Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 71/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 71/2026/HS-PT ngày 26/03/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 71/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/03/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bản án số 71
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 71/2026/HS-PT
Ngày: 26-3-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thiện Tâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phước Thanh
Ông Trần Thanh Tòng
- Thư ký phiên tòa: Thị Ánh Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Hồng Vi – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 226/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng
11 năm 2025. Do kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Diễm K đối với Bản án hình sự
sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 3 - Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Thị Diễm K, sinh ngày 04/11/1997; tại tỉnh Hậu Giang (nay Thành
Phố Cần Thơ); nơi cư trú: Ấp P, P, huyện C, tỉnh Hậu Giang (nay P,
Thành phố Cần Thơ); nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T,
sinh năm 1974 và Ngô Kim T1, sinh năm 1974; chồng và con chưa có; tiền sự,
tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/4/2025, đến ngày 12/6/2025 được thay
thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh cho đến ngày 24/6/2025. Bị cáo vắng mặt
tại phiên tòa.
Ngoài ra, vụ án còn 01 người bị hại 07 người liên quan không
kháng cáo hoặc liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
2
Khoảng gần cuối tháng 6 năm 2024, bị cáo Đỗ Thị Diễm K nảy sinh ý định
chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua việc mua, bán hạt nhựa phế liệu, thu
lợi bất chính tiêu xài nhân. Bị cáo K sử dụng điện thoại di động Iphone XS
Max, màu vàng, gắn sim số 0909493399 đăng nhập vào tài khoản Zalo tên K1 để
tìm những người nhu cầu mua, bán hạt nhựa phế liệu trên các Hội nhóm mua
bán nhựa nguyên sinh. Thông qua tài khoản zalo này, bị cáo K nhắn tin vào tài
khoản Z tên Đình Q của ông Đình Q hỏi mua hạt nhựa phế liệu thành phẩm,
ông Q cung cấp hình ảnh và thông tin về hàng hóa cho bị cáo K biết.
Đến sáng ngày 28/6/2024, bị cáo K yêu cầu ông Q bán 01 bao hạt nhựa PE
sữa mẫu, trọng lượng 50kg, với số tiền 1.150.000 đồng để kiểm tra chất lượng,
nếu đảm bảo chất lượng sẽ mua số lượng 05 tấn, ông Q đồng ý. Đến trưa cùng
ngày, bị cáo K nhắn tin vào tài khoản Zalo tên Thanh T2 của Đỗ Quý Thanh
T2 chào bán 05 tấn hạt nhựa sữa PE với số tiền 20.000 đồng/ 01kg, bà T2 yêu cầu
mua trước 01 bao hạt nhựa trọng lượng 50kg, với số tiền 1.050.000 đồng để kiểm
tra chất lượng, bị cáo K đồng ý. Sau đó, bị cáo K nhắn tin cho ông Q yêu cầu ông
Q giao 01 bao hạt nhựa đặt mua trước đó đến địa chỉ của bà T2 tại địa chỉ: Số A,
đường B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, ông Q đồng ý. Sau
khi nhận được hạt nhựa, bà T2 sử dụng tài khoản Ngân hàng số 3539353986 của
T2 mở tại Ngân hàng V chuyển số tiền 1.050.000 đồng vào tài khoản Ngân
hàng s070087281327 của bcáo Kiều mở tại Ngân hàng S2. Sau đó, bcáo Kiều
chuyển số tiền 1.050.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng số 0381000545048 của
ông Q mở tại Ngân hàng V1, số tiền còn thiếu sẽ tính vào hóa đơn mua hàng lần
sau.
Đến khoảng 13 giờ ngày 03/7/2024, ông Phan Văn H - Giám đốc Công ty
cổ phần V2, địa chỉ: Ấp B, Đ, huyện Đ, tỉnh Long An liên hệ với T2 đặt
mua 05 tấn hạt nhựa tái sinh PE với số tiền 21.000 đồng/ 01 kg, T2 đồng ý.
Sau đó, T2 đặt mua của bị cáo K 05 tấn hạt nhựa với số tiền 20.000 đồng/ 01kg
yêu cầu bo K giao đến Công ty cổ phần V2, bị o K đồng ý. Sau đó, bị cáo
K liên hệ với ông Q mua 05 tấn hạt nhựa với số tiền 115.000.000 đồng (tương
đương số tiền 23.000 đồng/ 01kg) yêu cầu ông Q giao hàng đến Công ty cổ
phần V2 theo yêu cầu của bà T2 và cung cấp cho Quân số điện thoại 0789557364
để liên hệ khi giao hàng, ông Q đồng ý.
Đến khoảng 11 giờ ngày 04/7/2024, ông Q thuê xe ô biển số 51C-448.85
của ông Trần Đại N để chở hàng đi giao, ông N phân công ông Trần Thanh T3
điều khiển xe ô tô biển số 51C-448.85 vận chuyển hàng cho ông Q. Sau đó, ông
T3 điều khiển xe ô tô biển số 51C-448.85 chở ông T4 và ông S (không rõ nhân
thân, lai lịch) nhân viên bốc xếp hàng hóa đến sở nhựa bảng hiệu V, địa
chỉ: Số C, đường L, phường B, quận B, Thành phHồ Chí Minh nhận 05 tấn hạt
nhựa tái chế u trắng được đựng trong 100 bao nylon u vàng 04 sọc màu
xanh và chở số hàng hóa này đến giao tại Công ty cổ phần V2. Lúc này, bị cáo
K thông báo cho T2 biết khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày xe chở hàng của
bị cáo K sẽ giao hàng đến cho bà T2.
3
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, ông T3 điều khiển xe ô nói trên đến địa
phận tỉnh Long An và liên hvới số điện thoại 0789557364 để giao hàng cho ông
Q, nhưng người nghe điện thoại nói không biết ông Q và không có mua hàng của
ông Q. Cùng lúc này, bị cáo K nhắn tin cho ông Q hỏi xin số điện thoại của tài xế
giao hàng để liên hệ chỉ nơi giao ng, ông Q cung cấp số điện thoại 0862461452
của ông T3, nhưng bị cáo K không liên hệ với ông T3 mà gửi cho ông Q tin nhắn
định vị của Công ty cổ phần V2 để giao hàng đến đây. Sau khi ông T3 điều khiển
xe ô đến Công ty cphần V2, bị cáo K thông báo cho bà T2 biết xe đã đến giao
hàng. Lúc này, T2 liên hệ với ông H, thông báo xe giao hàng đến trước cổng
công ty, bảo ông H nhận hàng, ông H đồng ý phân công nhân viên kiểm tra
chất lượng số lượng hàng hóa. Sau khi kiểm tra xong, ông H cho nhận hàng
nhập hàng vào kho, ông H phân công nhân viên thanh toán số tiền 105.000.000
đồng chuyển vào tài khoản Ngân hàng số 3539353986 của T2, T2 xác nhận
đã nhận đủ tiềncho xe chở hàng rời đi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, T2
chuyển số tiền 100.000.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng số 070087281327 của
bị cáo K. Sau đó, ông Q liên hệ với ông T3 và được ông T3 thông báo đã giao số
hàng của ông Q cho Công ty cổ phần V2. Lúc này, ông Q nhắn tin với bị cáo K,
bảo bị cáo K chuyển trả tiền hàng cho ông Q, bcáo K đồng ý nói với ông Q
sẽ yêu cầu Kế toán đến Ngân hàng chuyển khoản cho ông Q. Một lúc sau, bị cáo
K thông báo với ông Q không thể thanh toán tiền cho ông Q, bảo ông Q đem số
hàng hóa nói trên về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, ông Q nhắn tin cho bị cáo K
yêu cầu bị cáo Kiều nâng số hàng đưa lại lên xe, nhưng không thấy bị cáo K trả
lời, ông Q gọi điện thoại, nhắn tin cho bị cáo K nhưng không liên lạc được vì bị
cáo K đã tắt nguồn điện thoại, xóa kết bạn zalo với ông Q và bà T2. Đến khoảng
17 giờ ngày 04/7/2024, ông Q đến Công ty cổ phần V2 nói là chủ số hàng trên
chưa nhận được tiền mua hàng. Đến ngày 11/8/2024, ông Đình Q đến Công an
xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An tố giác vụ việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐGTS ngày 01/10/2024 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình shuyện Đ, tỉnh Long An (nay
tỉnh Tây Ninh) kết luận: “05 tấn hạt nhựa PE sữa phế liệu, trị giá 100.000.000
đồng.
Tại Bản cáo trạng số 117/CT-VKSTA ngày 24/6/2025 của Viện kiểm sát
nhân dân huyện Đức Hòa (nay là Viện kiểm sát Khu vực 3 - Tây Ninh) truy tố bị
cáo Đỗ Thị Diễm K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c
khoản 2 điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 48/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Tây Ninh, đã xét xử:
1. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Diễm K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
4
X pht b cáo Đỗ Thị Diễm K 03 (ba) năm tù, thời hạn tính từ ngày
chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ tạm giam từ ngày 24/4/2025 đến
ngày 12/6/2025.
Ngoài ra, án thẩm n tuyên về: Thời hạn tiếp tục tạm giam, xử vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm: Ngày 11/9/2025, bị cáo Đỗ Thị Diễm K kháng o
một phần của bản án sơ thẩm vhình phạt được hưởng án treo hoặc cải tạo không
giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Diễm K đúng thời hạn và đúng
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên vụ án đủ điều kiện để xem xét lại theo
thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vắng mặt, căn cứ điểm c khoản
1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xét xử vụ án vắng mặt bị cáo.
Về nội dung: Qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Tòa
án cấp thẩm đã t xử bị cáo Đỗ Thị Diễm K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sđúng người,
đúng pháp luật, mức hình phạt loại hình phạt đã xử phạt bị o là phù hợp. Đối
với kháng cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo không
có căn cứ để chấp nhận. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo có cung cấp thêm hồ
khám chữa bệnh hiện tại của bị cáo, nên đề nghị xem xét giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị o 06 tháng tù. Các quyết định khác của bản án thẩm không
có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án, Hội
đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Đỗ Thị Diễm K
Đơn kháng cáo. Xét Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật
định, nên được xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật
tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của bị cáo tại phiên tòa: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều
351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị
cáo.
[2] Về nội dung vụ việc: Bị o ĐThị Diễm K đã có ý thức chiếm đoạt i
sản của ông Lê Đình Q trước, nên khoảng 13 giờ ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại
khu vực ấp B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An (nay là xã Đ, tỉnh Tây Ninh), bị cáo
hành vi gian dối thông qua giao dịch mua 05 tấn hạt nhựa tái sinh của ông Q
5
trị giá 100.000.000 đồng để bán lại cho người khác, ông Q tin tưởng giao hàng
theo yêu cầu của bị cáo, để bị cáo chiếm đoạt. Do đó, bị cáo đã bị Tòa án cấp
thẩm tuyên bố phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c
khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự là xét xử đúng người, đúng tội, không oan cho
bị cáo và đã tuyên phạt bị cáo mức án 03 năm tù là tương xứng.
[3] Về yêu cầu kháng cáo của bị cáo, xét thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, nên việc xem xét
cho bị cáo được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ sẽ không có tác dụng
giáo dục riêng phòng ngừa chung trong xã hội, nên không chấp nhận kháng
cáo của bị cáo.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm bị cáo cung cấp hồ khám chữa bệnh
hiện tại của bị cáo, nên Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt
cho bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham
gia phiên tòa là có căn cứ để chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Thị Diễm K không phải chịu
án phí.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng Hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Thị Diễm K. Sửa một phần
về hình phạt đối với bị cáo Đỗ Thị Diễm K tại Bản án hình sự thẩm số
48/2025/HS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Tây
Ninh.
2. Về tội danh:
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Thị Diễm K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
3. Về hình phạt:
Căn cứ: Điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều
51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự.
X pht b cáo Đỗ Thị Diễm K 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù. Thời hạn tù
tính từ ngày chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 24/4/2025
đến ngày 12/6/2025.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ các Điều 135 Điều 136 Bộ luật Ttụng Hình sự năm 2015 sửa
đổi, bổ sung năm 2021 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
6
Bị cáo Đỗ Thị Diễm K không phải chịu án phí.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng o, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghtheo
thủ tục phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh (01);
- TAND Khu vực 3 (02);
- VKSND Khu vực 3 (01);
- THADS tỉnh Tây Ninh (01);
- Công an tỉnh Tây Ninh (02);
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thiện Tâm
Tải về
Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 71/2026/HS-PT Bản án số 71/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất