 có địa chỉ thôn M, xã L, huyện C, tỉnh Hải Dương
(nay thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng) đã được cấp mang tên Đặng Thị X;
xác định thửa đất di sản của cụ B1 yêu cầu chia di sản thừa kế; tính công sức
quản lý tôn tạo thửa đất số 142. Sau đó, ngày 09/3/2026 và ngày 11/3/2026 bà T
có đơn đề nghị rút không yêu cầu a án giải quyết đối với xác định thửa đất 142
là di sản của cụ Đặng Văn B1 để chia thừa kế theo quy định pháp luật.
3. Bị đơn Hoàng Văn G trình bày:
Thửa đất hiện gia đình anh đang ở là của cụ X1 tặng cho mẹ anh vào năm
1988. Việc tặng cho đăng tại quan thẩm quyền hay không thì anh
không biết. Từ khi bố mẹ anh quản thửa đất, bố mẹ anh là người thực hiện nghĩa
vụ tài chính đối với Nhà nước. Năm 2006 cụ X1, cB1 sinh sống cùng với bố mẹ
anh. Đến năm 2010 tcụ X1, cB1 chuyển vào thửa đất trong làng để sinh sống,
trông nom thửa đất. Năm 2013 cụ B1 chết thì cụ X1 vẫn sinh sống một mình trên
thửa đất trong làng. Năm 2016, bố mẹ anh tặng cho vợ chồng anh một phần diện
tích đất thuộc thửa đất 142 để vợ chồng anh xây nhà. Việc tặng cho chthể hiện
bằng lời nói không có giấy tờ gì, không được chính quyền địa phương tiến hành
đo đạc lại thửa đất. Khi xây nhà cX1 biết, không ý kiến gì. Vợ chồng anh xây
nhà vào năm 2017 thì chị X đang sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh nên
biết hay không thì anh không nắm được. Nguồn tiền để xây dựng công trình trên
đất là của vợ chồng anh, không liên quan đến ai khác. Quá trình sử dụng đất vợ
chồng anh sử dụng ổn định, đúng với phần diện tích đã được mẹ anh chỉ mốc giới,
ranh giới. Vợ chồng anh không có công sức duy trì tôn tạo gì trên thửa đất mang
tên cX1. Đến nay thửa đất chưa được quan nhà nước thẩm quyền cấp
GCNQSDĐ mang tên vchồng anh. Năm 2011 anh không nắm được việc tặng
cho thửa đất trên giữa chị X với cụ X1 và cũng không được ai thông báo, mặc dù
vợ chồng anh vẫn đang sinh sống trên thửa đất.
Do vậy, anh G không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị X. Đề nghị Tòa án
căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án làm sao đảm bảo quyền
lợi cho gia đình anh. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X
thì đề nghị Tòa án giải quyết cho gia đình anh được tiếp tục sử dụng phần diện
tích đất tại thửa số 142, tờ bản đ03 và trách nhiệm thanh toán giá trị thửa đất
bằng tiền cho chị X, bởi vì vợ chồng anh đã xây các công trình kiên cố trên thửa
đất, hơn nữa đây chỗ duy nhất của gia đình anh. Nếu nhu cầu thu hồi
diện tích đất dôi dư không nằm trong GCNQSDĐ thì gia đình anh chấp nhận trả
lại, còn UBND xã có nhu cầu chuyển mục đích sử dụng thì gia đình anh xin mua
6
nộp mọi chi phí theo quy định của Nhà nước. Anh G đồng ý với các yêu cầu
liên quan và yêu cầu phản tố của bà T.
4. Bị đơn Hoàng Văn D, đồng thời người đại diện theo ủy quyền của
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan cụ X1, ông M, T, chị L1, chị P1 trình
bày:
Anh được biết thửa đất 142, tờ bản đồ 03, diện tích 348m
2
mang tên cụ Đào
Thị X1, sau đó cụ X1 tặng cho mẹ anh là bà T vào năm 1988. Khi tặng cho thửa
đất giữa cụ X1 với bà T có làm thủ tục qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay
không thì anh không biết, bởi lúc đó anh còn nhỏ. Năm 2006 cụ X1, cụ B1 sinh
sống cùng với bố mẹ anh (là ông M, bà T) trên thửa đất được tặng cho. Đến năm
2010 cụ X1, cụ B1 chuyển vào thửa đất trong làng sinh sống (không phải thửa đất
số 142 đang tranh chấp), bởi vì ông Đặng Văn D2 có nhu cầu đón hai cvào thửa
đất trong làng để trông nom quản thửa đất, còn ông D2 vẫn sinh sống trong
miền N. Sau đó năm 2013 cB1 chết thì cX1 vẫn một mình sinh sống trên thửa
đất trong làng. Năm 2011, T tặng cho một phần diện tích đất thuộc thửa đất s
142 để vợ chồng anh xây nhà, trên thửa đất tặng cho ngôi nhà cấp 4 hai gian
lợp bằng ngói ta, ngôi nhà này do ai xây vào thời điểm nào thì anh không nắm
được.Việc tặng cho chỉ thể hiện bằng lời nói không có giấy tờ gì, không lập biên
bản bàn giao đất giữa mẹ anh và vợ chồng anh, không làm thủ tục tặng cho tại cơ
quan nhà nước thẩm quyền, cán bộ chính quyền địa phương không tiến hành
đo đạc xác định mốc giới.Đầu năm 2011 vợ chồng anh xây nhà, trước khi xây vợ
chồng anh phá ngôi ncấp 4 hai gian tcụ X1 biết, đồng ý cho xây không
ý kiến gì, còn chị X trong miền N biết hay không thì anh không nắm được.
Trong quá trình làm nhà ngày 23/02/2011, cán bộ UBND xã L đến trực tiếp thửa
đất gia đình đang xây để tiến hành kiểm tra, xác minh lập biên bản đình chỉ
việc xây dựng vì chị X đơn khiếu nại, khoảng hơn tuần sau vợ chồng vẫn tiếp
tục xây. Năm 2016 vợ chồng anh xây thêm bếp năm 2024 xây thêm nhà ăn lên
phần diện tích đất công đang do UBND quản lý. Nguồn tiền để xây nhà, các
công trình trên đất là của vợ chồng anh, không liên quan đến bố mẹ anh, gia đình
em anh ai khác. Đến nay phần diện tích đất T tặng cho vợ chồng anh
chưa được quan nhà nước thẩm quyền cấp GCNQSDĐ. Anh không nắm
được việc chuyển nhượng, tặng cho thửa đất trên giữa chị X với cụ X1 hay
không. Anh xác định thửa đất này mang tên cụ X1, không phải là của chị X.
Anh D3 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của chị X. Bởi vì thửa đất này là
của cụ X1 không phải của chị X, hơn nữa anh sinh sống từ nhỏ trên thửa đất này,
đây là chỗ ở duy nhất của gia đình, ngoài thửa đất 142 thì gia đình anh không có
chỗ ở nào khác. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X thì đề
nghị Tòa án giải quyết cho gia đình anh được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất
này trách nhiệm thanh toán giá trị thửa đất bằng tiền cho chị X. Đối với diện
tích không nằm trong GCNQSDĐ đã được cấp nếu xã có nhu cầu thu hồi thì gia
đình anh chấp nhận trả lại, còn UBND nhu cầu chuyển mục đích sử dụng
thì gia đình anh xin mua, nộp mọi chi phí theo quy định của Nhà nước. Anh D3
đồng ý với các yêu cầu liên quan và yêu cầu phản tố của bà T.
5. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
7
+ Cụ Đào Thị X1 trình bày: Cụ Xoe sinh sống trên thửa đất từ năm 1982
(thời điểm đó bà B đi khỏi địa phương) đến năm 2009. Nguồn gốc thửa đất số
142 tờ bản đồ số 03 do cha ông để lại hay do UBND xã cấp thì cụ không nhớ. Cụ
và ông B1 (chồng cụ X1) cùng ra thửa đất trên sinh sống và nuôi chị X từ lúc chị
X 04 tuổi, bởi vì bà Hoàng Thị L2 (con dâu cụ X1, là mẹ đẻ chị X) bỏ đi khỏi địa
phương. Sau đó vợ chồng cụ X1 cho vợ chồng bà T sinh sống trên thửa đất đó.
Cụ X1 cho bà T bằng lời nói không giấy tờ gì. Trước khi cho vợ chồng ông M,
T thì trên thửa đất một ngôi nhà cấp 4 hai gian, quá trình sử dụng đất gia
đình T đã xây công trình trên đất phá dỡ ngôi nhà cấp 4. Đối với Đơn xin
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/05/2006 phần người viết đơn ghi
“Xoe” không phải của cụ, còn ai viết thì cụ không biết, bởi vì cụ không biết
viết, chỉ biết điểm chỉ. Sau đó thửa đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Đào
Thị X1. Ckhông nhớ có tặng cho thửa đất thể hiện tại Hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất số 32 cho chị X hay không. Cụ xác định thửa đất trước đó cụ có cho
chị X nhưng chị X không thì cụ tặng cho T. Cụ biết anh D3, anh G xây
nhà trên thửa đất. Cụ X1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị X. Cụ xác
định nguồn gốc thửa đất là của Lê T4 năm 1980, sau đó Lê B đi. Năm 1993
thửa đất mang tên chị X chị X con duy nhất của L2, ông T3. Năm 2000
chị X không có nhà nên khi xét duyệt cấp đất địa phương đã kê khai tên cụ. Đơn
đề nghị vào ngày 26/3/2012 không phải do cụ X1, cụ B1 viết hai cụ không biết
chữ nhưng có điểm chỉ trong đơn là đúng của hai cụ.
+ Ông Hoàng Văn M trình bày: Thửa đất số 142 tờ bản đồ 03, địa chỉ thôn
M do UBND xã L cấp cho Hoàng Thị L2 vào năm 1979 hay 1980 ông không
nhớ cụ thể. Sau đó bà Lê B đi khỏi địa phương, cụ X1 ra thửa đất của bà L2 sinh
sống nuôi chị X bởi lúc đó chị X còn nhỏ. Năm 1988 gia đình nhà ông về
sinh sống trên thửa đất của bà Lê M1 trước đó cụ X1, chị X sinh sống, sau đó cụ
X1 tặng cho vợ chồng ông thửa đất chỉ tặng cho bằng lời nói, không có hợp đồng
tặng cho và vợ chồng ông không bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc tặng cho,
vợ chồng ông sinh sống trên thửa đất thì một ngôi nhà cấp 4 hai gian của mẹ
con L2 sinh sống thờ liệt Đặng Văn T3 (chồng L2). Năm 1989 được
sự đồng ý của cụ X1 cùng với các con trai, con gái của cụ, vợ chồng ông xây nhà
cấp 4 ba gian bên cạnh nhà xây cấp 4 hai gian của L2, khi xây nhà K
sinh sống tại địa phương nên không biết vợ chồng ông xây trên thửa đất. Năm
2010 cụ X1 vào trong làng sinh sống, gia đình ông đã phá nhà trước đây
L2 cùng với cụ X1, chị X sinh sống để cho vợ chồng anh D3 chị L1 (con trai, con
dâu ông) xây nhà kiên cố như hiện nay. Quá trình đào móng xây nhà năm 2011
UBND L đến trực tiếp thửa đất để đình chỉ việc xây dựng do đã phá dỡ nhà thờ
cúng liệt gia đình ông đã tạm dừng xây dựng một tuần thì lại tiếp tục xây
dựng.Năm 2016 vợ chồng ông cho một phần diện ch đất thuộc thửa số 142 tờ
bản đồ 03 cho vợ chồng anh G chị P1 (con trai, con dâu ông). Năm 2017 vợ chồng
anh G đã xây nkiên cố như hiện nay. Từ năm 1988 vợ chồng ông sinh sống
trên thửa đất đến nay không phải nộp thuế bởi thửa đất được cấp theo diện liệt sĩ.
Quá trình sdụng thửa đất gia đình ông tôn tạo san lấp nhiều năm, việc san lấp
chỉ có vợ chồng ông lúc đó các con ông còn bé nên không có công sức tôn tạo gì.
Thửa đất này mang tên L2 sau đó ông không biết do mang tên cụ X1.
8
Ngày 18/04/2011 ông không biết cụ X1 làm thủ tục tặng cho chị X thửa đất này.
Sau khi được xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Đào Thị X1 ngày
11/07/2006 thì ông mới biết việc cụ X1 tặng cho chị X vào năm 2011 tại trang thứ
4 của GCNQSDĐ. Ông M xác định: Thửa đất 142, tờ bản đồ 03 là của cụ X1 cho
vợ chồng ông M, vợ chồng ông đã sinh sống ổn định từ nhiều năm nay, việc chị
X yêu cầu vợ chồng ông trả lại thửa đất thì gia đình ông không đồng ý. Trường
hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị X tông đề nghị Tòa án trích
công sức trông nom tôn tạo san lấp thửa đất của vợ chồng ông từ khi cụ X1 cho
vợ chồng ông năm 1988 đến nay.
+ Chị Thị L1 trình bày: Chị anh Hoàng Văn D kết hôn năm 2009.
Chị L1 không nắm được nguồn gốc ban đầu của thửa đất như thế nào, không biết
thửa đất cấp mang tên ai. Thời điểm năm 2009 trên đất có tài sản: 01 nhà cấp 04
ba gian lợp ngói sau đó được lợp tôn, bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh do bố mẹ chồng
chị là ông M bà T xây vào năm nào thì chị không biết. 01 nhà cấp 4 hai gian lợp
Proximang thì chị không biết ai xây xây vào năm nào, chị được mọi người
trong gia đình nói lại cụ X1 sinh sống căn nhà đó. Chị được bmẹ chồng nói
vào năm 1988 cụ X1 cho bố mẹ chị thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 và bố mẹ chị sử
dụng thửa đất đó từ năm 1988 đến nay. Việc cụ X1 cho bố mẹ chị có văn bản gì
hay không thì chị không nắm được. Sau đó bố mẹ chị cho vợ chồng chị v
chồng anh G mỗi gia đình một phần diện tích đlàm nhà, cụ thể diện tích bao
nhiêu thì chị không biết. Việc tặng cho không giấy tgì. Đến tháng 02/2011
trước khi xây nhà vchồng chị phá dỡ nhà cấp 4 hai gian lợp Proximang. Khi xây
cụ X1, bố mẹ chồng chị biết, đồng ý cho xây, còn chị X trong thành phố Hồ Chí
Minh biết vợ chồng chị xây nnăm 2011 không thì chị không biết. Trong quá
trình đào móng làm nhà UBND đến gia đình chị lập biên bản đình chỉ xây dựng
thì lúc đó chị vừa mới sinh con nên mẹ con chị về bố mẹ đẻ để thuận tiện trong
việc chăm sóc chị ở cữ. Gia đình chị sử dụng một phần diện tích từ năm 2011 đến
nay, không tranh chấp với các hộ xung quanh. Nguồn tiền để xây nhà của vợ
chồng chị không liên quan đến ai khác. Đến nay thửa đất chưa được cơ quan nhà
nước thẩm quyền cấp GCNQSDĐ mang tên vợ chồng chị. Năm 2011 chị không
nắm được tặng cho QSD đất từ cụ X1 sang chị X cũng không được ai thông
báo mặc chị sinh sống cùng với gia đình nhà chồng từ năm 2011. Nay chị X
khởi kiện gia đình chị phải trả lại thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 thì chị không đồng
ý. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vụ án làm
sao đảm bảo quyền lợi cho gia đình chị. Đối với yêu cầu phản tố của bà T chị đề
nghị Tòa án chấp nhận.
+ Chị Nguyễn Thị Phương trình B2: Chị và anh Hoàng Văn G kết hôn năm
2015. Do con dâu nên chị không nắm được nguồn gốc của thửa đất cũng
không biết thửa đất được cấp mang tên ai. Sau khi tổ chức đám cưới vợ chồng chị
sinh sống trên thửa đất số 142. Chị được bố mẹ chồng nói lại vào năm 1988 cụ
X1 cho bố mẹ chồng thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 và bố mẹ chồng chị sdụng
thửa đất đó đến nay. Việc cụ X1 tặng cho văn bản thể hiện hay không thì chị
không biết. Năm 2013 cụ B1 chết cụ X1 không sinh sống cùng với gia đình chồng
chị sinh sống một mình tại thửa đất trong làng. Năm 2017 bmẹ chồng chị
cho một phần diện tích đất để vợ chồng chị làm nhà. Việc tặng cho đất từ bố mẹ
9
chồng cho vợ chồng chị không giấy tờ chỉ nói với nhau bằng lời nói.
Trước khi xây bà T ra chỉ vị trí mốc giới thửa đất, khi xây cụ X1, biết và đồng ý
cho xây nhà. Chị X biết việc xây nhà của vchồng chị hay không thì chị không
biết bởi thời điểm năm 2017 chị X không sinh sống ở địa phương mà sinh sống ở
miền N, còn L2 thì không biết. Nguồn tiền để xây dựng của vợ chồng chị
không liên quan đến ai khác. Vợ chồng chị không công sức san lấp đối với diện
tích đất đang sử dụng. Gia đình chị sử dụng ổn định không tranh chấp với
các hgia đình xung quanh. Đến nay thửa đất chưa được quan nnước
thẩm quyền cấp GCNQSDĐ mang tên vợ chồng chị. H m ông M bà T là người
nộp thuế đất, còn nộp bao nhiêu tiền thì chị không biết. Chị không biết giữa chX
với cụ X1 tặng cho thửa đất cho nhau.
Chị X khởi kiện gia đình chị phải trả lại thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 thì
chị không đồng ý. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải
quyết vụ án làm sao đảm bảo quyền lợi cho gia đình chị. Trường hợp Tòa án chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của chị X thì chị đề nghị Tòa án giải quyết cho gia đình
chị được nhận bằng hiện vật là quyền sử dụng đất tại thửa số 142, tờ bản đ03
gia đình chị trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho chị X, bởi vợ chồng chị
đã xây dựng các công trình kiên cố trên thửa đất, hơn nữa đây chỗ duy nhất
của gia đình chị. Nếu trong trường hợp xã có nhu cầu thu hồi diện tích đất dôi dư
không nằm trong GCNQSDĐ thì gia đình chị chấp nhận trả lại, còn nếu UBND
xã có nhu cầu chuyển mục đích thì gia đình chị xin mua và nộp mọi chi phí theo
quy định của Nhà nước. Đối với yêu cầu phản tố của T chị đề nghị Tòa án chấp
nhận.
+ Đại diện theo ủy quyền của UBND C, thành phố Hải Phòng trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất thể hiện tờ bản đồ 299 và sổ mục kê 299 đều thể hiện thửa
đất số 428, tờ bản đồ số 08, diện tích 390m
2
loại đất ONT, chủ sử dụng mang tên
Hoàng Thị L2 (bà L2 là vợ của ông Đặng Văn T3, là mẹ đẻ của chị Đặng Thị
X). Tại hồ sơ 1994, sổ mục 1994 đều thể thể hiện thửa đất số 142, tờ bản đồ s
03 diện tích 348m
2
loại đất ONT, chủ sử dụng chị Đặng Thị X (lúc đó bà Hoàng
Thị L2 không mặt tại địa phương). Hồ 299 diện tích 390m
2
so với hồ
1994 diện tích 348m
2
sự khác nhau về diện tích do sai số đo đạc, tính toán
qua các lần đo vẽ ranh giới thửa đất không thay đổi. Tại hsơ cấp GCNQSDĐ
do UBND huyện C cấp 11/7/2006 thể hiện thửa đất số 142, tờ bản đồ số 03, diện
tích 348m
2
loại đất ONT, chủ sử dụng mang tên Đào Thị X1. Việc cấp GCNQSDĐ
cho cụ X1 vào năm 2006 là không đúng chủ sdụng đất. Tuy nhiên cụ X1 đã thực
hiện việc chuyển quyền sử dụng đất sang cho chị X vào ngày 18/4/2011 thông
qua Đơn đề nghị tặng cho QSD đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được
UBND xã L chứng thực ngày 05/4/2011. Đề nghị Toà án thực hiện theo khoản 4
Điều 152 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024 công nhận thửa đất trên
của chị Đặng Thị X. Quá trình sử dụng đất gia đình T sử dụng một phần diện
tích 168,5m
2
thuộc loại: đất thủy lợi, đất trồng lúa đất giao thông phía Tây
một phần diện tích 122,13m
2
phía Nam thửa đất thuộc đất lưu không tiếp
giáp với đất nông nghiệp M trên bản đồ không thể hiện loại đất. Đối với diện
tích đất này không đủ điều kiện để cấp GCNQSDĐ là do nằm trong Kế hoạch sử
dụng đất của UBND C theo Quyết định số 439/QĐ-UBND ngày 25/02/2025
10
của UBND tỉnh H về việc phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2025 của huyện
C UBND C đề nghị Tòa án khi xem xét giải quyết vụ án không tạm giao cho
các đương sự trong vụ án buộc phải tháo dỡ di dời toàn bộ tài sản công trình
xây dựng trên phần đất lấn chiếm đất công để trả lại hiện trạng ban đầu cho UBND
quản lý, đồng thời không được yêu cầu bồi thường thiệt hại, htrợ liên quan
đến việc tháo dỡ.
Việc T cho rằng thửa đất đã được cấp mang tên chị X của cụ X1, cụ
B1 không phải của chị X là không đúng. Bởi vì căn cứ vào hồ sơ qua các thời kỳ
được lưu trữ tại UBND xã thì không có căn cứ để xác định thửa đất của chị X
thửa đất của cụ X3, cụ B1. Năm 2011 gia đình T phá dỡ gian nhà do Lê X2
đã được UBND L lập biên bản đình chỉ việc xây dựng. Việc thiết lập Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất tcụ X1 sang cho chị X được thực hiện theo đúng
quy định pháp luật, thời điểm lập hợp đồng, UBND không nhận được bất cứ
văn bản khiếu nại của gia đình T về việc cụ X1 làm thủ tục tặng cho chị X thửa
đất 142, tờ bản đồ 03 vào năm 2011 do đó yêu cầu Hủy đăng ký biến động sang
tên chị X không có căn cứ. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp
luật để giải quyết làm sao bảo đảm quyền lợi của các đương sự trong vụ án.
+ Đại diện theo ủy quyền của UBND M, thành phố Hải Phòng trình bày:
Căn cứ theo Quyết định số 2661/QĐ-UBND ngày 20/6/2025 của UBND huyện C
về việc phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng xã P, huyện C đến năm 2035 vị trí
Đặng Thị T đã san lấp và xây dựng một số tài sản, công trình trên đất về phía
Nam do UBND xã quản lý không phù hợp quy hoạch sử dụng đất. Do đó, UBND
M đề nghị gia đình T sử dụng đất đúng ranh mốc giới đã được cấp
GCNQSDĐ, không tái lấn chiếm diện tích đất công thực hiện tháo dỡ công
trình trên đất, trả lại hiện trạng diện tích đất công do UBND xã M quản lý.
6. Những người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Khắc N1 trình bày: Hồ liên quan đến thửa đất đã được
cấp GCNQSDĐ cho cụ Đào Thị X1 do cán bộ địa chính L lên Phòng T8.
Sau đó Phòng Tài nguyên và môi trường thẩm định rồi trình lên UBND huyện C
để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ. Việc xét duyệt nguồn gốc thửa đất, chủ sử dụng
thửa đất, thời điểm sử dụng thửa đất, lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ do UBND xã L.
Trên sở đầy đủ tài liệu thì Phòng Tài nguyên môi trường tham mưu trình UBND
huyện cấp GCNQSDĐ cho hộ. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Toà
án giải quyết theo quy định pháp luật.
+ Anh Hoàng Ngọc P2 (con trai của ông Hoàng Đình P3) trình bày: Ông
P3 đã chết vào tháng 10/2022. Bố anh công tác tại UBND L nào thì anh
không biết. Đối với đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phần xác
nhận của Hội đồng cấp GCNQSDĐ đối với gia đình cụ Đào Thị X1 vào ngày
02/06/2006, thời điểm đó bố anh giữ chức vụ Chủ tịch UBND còn hay
không thì anh không biết.
+ Ông Văn B3 trình bày: Ông làm cán bộ địa chính L từ năm 2004
đến tháng 6 năm 2006 thì nghỉ. Trước thời điểm ông làm địa chính thì ông
Dương Quang H1 làm, hiện nay ông H1 đã chết. Thời điểm nhận công tác giữa
11
cán bộ địa chính (ông H1) ông không việc bàn giao sổ sách liên quan đến
việc cấp GCNQSDĐ của công dân toàn L trong đó hộ gia đình X1. Do
vậy ông không có tài liệu để cung cấp về nguồn gốc thửa đất. Ông được biết theo
hồ 299 thể hiện thửa đất số 428 tờ bản đồ 08 diện tích 390m
2
mang tên bà
Hoàng Thị L2 (vợ liệt sĩ Đặng Văn T3). Hồ sơ năm 1993 thể hiện thửa đất số 142
tờ bản đ03 diện tích 348m
2
mang tên chị Đặng Thị X (con gái L2 ông T3).
Việc xét duyệt hồ sơ để cấp GCNQSDĐ thể hiện nguồn gốc thời điểm sdụng
đất được hình thành trước ngày 18/02/1980, tình trạng tranh chấp đất không
phù hợp với quy hoạch sử dụng đất. Việc xét duyệt hồ sơ ban đầu là ông H1 cán
bộ địa chính cùng với trưởng thôn là ông Hoàng Đình T5 do vậy ông không nắm
được. Sau khi Hội đồng xét duyệt cấp GCNQSDĐ thì ông thấy trong đơn phần
tên người làm đơn "Xoe" là chữ viết của ai thì ông không biết còn nội dung phần
khai người sử dụng đất do ông T5 trưởng thôn trực tiếp viết, phần đo vẽ diện
tích các cạnh của thửa đất do ông trực tiếp kẻ. Ông H1 đã nộp toàn bộ hồ sơ lên
Phòng Tài nguyên môi trường huyện C Sau đó Phòng tài nguyên môi trường
huyện C phát hiện thông tin sai sót nên yêu cầu UBND xét duyệt lại toàn bộ
hồ của công dân L trong đó hồ của gia đình X1. Năm 1980 thửa
đất đó đã mang tên Hoàng Thị L2 sau đó năm 2006 mang tên Đào Thị X1
nhưng không giấy tgì thể hiện việc chuyển nhượng tặng cho, ủy quyền từ chị
X cho cụ X1, do vậy việc cấp đất mang tên cụ X1 không đúng đối tượng s
dụng đất. Việc cụ X1 cho gia đình T sinh sống ông không biết văn bản về
việc tặng cho hay bằng miệng. Sau đó, cụ X1 đã làm thủ tục tặng cho lại cho chị
X vào ngày 05/04/2011 theo Hợp đồng tặng cho. Do vậy thửa đất này của chị
Đặng Thị X, việc gia đình bà T xây trên đất là không đúng.
+ Ông Hoàng Văn T6 trình bày: Ông trưởng thôn M từ năm 1997 đến
năm 2018. Thửa đất đang tranh chấp đất UBND giao dưới diện giãn dân cho
Hoàng Thị L2 (vợ ông Đặng Văn T3 liệt sĩ). Đơn xin cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông xác định phần nội dung khai tên người sử dụng đất,
thông tin thửa đất xin cấp là do ông viết đhỗ trợ cán bộ địa phương tiến hành
khai viết đơn giúp người dân. Khi ông viết hộ nội dung đơn thì cán bộ địa phương
bảo ông viết khai tên Đào Thị X1, ông không biết thửa đất này đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị X hay chưa. Chữ "Xoe" trong
phần người viết đơn ông không biết ai người ký. Trình tự thủ tục cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất năm 2006 cho cụ X1 như thế nào ông không nắm được.
Ông được biết trong hồ 299, sổ mục 299 mang tên Hoàng Thị . Hồ
1993, sổ mục kê 1993 mang tên Đặng Thị X (con gái L2ông T3). Thửa đất
mang tên cụ X1 vào năm 2006 không có hợp đồng chuyển nhượng hay hợp đồng
ủy quyền từ L2, chị X sang cho cụ X1. Năm 2011 hộ gia đình T xây nhà
cho các con đã phá dỡ nhà cấp 4 hai gian của bà Lê X2 trước đó và xây nhà thửa
đất mang tên chị X là không đúng, do vậy chị X đã có đơn gửi UBND xã về việc
phá dỡ nhà của Lê nên UBND xã xuống trực tiếp thửa đất để lập biên bản đình
chỉ xây dựng của gia đình T. Việc tặng cho QSD đất từ tên cụ X1 cho chị X
vào năm 2011 như thế nào ông không nắm được, khi sinh sống trên thửa đất gia
đình T san lấp phần mương của UBND quản lý. Đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật. Đối với Đơn đnghị lập ngày 06/11/2011
12
thì ông xác định phần xác nhận của Trưởng thôn: "Chứng nhận theo đơn đề nghị
trên đúng đề nghị ủy ban giải quyết" là chữ viết, chữ ký của ông. Trước khi xác
nhận ông đã thấy điểm chỉ của cụ X1 trong đơn. Ai là người viết ông không biết,
ai là người cầm đơn đến nhà ông để xác nhận thì do lâu ngày ông không nhớ.
+ Ông Trần Đình Y trình bày: Ông làm Phó Chủ tịch UBND xã L từ tháng
10/2010 đến tháng 6/2014. Ngày 07/01/2011, chị X và cụ X1 lên UBND xã để
đề nghị ông xác nhận vào Đơn đề nghị lập 06/01/2011. Trước khi ký ông có đọc
lại toàn bộ nội dung trong đơn, sau đóxác nhận vào đơn. Trong đơn thể hiện
ý chí của cụ X1 trả lại thửa đất cho chị X. Đối với Đơn đề nghị ngày 26/3/2012
thì đơn này được lập trước, có điểm chỉ ngón tay của cụ X1, cụ B1. Cụ X1, chị X
người trực tiếp mang đơn lên UBND xã. Ông đọc toàn bộ nội dung trong đơn
thể hiện đúng ý chí của cụ X1, cụ B1 đề nghị thu hồi GCNQSDĐ mang tên cụ X1
để đề nghị cấp lại GCNQSDĐ cho chị X, sau đó ông và đóng dấu của UBND
xã.
+ Ông Hoàng Đình B4, Nguyễn Thị N2; bà i Thị L3 (vợ ông B5):
hàng xóm sinh sống cạnh thửa đất số 142 gia đình T đang sử dụng. Quá
trình sử dụng đất gia đình ông bà sử dụng ổn định không có tranh chấp mốc giới
với thửa đất mà hiện nay gia đình bà T đang sử dụng.
7. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Tổng diện tích hiện trạng thửa đất
do gia đình T, ông M quản sử dụng diện tích hiện trạng 693,4m
2
(trong
đó: 602,5m
2
diện tích phần đất ở của gia đình T; 90,9m
2
là diện tích gia đình
T xây dựng trên phần mương của UBND xã). Thửa đất có vị trí các cạnh như
sau: Cạnh phía Bắc của thửa đất giáp phần đất nhà ông B4 đất lưu không của
đường, có chiều dài 24,43m + 0,12m + 6,31 m + 4,87m. Cạnh phía Tây giáp phần
đất lưu không đường và ngõ đi vào đất có chiều dài 14,19m + 4,06m. Cạnh phía
Nam của thửa đất giáp phần đất canh tác của xã C (nay M) chiều dài
4,67m + 15,63m + 15,84m. Cạnh phía Đông của thửa đất giáp phần đất nhà ông
B5 và ngõ đi có chiều dài 16,79m + 2,88m.
8. Kết quả định giá tài sản: Thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 tại thôn M, xã L,
huyện C, tỉnh Hải Dương (nay thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng) vị t
nhóm 1, khu vực 1, vị trí 2 giá thị trường tại thời điểm định giá là: Đất tại
nông thôn: 6.210.000 đồng/m
2
.
Các tài sản trên phần diện tích đất nhà bà T san lấp mương (do gia đình bà
T đang quản lý) gồm: 02 trụ cổng kích thước 0,5m x 0,5m x 2,8m, giá trị còn lại
296.918 đồng; 02 cánh cổng sắt kích thước 3m x 2,6m, giá trị còn lại
6.364.800 đồng; 01 đoạn tường xây (ngăn cách lối đi vào và vườn) dài 4,67m, cao
0,7m giá trị còn lại là 135.833 đồng; 01 sân trạt bê tông có diện tích 16,8m
2
, dày
10cm, giá trị còn lại là 1.772.598 đồng; 01 đoạn tường giáp với phần đất canh tác
dài 4,67m, cao 0,9m, phía trên hàng rào sắt dài 4,67m, cao 0,9m, giá trị còn lại
313.170 đồng; 01 đoạn tường 110 gạch chỉ giáp ngõ đi chiều dài 14,19m, cao
0,9m; phía trên rào lưới B40 dài 14,19m, cao 0,9m, giá trị n lại 393.846
đồng; 01 đoạn tường 110 gạch chỉ, dài 4,87m, cao 1,8m, phía trên lập rào tôn cao
trung bình 0,9m dài 4,87m giá trị còn lại 310.638 đồng; 01 cây vối tán 2,5m,
13
thân 30cm, giá trị 871.000 đồng; 01 cây xoài tán 1m, thân 50cm, giá trị
1.866.000 đồng; 01 cây hồng xiêm tán 2m, thân 10cm, giá trlà 187.000 đồng; 01
cây mít tán 2.5m, thân 20cm; giá trị 3.111.000 đồng; 01 cây sữa tán 5m, thân
30cm, giá trị 1.866.000 đồng. Tổng giá trị tài sản nằm trên diện tích đất công
là 17.488803 đồng.
Các tài sản do vợ chồng anh D, chị L1 xây dựng quản gồm: 01 Nhà
02 tầng xây gạch chỉ tường 220 (tầng 01 xây năm 2011; tầng 02 xây năm 2016),
có diện tích xây dựng 72,1m
2
giá trị còn lại là 412.872.892 đồng; 01 nhà bếp xây
gạch chỉ tường 220 xây năm 2016 mái được lợp tôn lạnh, diện tích 8.3m
2
giá trị
còn lại 36.564.264 đồng; 01 mái lợp tôn lạnh (trước cửa nhà bếp) làm năm
2016, diện tích 3,1m
2
giá trị còn lại 201.114 đồng; 01 nhà ăn (cạnh nhà 02 tầng)
được lợp tôn lạnh xây năm 2024, diện tích 37,4m
2
giá trị còn lại 143.017.588
đồng; 01 mái lợp tôn lạnh (trước cửa nhà ăn) làm năm 2024 diện tích 25,8m
2
giá
trị còn lại 15.064.099 đồng; 01 sân lát gạch đỏ làm năm 2017 kích thước
0,4m x 0,4m, diện tích 69,9m
2
, giá trị còn lại 19.519.599 đồng; 01 bể nước
(cạnh nhà 02 tầng) chiều dài các cạnh 1,5m x 2m, sâu 1,2m gtrị còn lại
3.589.456 đồng; 01 phần sân trạt bê tông (gần ngõ đi ra cổng), diện tích 13,8 m
2
dày 10cm giá trị còn lại là 1.284.761 đồng; 01 đoạn tường xây gạch chỉ xây năm
2016 chiều dài 15,63m, cao 0,9m, phía trên hàng rào sắt dài 15,63m, cao
0,9m giá trị còn lại là 1.839.625 đồng; 01 đoạn tường 110 xây gạch chỉ xây năm
2017 giáp nhà ông B4 chiều dài 6,31m, cao 1,8m giá trị còn lại 471.947
đồng; 01 đoạn tường xây gạch chỉ xây năm 2017 (ngăn cách giữa sân vào vườn)
chiều dài 3,62m + 4,66m, cao 0,7m, gtrị còn lại 4.460.576 đồng; 01 cây
dừa đường kính gốc 0,5m giá trị là 1.866.000 đồng; 01 cây chay đường kính gốc
10cm, tán 3m gtrị 398.000 đồng; 01 cây đường kính gốc 40cm, tán 7m
giá trị 1.120.000 đồng; 01 cây bưởi đường kính gốc 10cm, tán 2m giá trị
274.000 đồng; 01 cây mít đường kính gốc 10cm, tán 2m giá trị là 398.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản: 642.469.974 đồng.
Các tài sản do vợ chồng anh G, chị P1 xây dựng, quản lý gồm: 01 nhà xây
02 tầng xây gạch chỉ tường 220 làm năm 2017, diện tích 78,3m
2
, giá trị còn lại là
568.467.872 đồng; 01 nhà bếp (cạnh nhà 02 tầng) xây gạch chỉ tường 220 xây
năm 2017 mái lợp tôn lạnh, diện tích 14,8m
2
giá trị còn lại 40.088.263 đồng;
01 mái tôn thường (trước cửa nhà bếp) diện tích 8,8m
2
giá trị còn lại 570.308
đồng; 01 sân lát gạch đỏ làm năm 2017 kích thước 0,4m x 0,4m, diện tích
84,1m
2
gtrị còn lại 23.484.9554đồng; 01 mái lợp tôn thường (cạnh nhà 02
tầng) xây năm 2017 giáp đất nhà ông B5, diện tích 72,3m
2
; giá trị còn lại
4.685.599 đồng; 01 nhà vệ sinh được lợp tôn lạnh, xây năm 2025, diện tích 8,7m
2
;
giá trị còn lại34.654.997 đồng; phía dưới mái tôn là sân trạttông xây năm
2017 diện tích 65,3m
2
giá trị còn lại là 6.889.920 đồng; 01 sân lát gạch hoa trước
cửa nhà vệ sinh, xây năm 2025, diện tích 7m
2
, giá trị còn lại 1.546.083 đồng;
02 cánh cổng (ra ngõ phụ) làm bằng sắt có chiều dài 2,4m x 2,3m, giá trị còn lại
là 2.914.500 đồng; 01 trụ cổng xây gạch chỉ xây năm 2017 có kích thước 0,4m x
0,4m x 1,8m, giá trị còn lại 435.132 đồng; 01 đoạn tường xây gạch chỉ làm năm
2025 giáp nhà bà B5 (cạnh nhà vsinh) cao 2,3m, dài 3,9m giá trị còn lại
1.677.243 đồng; 01 đoạn tường xây gạch chỉ tường 110 làm năm 2017 giáp đất
14
canh tác dài 15,84m, cao 1,4m, phía trên hàng rào lưới B40, cao 0,6m, dài
1,84m, giá trị còn lại 2.502.778 đồng; 01 đoạn tường hoa (ngăn cách sân
vườn) chiều dài 8,87m + 1,67m + 1,47m + 2,45m, cao 0,8m giá trị còn lại
2.347.726 đồng; 02 cây khế, đường kính gốc 7cm, tán 3m giá trlà 212.000 đồng;
03 cây mít (trong đó: 01 cây đường kính gốc 30cm, tán 3m, giá trị 3.484.000
đồng; 02 cây mít đường kính gốc 10cm, tán 2m, giá trị 398.000 đồng/cây; 01
cây bưởi đường kính gốc 10cm, tán 3m giá trị 274.000 đồng; 01 cây đào đường
kính gốc 03cm, tán 50cm, gtrị là 81.000 đồng; 01 cây lộc vừng đường kính gốc
30cm, tán 5m giá trị là 1.400.000 đồng; 01 cây cau đường kính gốc 10cm, cao 7m
giá trị là 150.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 694.692.067 đồng.
10. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 20/3/2026, Tòa án
nhân dân khu vực 12 - Hải Phòng quyết định:
10.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc gia
đình bà T, anh D, anh G phải trả lại cho chị X thửa đất số 142, tờ bản đồ 03 diện
tích 370,7m
2
địa chỉ tại thôn M, xã C, thành phố Hải Phòng.
10.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị
đơn phải tháo dỡ công trình trên đất. Giao cho chị X sở hữu toàn bộ tài sản công
trình gắn liền với đất của gia đình anh D gồm: Nhà xây hai tầng; bể nước; mái
tôn; nhà ăn; bếp; sân gạch toàn bộ tài sản gắn liền với đất của gia đình anh G
gồm: Nhà xây hai tầng; bếp; mái tôn; sân gạch; mái tôn; cây cau.
Buộc chị X thanh toán phần giá trị tài sản gắn liền với đất cho gia đình anh
D là 511.082.282đồng, cho gia đình anh G là 632.822.654 đồng.
Buộc chị X trách nhiệm trả công sức duy trì, tôn tạo cho gia đình T
trong thời gian gia đình T sinh sống quản lý trông nom thửa đất từ năm 1988
đến ngày xét xử với số tiền 230.204.700 đồng.
10.3. Không chấp nhận yêu cầu của T về việc hủy đăng biến động
sang tên chị X trên GCNQSDĐ số AG503514.
10.4. Yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất đối với
phần đất lấn chiếmphía T, phía Nam thửa đất để trả lại mặt bằng cho UBND xã
C và UBND xã M.
10.5. Đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu của T về việc xác định
thửa đất số 142, tờ bản đồ số 03 di sản của cụ B1 yêu cầu chia di sản thừa
kế theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí và quyền
kháng cáo theo quy định.
11. Ngày 25/3/2026, T kháng cáo đề nghị hủy bản án thẩm. Ngày
30/3/2026, chị X kháng cáo không đồng ý trả công sức tôn tạo đất và giá trị công
trình vật kiến trúc trên đất, yêu cầu bị đơn phải tháo dỡ toàn bộ công trình trả lại
đất cho chị X đề nghị được miễn án phí.
12. Tại phiên tòa:
15
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu
gia đình T pdỡ toàn bộ nhà ở, công trình, vật kiến trúc trên đất đang tranh
chấp để trả lại toàn bộ quyền sử dụng đất cho chị X; không đồng ý trả công sức
bảo vệ tôn tạo đất của gia đình T; đề nghị được miễn án phí. Ngoài ra chị X
xác định năm 2011 chị X được cụ X1 những người thừa kế của cụ B1 đồng
ý tặng cho một phần diện tích
đất ở trong làng của cụ X1 và cB1, chị X đã được
cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất nêu trên. Tuy nhiên không có việc gia đình
thỏa thuận tặng cho chị X diện tích đất trên để đối lấy việc chị X đồng ý cho gia
đình T diện tích đất đang tranh chấp. Chị X không đồng ý phương án nhận tiền
để giao quyền sử dụng đất cho phía bị đơn theo như đề nghị của anh G, anh D tại
phiên tòa.
Đại diện bị đơn thay đổi nội dung kháng cáo, đề nghị được sử dụng toàn bộ
quyền sử dụng đất, tự nguyện trả cho nguyên đơn giá trị quyền sử dụng đất tăng
thêm 300.000.000đồng so với giá theo kết luận của Hội đồng định giá để đảm bảo
ổn định nơi cho gia đình hiện nay gia đình các bị đơn không nơi nào
khác.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát vviệc tuân theo pháp
luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Đnghị Hội đồng xét
xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, sửa Bản án sơ thẩm
số 11/2026/DS-ST ngày 20/3/2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 12-Hải Phòng
theo hướng: Chị X không phải chịu án phí đối với số tiền thanh toán giá trị tài sản
trên đất, chX được miễn án phí theo quy định; buộc anh D, anh G phải chịu án
phí đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận. Miễn án phí dân sự sơ thẩm
cho T do người cao tuổi. Do sửa bản án thẩm nên các đương skhông
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của chị X T trong thời hạn luật định nên
được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguồn gốc thửa đất hiện đang tranh chấp theo Bản đồ 299 và Sổ mc
299 thể hiện thửa đất s428, tờ bản đồ số 08, diện tích 390m
2
loại đất ONT,
chủ sử dụng mang tên bà Hoàng Thị Lê . Tại hồ sơ địa chính năm 1994, Sổ mục
kê 1994 thể hiện thửa đất số 142, tờ bản đồ số 03 diện tích 348m
2
loại đất ONT,
chủ sử dụng chị Đặng Thị X. UBND xã C xác định đất tên chị X do lúc đó bà L2
không có mặt tại địa phương. Quá trình tố tụng, các đương sự đều thừa nhận đây
không phải đất ông cha đlại cho cụ X1 cụ B1. Từ khi đất được giao, L2
và chị X người đầu tiên sử dụng đất, L2 đã xây dựng nhà cấp bốn lợp ngói
ta và cùng chị X tại nhà, đất này để thờ cúng liệt sĩ Đặng Văn T3 (bố đẻ chị X).
Đến năm 1982 sau khi L2 đi khỏi địa phương thì cụ X1 và cB1 mới ra ở trên
nhà đất này để trông nom, chăm sóc chị X. Đây tình tiết không phải chứng
minh. Năm 1986-1987, vchồng T, ông M cùng các con về đất này sinh sống.
Bà T và các con là anh D, anh G xác định đất là của cụ X1, cụ B1 được cấp theo
diện giãn dân nhưng không căn cứ chứng minh; bản thân cụ X1 cũng không
16
nhớ chính xác đất được cấp theo diện nào. Mặc năm 2006, cụ X1 được cấp
GCNQSDĐ nhưng GCNQSDĐ không phù hợp với bản đồ địa chính năm 1993
bản đồ làm căn cứ cấp GCNQSDĐ thực tế năm 2011, cụ X1 đã làm thủ tục
sang tên chị X trên GCNQSDĐ; UBND xã C xác định quyền sử dụng đất của
L2 (vợ liệt sĩ) khi bà B đi biệt tích, đề nghị Toà án thực hiện theo khoản 4
Điều 152 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024 công nhận thửa đất trên
là của chị X. Như vậy, có căn cứ xác định đất đang tranh chấp có nguồn gốc của
L2, do bà L2 đã bị tuyên bố mất tích nên chị X là con duy nhất có quyền quản
lý quyền sử dụng đất.
Do đất không phải của cụ X1, cụ B1 nên hai cụ không quyền tặng cho
vợ chồng T. Việc vợ chồng T các con anh G anh D xác định đã
được cụ X1, cụ B1 tặng cho quyền sử dụng đất này để xây dựng nhà không
căn cứ chấp nhận. Đất không phải của vợ chồng T nên vợ chồng T không
quyền tặng cho các con anh D anh G. Bản thân T gia đình biết
đất không phải là của cụ X1, cụ B1 không phải đất của mình nhưng vẫn đến ở,
xây dựng nhà cửa thuộc trường hợp chiếm hữu không căn cứ pháp luật
không ngay tình nên không thuộc trường hợp được hưởng quyền sử dụng đất theo
thời hiệu quy định tại Điều 236 Bộ luật Dân sự.
UBND C xác định diện tích thửa đất theo hồ 299 so với hồ 1994
có sự khác nhau là do sai số đo đạc, tính toán qua các lần đo vẽ, thực tế ranh giới
thửa đất không thay đổi. Kết quả thẩm định tại chỗ xác định tổng diện tích đất gia
đình bà T đang sử dụng là 693,4m
2
. Kết quả lồng ghép sơ đồ trên GCNQSDĐ
sơ đồ hiện trạng xác định, diện tích đất thuộc quyền quản , sử dụng của chị X là
370,7m
2
theo GCNQSDĐ được xác định theo các điểm từ B1, B2, C1, B3, A9,
A8, C2, A6 đến B1 trên sơ đồ kèm theo bản án phúc thẩm. Phần diện tích còn lại
gồm 231,8m
2
là đất dôi dư do gia đình bà T lấn chiếm đất canh tác và 90,9m
2
đất
lưu không đường giao thông.
[2.2] Quyền sử dụng đất của L2 chị X đất cấp cho gia đình liệt
và chị X không đồng ý giao đất cho gia đình bà T sử dụng mặc gia đình T
đồng ý trả thêm tiền để được sử dụng đất. Tòa án cấp sơ thẩm buộc phía bị đơn
trả lại quyền sử dụng đất cho chị X đảm bảo quyền tự định đoạt của chủ s
dụng đất. Tuy nhiên, hiện nay gia đình bà T gồm vợ chồng bà T, vợ chồng anh D
và vợ chồng anh G cùng các con không còn chỗ ở nào khác; gia đình bà T ở trên
đất này từ 1985, chị X không thường xuyên trên đất cũng chưa kiên quyết
trong việc bảo vệ tài sản; giữa nguyên đơn bị đơn quan hệ ruột thịt; bản thân
chị X vẫn còn diện tích đất khác tại địa phương do được cụ X1 những người
thừa kế của cụ B1 tặng cho diện tích đất đang tranh chấp có thể tách thửa được
theo quy định của UBND thành phố H, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận một
phần yêu cầu kháng cáo của T, giao cho bà T, ông M vợ chồng anh D, chị
L1 sử dụng 133,5m
2
đất phía Tây, vợ chồng bà T, ông M và vợ chồng anh D, ch
L1 phải liên đới trả chị X giá trị quyền sử dụng đất 829.035.000đồng. Các tài
sản là công trình, vật kiến trúc trên đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bà T và
vợ chồng anh D trên đất được giao Tòa án không xem xét.
17
[2.3] Đối với phần diện tích còn lại là 237,2m
2
phía Đông thửa đất cần chấp
nhận kháng cáo của chị X, buộc vợ chồng T, ông M, vợ chồng anh D, chị L1
và vợ chồng anh G, chị P1 phải trả lại cho chị X. Nhà ở, công trình vật kiến trúc
trên phần diện tích đất này các công trình xây dựng lấn chiếm, chị X đã phản
đối ngay từ đầu khi gia đình T xây dựng công trình đầu tiên tnăm 2011
UBND đã lập biên bản yêu cầu dừng việc thi công nhưng phía gia đình T
vẫn cố ý xây dựng tiếp nên cần buộc vợ chồng bà T và vợ chồng anh G phải tháo
dỡ toàn bđể trả lại đất cho chX. Chi phí tháo dỡ do vợ chồng T vợ chồng
anh G phải chịu.
[2.4] Đối với phần diện tích đất dôi và phần đất lưu không đường, gia
đình bà T, anh D, anh G lấn chiếm đã xây dựng các công trình, vật kiến trúc cần
tạm giao cho gia đình T, anh D, anh Giao tiếp T7 sử dụng đến khi quan Nhà
nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Do gia đình bà T sử dụng
đất của chị X không thuộc trường hợp ngay tình, phần diện tích dôi đã tạm
giao cho gia đình bà T nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị
X, không buộc chị X phải trả công sức quản lý, bảo vệ quyền sử dụng đất cho gia
đình bà T.
[2.5] Do đất thuộc quyền sử dụng của chị X nên yêu cầu của T, anh D,
anh G về việc hủy bỏ đăng biến động đất đai trên trang 4 GCNQSDĐ không
căn cứ chấp nhận. Các bên căn cứ bản án phúc thẩm để đề nghị quan
thẩm quyền cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai.
[2.6] Chị X tự nguyện chịu cả chi phí tố tụng nên không đặt ra giải quyết.
Do sửa bản án thẩm nên cần sửa án phí thẩm các đương sự kháng cáo
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của chị Đặng Thị X Đặng Thị T.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 20/3/2026, Tòa án nhân dân
khu vực 12 - Hải Phòng như sau:
Căn cứ Điều 163, Điều 164, Điều 166 Bộ luật Dân sự; khoản 4 Điều 152
Luật Đất đai; Điều 147, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sdụng án phí lệ phí Tòa
án, xử:
1.1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Đặng Thị X.
Buộc vợ chồng bà T, ông M, vợ chồng anh G, chị P1 vợ chồng anh D, chị L1
phải trả lại cho chị X quyền sử dụng 237,2m
2
đất được xác định theo các điểm từ
C1, C2, A8, A9, B3 đến C1 trên đồ kèm theo bản án. Buộc vợ chồng T, ông
M vợ chồng anh G, chị P1 tự tháo dỡ toàn bộ nhà ở hai tầng và các công trình,
vật kiến trúc, cây trồng trên diện tích đất trên để trả lại mặt bằng quyền sử dụng
18
đất cho chị X. Chi phí tháo dỡ do vợ chồng bà T, ông M vợ chồng anh G, chị
P1 tự chịu.
1.2. Giao cho vchồng bà T, ông M vợ chồng anh D, chị L1 quyền sử
dụng 133,5m
2
đất được xác định theo các điểm từ B1, B2, C1, C2, A6 đến B1 tn
đồ kèm theo bản án. Buộc vchồng T, ông M vợ chồng anh D, chị L1
phải liên đới trả cho chị X giá trị quyền sử dụng đất là 829.035.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi
thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự,
trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
1.3. Tạm giao cho vợ chồng T, ông M, vợ chồng anh D, chị L1 vợ
chồng anh G, chị P1 sử dụng diện tích đất được xác định theo các điểm từ A1,
A2, A3, A4, A5, B1, B2, C1, B3, A10, A11 đến A1 cho đến khi cơ quan quản lý
nhà nước về đất đai xử lý việc sử dụng đất công và đất hành lang giao thông theo
quy định của pháp luật. Các tài sản công trình, vật kiến trúc, cây trồng trên diện
tích đất tạm giao của ai thì người đó sử dụng.
1.4. Chị X không phải trả công sức duy trì tôn tạo đất cho vợ chồng bà T,
vợ chồng anh D vợ chồng anh G.
1.5. Không chấp nhận yêu cầu của bà Đặng Thị T về việc hủy đăng biến
động sang tên chị X trên GCNQSDĐ số AG503514 do UBND huyện C, tỉnh Hải
Dương cấp ngày 11/7/2006.
2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chị X tự nguyện nộp cả nên không
đặt ra giải quyết.
3. Ván phí dân sự thẩm: Buộc anh D, anh G mỗi người phải nộp
300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị X số tiền 300.000 đồng đã nộp
tạm ứng án phí theo Biên lai số 0007361 ngày 14/02/2025 của Chi cục Thi hành
án dân sự huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương (nay Thi hành án dân sự thành
phố H).
4. Về án phí phúc thẩm: Chị X và bà T không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm. Hoàn trả chị X số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo
Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003470 ngày 01/4/2026 của Thi
hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6 và 7 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhn:
- VKSND TP. Hi Phòng;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TO PHIÊN T
19
- Các đương sự;
- TAND khu vc 12 - Hi Phòng;
- THADS TP. Hi Phòng;
- Lưu: HS, VP.
Trn Hu Hiu
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 204/2026/DS-PT Bản án số 204/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 204/2026/DS-PT Bản án số 204/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất