Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 11/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 11/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 11/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 11/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND tỉnh Điện Biên về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Điện Biên |
| Số hiệu: | 11/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | 1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự, bác toàn bộ kháng cáo của ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Điện Biên.2. Về án phí |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN
–––––––––––––––
Bản án số: 11/2026/DS-PT
Ngày: 24-3-2026
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài
sản trên đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Bùi Thị Thu Hằng;
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Tiến Hưng và bà Vũ Thị Thanh Thủy;
- Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Mạnh Huy, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện
Biên;
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Thắm,
kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên.
ơ
Ngày 24 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 10/2025/TLPT-DS ngày 21
tháng 11 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu tháo dỡ
di dời tài sản trên đất”;
Do bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 3 - Điện Biên bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2026/QĐ-PT, ngày 13 tháng 01
năm 2026 và các Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2026/QĐ-PT, ngày
11/02/2026 và số 17/2026/QĐ-PT, ngày 11/3/2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trung tâm y tế huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là Trung tâm y
tế T); địa chỉ trụ sở: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là khối T,
xã T, tỉnh Điện Biên); người đại diện theo pháp luật ông Đoàn Văn Q - chức vụ:
Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đoàn Văn Q:
- Bà Quàng Thị K - chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm y tế T (Văn bản ủy
quyền ngày 20/11/2024) - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Bùi Hồng H - chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm y tế T, (Văn bản ủy
quyền ngày 22/9/2025) - Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ trụ sở: Khối T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay là khối T,
xã T, tỉnh Điện Biên).
Bị đơn: Ông Hoàng Văn L - sinh năm 1974 và bà Lò Thị D - sinh năm
1980; cùng địa chỉ: Bản T, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên (Nay là bản T, xã C,
2
tỉnh Điện Biên) - Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Hoàng Thị P – sinh 1964; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Vắng mặt
có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Hoàng Thị H1 – sinh 1966; địa chỉ: Bản H, xã C, tỉnh Điện Biên. Vắng
mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Hoàng Thị L1 – sinh 1969; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Vắng
mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Hoàng Văn K1 – sinh 1972; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Vắng
mặt có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Hoàng Thị L2 – sinh 1983; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Vắng
mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- Ông Lò Văn T - sinh năm 1956; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Có
mặt;
- Ông Quàng Văn S - sinh năm 1956; địa chỉ: Bản Y, xã C, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt;
- Ông Lò Văn T1 - sinh năm 1962; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt;
- Ông Lò Văn S1 - sinh năm 1958; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt;
- Ông Lò Văn S2 - sinh năm 1938; địa chỉ: Bản M, xã C, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt;
- Ông Lò Văn N - sinh năm 1978; địa chỉ: Bản T, xã C, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt.
Người phiên dịch cho bà Lò Thị D: bà Bạc Thị K2; địa chỉ: bản X, xã T,
tỉnh Điện Biên.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 20/11/2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày
04/9/2025, ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
Trung tâm y tế huyện T trình bày:
Ngày 25/11/2010 nguyên đơn được cấp 1.338,1 m
2
đất thuộc thửa đất số
04, tờ bản đồ số 03 tại bản T, xã M, huyện T (nay là xã C), tỉnh Điện Biên để
làm trụ sở (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài
sản khác gắn liền với đất có số bìa BA 591245, số vào số cấp GCN: CT 00326
ngày 25/11/2010 của UBND tỉnh Đ) Đất được cấp có vị trí trước đây đặt trạm y
tế xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Về nguồn gốc đất: Trạm y tế hoạt động từ năm 1992, đến khoảng năm 1998
- 1999 được sửa chữa lại. Tại khu đất của Trạm y tế trước đây gia đình bị đơn
(ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D) có mượn một góc nhỏ làm quán bán hàng.
3
Đến năm 2001 bị đơn đã mở rộng thêm quán, đến nay bị đơn đã xây dựng thành
nhà ở. Diện tích đất bị đơn dựng quán, làm nhà khoảng 195 m
2
, nằm trong diện
tích đất của Trung tâm y tế được cấp năm 2010.
Tại biên bản làm việc ngày 24/9/2025, Trung tâm y tế trình bày: Trung tâm
y tế không lưu giữ hồ sơ lưu về quy hoạch sử dụng đất của Trạm y tế và đã làm
việc với các cơ quan có thẩm quyền về hồ sơ quy hoạch sử dụng đất của Ủy ban
nhân dân xã M nhưng không có các tài liệu này.
Nguyên đơn hiện nay được đầu tư xây dựng mới, đã nhiều lần yêu cầu gia
đình ông L trả lại phần đất đã mượn và lấn chiếm để bàn giao mặt bằng cho bên
thi công, nhưng gia đình ông L không thực hiện. Nguyên đơn đã yêu cầu Ủy ban
nhân dân xã M tổ chức hòa giải việc tranh chấp đất đai giữa hai bên nhưng
không thành.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn diện tích 195 m
2
đất đã mượn và lấn chiếm. Sau khi có kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ,
nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau: Yêu cầu bị đơn trả cho
nguyên đơn 238 m
2
đất có địa chỉ tại bản T, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên (nay
là bản T, xã C, tỉnh Điện Biên). Tứ cận đất: Phía bắc giáp đất Trung tâm y tế
Tuần Giáo dài 14,3 m; hướng Nam giáp đất ông Lò Văn N; hướng Đông giáp
đất hành lang đường bê tông liên xã; hướng Tây giáp đất Trung tâm y tế T, dài
15,2 m; đồng thời tháo dỡ di dời tài sản trên đất gồm: 01 nhà gỗ cấp bốn 02
gian, vách đất, mái lợp ngói Proximang, diện tích 50,5 m
2
(đã mục nát) và 01
nhà cấp bốn khung bằng sắt, mái lợp tôn, cửa sắt kéo 04 cánh, nền láng xi măng,
diện tích 69,0 m
2
trên đất tranh chấp (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 24/4/2025).
Tại Văn bản lấy lời khai ngày 27/3/2025 và quá trình giải quyết vụ án,
bị đơn ông Hoàng Văn L, bà Lò Thị D trình bày:
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nếu muốn lấy
đất thì phải bồi thường cho bị đơn. Nguồn gốc đất bị đơn đang sử dụng là của
ông Hoàng Văn K3 (bố đẻ ông L) khai hoang sử dụng từ năm 1986, không có
tranh chấp, ông K3 cho bị đơn vào năm 2001. Trên đất khi cho có một nhà gỗ
nhỏ 02 gian, vách đất do ông K3 làm đã lâu nên không nhớ thời gian làm (hiện
vẫn còn); lúc cho không có văn bản, giấy tờ gì mà chỉ nói miệng, chỉ biết cho ở
vị trí hiện tại đang sử dụng, không biết diện tích, không biết các cạnh giáp ranh
là như thế nào. Bị đơn chưa đăng ký, kê khai đất với cơ quan có thẩm quyền vì
trong xã cũng không ai làm việc này. Quá trình sử dụng đất bị đơn đã dựng 01
nhà 3 gian bằng gỗ và một nhà 02 gian bằng sắt, khi xây dựng nhà gỗ 3 gian thì
không có cá nhân, tổ chức nào đến can ngăn, khi xây dựng nhà 2 gian bằng sắt
thì có Ủy ban nhân dân xã M đến can ngăn không cho bị đơn xây dựng nhưng bị
đơn không chấp hành mà vẫn tiếp tục làm vì là đất của bị đơn. Hiện nay trên đất
vẫn có một nhà 03 gian bằng gỗ và 01 nhà 02 gian bằng sắt trên. Khi làm nhà bị
đơn không xin phép xây dựng. Bị đơn không biết việc Nguyên đơn được cấp
đất như thế nào, cấp thời gian nào, chỉ biết đã sử dụng đất ở vị trí hiện tại trước
khi Trạm y tế xã M đến. Từ năm 2001 đến nay gia đình sử dụng liên tục, chỉ có
4
khoảng 2-3 tháng bị đơn không ở nhà do bố ốm và nhà xuống cấp. Trước đây
khoảng năm 1986 ông Lò Văn T (bố vợ ông L) là trưởng trạm y tế còn mượn đất
của ông K3 để làm nhà ăn cho Trạm y tế xã M.
Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Hoàng Thị P, bà Hoàng Thị H1, bà Hoàng Thị L1, ông Hoàng Văn K1,
bà Hoàng Thị L2 đã được Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên bổ sung vào tham gia
tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án tranh
chấp về quyền sử dụng đất giữa trung tâm y tế huyện T khởi kiện đối với ông
Hoàng Văn L và bà Lò Thị D ở bản T, xã C, tỉnh Điện Biên. Trong vụ án này
các ông bà có tên trên không có ý kiến gì, đất tranh chấp là của bố mẹ cho ông L
và bà D đã lâu, anh em khác trong nhà đều đồng ý vì không đóng góp gì vào đất,
không có tài sản gì trên đất tranh chấp. Việc này những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trên cũng đã có văn bản gửi Tòa án cấp phúc thẩm và cùng
đồng ý tham gia tố tụng trong vụ án này từ giai đoạn xét xử phúc thẩm, việc giải
quyết vụ án như thế nào đều do ông L và bà D có ý kiến và quyết định, những
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì và không có yêu cầu
độc lập trong vụ án này.
Những người làm chứng trình bày:
Tại Kết quả thẩm tra, xác minh của Ủy ban nhân dân xã M khi hòa giải:
- Các ông Quàng Văn X (cán bộ hưu trí ở bản Y, M; nguyên chủ tịch
UBND xã M); Lò Văn S1 (cán bộ hưu trí ở bản T, nguyên bí thư Đảng ủy xã M);
Lò Văn T1 (cán bộ hưu trí ở bản T, nguyên chủ tịch UBND xã M); Lò Văn S2
(nguyên bí thư đảng ủy xã M) trình bày:
Ông X, ông S1, ông T1 và ông S2 đều là cán bộ chủ chốt của Ủy ban nhân
dân xã M những năm trước đây. Trạm y tế ở vị trí hiện tại từ lâu; trước đó là Ủy
ban nhân dân xã M ở đây, năm 1988 Uỷ ban nhân dân xã chuyển vị trí khác và
giao lại đất cho Trạm y tế; không có nhà dân nào ở đây. Sau đó ông Lò Văn Ự
và bà Cầm Thị Ự1 có dựng một lán nhỏ khoảng 4-5 m
2
bán hàng (phần đất hành
lang giáp đường). Khi gia đình bà Ự1 không bán nữa , thì ông Hoàng Văn K3
(bố đẻ L) dựng lên một lán nhỏ khoảng 4-5 m
2
bán bánh kẹo, chè thuốc. Sau khi
ông K3 chết thì gia đình ông L, bà D tiếp tục bán hàng và cơi nới rộng ra như
hiện nay; khi gia đình ông L cơi nới nhà thì ông T là trạm trưởng trạm y tế và là
bố vợ ông L. Khoảng năm 1997- 1998 quy hoạch trạm y tế, thì nhà ông L, bà D
chỉ khoảng 20 - 30 m
2
, chưa rộng như bây giờ.
- Ông Lò Văn T (nguyên trưởng trạm y tế xã M): Khoảng năm 1991 Trạm
y tế được làm bằng nhà gỗ tốc xi tại sân của trung tâm y tế H2. Trước thời điểm
trạm y tế làm nhà tạm, ông Hoàng Văn K3 đã làm quán tại mảnh đất hiện tại ông
bà L, D đang sử dụng. Trước ông K3 làm quán thì không có ai ở khu vực này,
cũng không có tường bao quanh nhà của T2 y tế. Khi trạm y tế được xây mới
(ông T không nhớ rõ năm nào) và nhà toc xi cũ được dỡ đi. Sau khi ông K3
chết, gia đình ông L và bà D (con ông K3) sử dụng và xây dựng mở rộng như
5
hiện nay. Khi Trung tâm y tế Đ khi đó do nhiều trộm cắp nên ông L và bà D vẫn
để Trung tâm y tế xây để tiện việc bảo vệ tài sản. Năm 2010 Trung tâm y tế đo
đạc để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã đo theo khuôn viên
tường bao đã xây, gồm cả phần đất ông L và bà D đang sử dụng.
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 9 và ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3, các ông Lò Văn S1, Lò Văn T1, Lò Văn S2,
Quàng Văn T3 cùng trình bày: "...Ủy ban nhân dân xã M đã nhiều lần nhận được
đề nghị của Trung tâm y tế huyện T và Trạm y tế xã M đề nghị Uỷ ban nhân dân
xã giải quyết buộc ông L, bà D di dời tài sản trên đất và trả lại đất cho Trung
tâm y tế huyện T. Ủy ban nhân dân xã M đã nhiều lần triệu tập ông L, bà D đến
để làm việc nhưng ông L, bà D không tuân thủ, không chấp hành việc di dời tài
sản, trả lại đất cho Trung tâm y tế T".
- Tại biên bản lấy lời khai ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 3, ông Lò Văn N trình bày: Do thời gian lâu, ông Nguyễn K4 nhớ
chính xác có được tham gia cùng đo đạc cắm mốc giới không, nhưng về vị trí
mốc giới giữa đất của gia đình ông N và đất của trạm Y tế xã M (nay là Trung
tâm y tế T) đã được xác định rõ trên thực tế và quá trình sử dụng đất ổn định từ
năm 2008 đến nay không có tranh chấp. Mốc ranh giới thửa đất của ông N và
Trung tâm y tế Tuần Giáo phù hợp với mốc giới tại các điểm số 1, 4, 5 theo sơ
đồ hiện trạng thửa đất tranh chấp tại xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2025
của Tòa án khu vực 3- Điện Biên.
Tại công văn số 3383/SNNMT-VPĐKĐĐ ngày 29/8/2025 của Sở N1 về
việc Phúc đáp văn bản số 03/CV-TA ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 3: "...Việc đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới trạm y tế xã M đã được đơn
vị tư vấn (Trung tâm Đ1- Công ty Đ2 địa chính và công trình ) thực hiện ngày
07/9/2008 tại biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử
dụng đất) có xác nhận của đại diện chủ sử dụng đất (Trạm y tế xã M), cán bộ địa
chính, cán bộ đo đạc, chủ sử dụng đất giáp danh Uỷ ban nhân dân xã và ông Lò
Văn N...).
- Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 24/4/2025:
+ Diện tích đất tranh chấp là 238 m
2
, nằm trong khuôn viên tường bao do
nguyên đơn xây; trên đất tranh chấp có: Một nhà gỗ vách đất 02 gian lợp proxi
măng, có diện tích 50,5 m
2
và một nhà khung sắt lợp tôn diện tích 69 m
2
(có vị
trí ở phần giáp tường bao do Trung tâm y tế làm, phía giáp nhà ông N).
2. Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Căn cứ vào các Điều 46, 47, 50, khoản 1 Điều 51 của Luật Đất đai năm
2003; khoản 1 Điều 137, 235, khoản 1 Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
6
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39,
các Điều 147, 155, 157, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trung tâm y tế T:
- Buộc các bị đơn trả cho nguyên đơn 238,0m
2
đất tại bản T, xã C, tỉnh
Điện Biên (nằm trong diện tích đất 1.338,1m
2
thuộc thửa số 04, tờ bản đồ số 03
có Giấy chứng nhận sử dụng đất số BA 591245 ngày 25/11/2010 của Sở Tài
nguyên và Môi trường tỉnh Đ: Phía bắc giáp đất của nguyên đơn dài 14,3m; phía
nam giáp đất ông Lò Văn Nguyễn D1 15,8 m; hướng đông giáp đất hành lang
đường dài 14,8 m; hướng Tây giáp đất của nguyên đơn 15,2 m. Các bị đơn phải
tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên diện tích đất phải trả cho nguyên đơn.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho các bị
đơn.
- Chi phí tố tụng: Công nhận việc nguyên đơn tự nguyện chịu 2.400.000
đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ
quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/10/2025 bị đơn ông Hoàng Văn L và bà Lò
Thị D kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Điện Biên, yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh
Điện Biên hủy toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Điện Biên để điều tra, xác minh lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, nguyên đơn vắng mặt tại phiên
toà có đơn đề nghị vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn.
* Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về việc
tuân theo pháp luật và việc giải quyết vụ án:
- Về trình tự thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý đến nay, Thẩm phán được phân
công đã thực hiện việc Thông báo cho các đương sự, Viện kiểm sát theo đúng
quy định.
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng và đầy đủ theo quy định của
pháp luật tố tụng dân sự.
7
- Về nội dung vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo của bị đơn đối với Bản án số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025
của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Điện Biên.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3, tỉnh Điện Biên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên
tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên, Hội đồng xét xử
phúc thẩm nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại phiên toà phúc thẩm, Nguyên đơn và những người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử xét thấy sự
vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; việc tiếp
tục giải quyết vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện
Biên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ
luật tố tụng Dân sự.
[1.2] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D có đơn
kháng cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, Điều
272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự, được chấp nhận xem xét theo thủ tục
phúc thẩm.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết, căn cứ vào đơn khởi
kiện và tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn
trả lại 238,0m
2
đất và tháo dỡ di dời tài sản trên đất có địa chỉ tại bản T, xã M,
huyện T, tỉnh Điện Biên; đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trước
đó, ngày 18/10/2024 Ủy ban nhân dân xã M đã tiến hành hòa giải giữa các bên
nhưng không thành; Nguyên đơn là một cơ quan nhà nước, khởi kiện để bảo vệ
lợi ích của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách nên thuộc trường hợp không
phải nộp tạm ứng án phí theo khoản 4 Điều 187 BLTTDS và điểm b khoản 1
Điều 11 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là "Tranh chấp quyền sử dụng
đất và yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất" thụ lý vụ án và giải quyết vụ án là
đúng thẩm quyền, phù hợp với quy định của pháp luật.
[1.4] Việc bổ sung người tham gia tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm, Sau
khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy ông K3 và vợ
đã chết, trong khi Tòa án cấp sơ thẩm chưa đưa đầy đủ những người thừa kế của
ông K3 vào tham gia tố tụng, dẫn đến việc xác định thành phần người tham gia
tố tụng chưa đầy đủ. Để bảo đảm giải quyết vụ án toàn diện, triệt để, đúng quy
định pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm đã bổ sung các con của ông K3 gồm bà
8
Hoàng Thị P, bà Hoàng Thị H1, bà Hoàng Thị L1, ông Hoàng Văn K1 và bà
Hoàng Thị L2 tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan. Các đương sự được bổ sung đều nhất trí tham gia tố tụng từ giai đoạn
phúc thẩm, không có yêu cầu độc lập và không có ý kiến tranh chấp riêng, do đó
việc bổ sung này không làm phát sinh tình tiết mới làm thay đổi bản chất vụ án,
mà chỉ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Ngoài ra, xét thấy cần thiết cho việc làm rõ nguồn gốc, quá trình quản lý,
sử dụng diện tích đất tranh chấp, Tòa án cấp phúc thẩm đã bổ sung những người
biết rõ sự việc vào tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng. Việc bổ
sung này là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhằm thu thập
đầy đủ chứng cứ, làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm
thấy rằng:
[2.1] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất nguyên đơn đã được
cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bị đơn đang
chiếm dụng, đồng thời tháo dỡ, di dời tài sản trên đất với lý do: Đất thuộc quyền
sử dụng của nguyên đơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan
có thẩm quyền cấp năm 2010. Hội đồng xét xử xét thấy:
Trạm y tế xã M xây dựng trụ sở ở vị trí Trung tâm y tế Tuần Giáo hiện nay
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1992. Khi đó đất Trạm y tế
xây dựng trụ sở là đất của Ủy ban nhân dân xã M đang sử dụng. Do công tác
quản lý đất đai thời điểm đó còn lỏng lẻo, nên việc Uỷ ban nhân dân xã giao đất
cho Trạm y tế không có giấy tờ gì. Trước đó tại rìa đường khu đất của Uỷ ban
nhân dân xã, có bà Cầm Thị Ự1 đến dựng một lán bằng tre nứa có diện tích
khoảng 4-5 m
2
để bán bánh kẹo. Sau đó bà Ự1 không bán hàng nữa, lán để
không một thời gian thì ông K3 tiếp tục dựng quán tại đó để bán hàng.
Đến năm 2001 các bị đơn (con ông K3) mới cơi nới thêm và dựng lên quán
bằng gỗ (thời điểm này ông T – bố bà D là Trạm trưởng trạm y tế xã) Khi đó các
bị đơn đã có nhà ở vị trí khác tại xã M. Năm 2007 Trạm y tế xây dựng tường
bao gồm cả phần đất bị đơn dựng nhà gỗ bán hàng, các bị đơn không có ý kiến
gì. Đến những năm 2018, 2019, 2020 các bị đơn xây móng tường bao trên đất
tranh chấp và cơi nới làm nhà khung sắt, Ủy ban nhân dân xã M và Trạm y tế đã
yêu cầu các bị đơn dừng việc xây dựng nhưng các bị đơn không thực hiện vì cho
rằng đây là đất của bị đơn.
Năm 2010 Sở tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất cho nguyên đơn trên cơ sở tường bao của Trạm y tế đã xây từ năm
2007, khi xây tường bao, ông T là người thực hiện; đất thuộc thửa đất số 04, tờ
bản đồ số 03 được lập năm 2008. Như vậy, thửa đất của Trạm y tế đã được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền công nhận đưa vào bản đồ địa chính theo Quyết
định số 1327/QĐ-UBND ngày 01 tháng 11 năm 2010. Các bị đơn thừa nhận
không có giấy tờ gì về đất, không có tên trong sổ mục kê, sổ địa chính của xã M.
[2.2] Theo các báo cáo và biên bản thẩm tra xác minh đất của Ủy ban nhân
9
dân xã M đều thể hiện diện tích đất tranh chấp trước khi ông K3 dựng quán bán
hàng là lán của bà Cầm Thị Ự1 dựng lên để bán bánh kẹo, khoản 2-3 năm bà Ự1
bỏ không sử dụng nữa, khoảng năm 1990 ông K3 (khi đó đang công tác tại Ủy
ban nhân dân xã M) dựng một quán nhỏ tại vị trí lán của bà Ự1 để không với
diện tích rộng khoảng 4 - 5m
2
để bán hàng. Sau này ông L mới cơi nới quán này
ra từ năm 2001- năm 2020 mà chưa được phép của cơ quan tổ chức nào. Như
vậy, việc ông L, bà D cho rằng diện tích đất tranh chấp là đất của ông K3 (bố
ông L) khai hoang là không phù hợp.
[2.3] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thu
thập bổ sung chứng cứ thông qua việc ủy thác lấy lời khai đối với ông Quàng
Văn X và ông Lò Văn T1 là những người từng giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban
nhân dân xã M qua các thời kỳ. "...Khi UBND xã M mời ông L bà D lên làm việc
vào các ngày 18/4/2014 và ngày 21/5/2018, ngày 31/8/2018 là yêu cầu ông L bà
D trả lại diện tích đất
tranh chấp cho Trạm y tế xã M và Trung tâm y tế T, vì đất
này là đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Trung tâm y tế
huyện T (nay là Trung tâm y tế T) và nằm trong khuôn viên đất của Trạm y tế xã
Mường Thín đang sử dụng có tường xây bao quanh. Tuy nhiên, công tác quản lý
đất đai từ trước còn buông lỏng, đất quy hoạch cho Trạm y tế xã Mường Thín
chưa được rõ ràng qua các thời kỳ và bố ông L (ông Hoàng Văn K3) trước đây
cũng từng công tác tại Ủy ban nhân dân xã M, giữ chức vụ là Bí thư Đảng ủy xã
và ông Lò Văn T (bố vợ của ông L và là bố đẻ của bà D) cũng là Trạm trưởng
Trạm y tế xã M nên cũng nể nang về tình cảm nên Ủy ban nhân dân xã M mới
chuyển sang vận động ông L, bà D hiến đất cho Trạm y tế xã M và Trung tâm y
tế T hoặc lấy đất khác đổi đất cho ông L, bà D để ông L, bà D không tranh chấp
đất của Trạm y tế xã M và Trung tâm y tế T nhưng ông L, bà D yêu cầu phải
nhận được đất đổi cho thì mới đồng ý tháo dỡ di dời tài sản”. Nội dung các lời
khai trên thể hiện việc Ủy ban nhân dân xã M đã nhiều lần làm việc, yêu cầu
ông L, bà D trả lại diện tích đất đang tranh chấp cho Trạm y tế xã M và Trung
tâm y tế T, đồng thời có quá trình chuyển từ yêu cầu hành chính sang vận động
hiến đất hoặc thỏa thuận đổi đất. Tuy nhiên, việc cơ quan nhà nước chuyển sang
vận động hiến đất hoặc thỏa thuận đổi đất cho thấy bản thân cơ quan quản lý
cũng chưa có căn cứ pháp lý rõ ràng, chắc chắn để khẳng định quyền sử dụng
hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp thuộc về bị đơn, mà chủ yếu xử lý theo
hướng thỏa thuận, vận động nhằm giải quyết tình hình thực tế, nhằm tạo điều
kiện để ông L, bà D sớm chấm dứt việc quản lý, sử dụng diện tích đất đang có
tranh chấp, chứ không phải là căn cứ pháp lý để xác lập quyền sử dụng đất cho
bị đơn. Vì vậy, không có đủ cơ sở để khẳng định diện tích đất tranh chấp thuộc
quyền sử dụng hợp pháp của bị đơn; đồng thời, việc vận động hiến đất không
làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền sử dụng đất theo quy định của pháp
luật. Do đó, các nội dung thể hiện việc vận động hiến đất hoặc thỏa thuận đổi
đất không có giá trị pháp lý trong việc xác định chủ thể có quyền sử dụng đất
hợp pháp, và không được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
[2.4] Ý kiến của ông Lò Văn T về việc Trạm y tế mượn đất của ông Hoàng
Văn K3 để làm nhà ăn, nhưng không được củng cố bằng bất kỳ tài liệu, chứng
10
cứ hợp pháp nào trong hồ sơ vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận. Mặt
khác, quá trình Trạm y tế thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, chính ông T với tư cách là Trưởng Trạm y tế đã trực tiếp xác định mốc giới,
ranh giới thửa đất cho cơ quan đo đạc và không có ý kiến tranh chấp, khiếu nại
gì về diện tích, ranh giới đất. Điều này thể hiện tại thời điểm lập hồ sơ địa chính,
thửa đất đã được quản lý, sử dụng ổn định, công khai, không có tranh chấp. Do
đó, ý kiến của ông T là không có giá trị chứng minh, không làm phát sinh căn cứ
xác định quyền sử dụng đất của các bị đơn đối với diện tích đất đang tranh chấp.
[2.5] Tại Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất của Trạm y tế xã
Mường Thín lập năm 2008 thể hiện trong quá trình đo đạc, xác lập hồ sơ địa
chính, có sự tham gia của các chủ sử dụng đất liền kề và cơ quan có thẩm quyền,
phản ánh khách quan hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm đó. Việc các bị đơn
không được xác định là chủ sử dụng đất liền kề, cũng như không ký xác nhận
giáp ranh, cho thấy tại thời điểm lập biên bản, không phát sinh việc quản lý, sử
dụng đất của các bị đơn đối với phần đất đang tranh chấp. Do đó, có đủ cơ sở
xác định diện tích đất của Trạm y tế đã được xác lập ranh giới rõ ràng, công khai
và không có tranh chấp với các bị đơn từ thời điểm năm 2008. Như vậy, việc các
bị đơn không được ghi nhận là người sử dụng đất liền kề trong hồ sơ địa chính
được lập hợp pháp, đồng thời không có ý kiến tranh chấp tại thời điểm xác lập
ranh giới, là căn cứ để xác định các bị đơn không có quyền, lợi ích hợp pháp liên
quan đối với diện tích đất đang tranh chấp.
[2.6] Kết quả thẩm định thể hiện diện tích đất đang tranh chấp nằm trong
phạm vi thửa đất đã được cơ quan có thẩm quyền cấp cho nguyên đơn, phù hợp
với hiện trạng quản lý, sử dụng đất trên thực tế. Phần đất này nằm trong khuôn
viên tường bao do Trạm y tế xây dựng từ năm 2007, hiện vẫn còn tồn tại một
cạnh tường bao cũ giáp với nhà ông Lò Văn N, thể hiện ranh giới sử dụng đất ổn
định, liên tục. Đồng thời, tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện việc sử dụng đất của
Trạm y tế xã M đã được cơ quan có thẩm quyền ghi nhận từ năm 1994 với diện
tích 1.338,10m² theo Danh mục các thửa đất được công nhận quyền sử dụng đất
ban hành kèm theo Quyết định số 1327/QĐ-UBND ngày 01/11/2010 của Ủy ban
nhân dân tỉnh Đ về việc công nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức đang sử
dụng đất trên địa bàn huyện T. Sự phù hợp giữa hiện trạng sử dụng đất, kết quả
thẩm định tại chỗ và hồ sơ pháp lý nêu trên cho thấy diện tích đất tranh chấp
thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp, ổn định, liên tục của Trạm y tế; không
có căn cứ xác định các bị đơn có quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất
tranh chấp này.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ di dời tài sản trên đất là
có căn cứ theo Điều 46,47,50, khoản 1 Điều 51 Luật Đất đai năm 2003; khoản 1
Điều 137, 235, khoản 1 Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024, các Điều 147,
155, 157, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 sửa đổi bổ
sung năm 2025.

11
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn
cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D, Ý kiến của
Kiểm sát viên là phù hợp, cần chấp nhận. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo của các bị đơn không được chấp nhận, các bị
đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, Ông Hoàng Văn L, bà Lò
Thị D là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó
khăn theo Quyết định số 60/QĐ-BDTTG ngày 29/01/2026 của Bộ D2 và Tôn
giáo; tại phiên tòa sơ thẩm ông L, bà D đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp án phí
Tòa án. Ông L, bà D thuộc trường hợp được miễn án phí theo điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn
án phí dân sự phúc thẩm cho các bị đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng Dân sự, bác toàn bộ kháng cáo
của ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D, giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự
sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 28/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Điện Biên.
2. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hoàng Văn L và bà Lò Thị D.
3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo,
kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Điện
Biên;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên;
- Các đương sự;
- THADS tỉnh Điện Biên;
- Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Điện Biên;
- Lưu hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Bùi Thị Thu Hằng
12
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm