Bản án số 08/2026/HC-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2026/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2026/HC-PT ngày 08/09/2026 của TAND tỉnh Ninh Bình
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Ninh Bình
Số hiệu: 08/2026/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/09/2026
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Ông Nguyễn Pháp C cùng ông T, bà T1 khiếu kiện hành vi hành chín
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NINH BÌNH
Bản án số: 08/2026/HC-PT
Ngày: 08 - 9 - 2026
V/v khiếu kiện hành vi
hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phượng.
Các Thẩm phán:
+ Ông Nguyễn Tiến Dũng;
+ Bà Trần Thị Sâm.
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình: bà Phạm Minh Ngọc -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 08 tháng 9 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 04/2026/TLPT-HC ngày 12
tháng 6 năm 2026 về khiếu kiện hành vi hành chính.
Do bản án hành chính sơ thẩm số 01/2026/HC-ST ngày 07/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2026/QĐ-PT ngày 13/7/2026,
Quyết định hoãn phiên toà hành chính phúc thẩm số 05/2026/QĐ-PT ngày
11/8/2026, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện:
1.1. Ông Nguyễn Pháp C, sinh năm 1962. Địa chỉ: thôn D H (nay là thôn H),
xã T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
1.2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969. Địa chỉ: thôn D H (nay là thôn H),
xã T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
1.3. Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974. Địa chỉ: thôn D H (nay là thôn H),
xã T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)
*. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: bà Nguyễn
Thị Thu L, Luật sư của Văn phòng L11, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. Địa
chỉ: số B, phố H, phường K, thành phố Hà Nội. (Có mặt)
2
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ninh Bình). Địa
chỉ: xã T, tỉnh Ninh Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: ông Nguyễn Văn Đ, Phó Chủ
tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: xã T, tỉnh Ninh Bình. Là
người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 04/9/2026). (Có mặt)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ninh Bình). Địa
chỉ: xã T, tỉnh Ninh Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T: ông Nguyễn
Văn Đ, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ninh Bình. Địa chỉ: xã T, tỉnh
Ninh Bình. Là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 04/9/2026).
(Có mặt)
3.2. Công ty TNHH X3. Địa chỉ: đường T, xã G, tỉnh Ninh Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH X3: ông Nguyễn Văn Q,
Giám đốc. Là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH X3. (Vắng mặt,
có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
3.3. Công ty TNHH một thành viên X4. Địa chỉ: thôn Đ, xã G, tỉnh Ninh
Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH một thành viên X4: ông
Nguyễn Văn C1, Giám đốc. Là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH
một thành viên X4. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
3.4. Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế
thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N). Địa chỉ: số A đường T, phường H,
tỉnh Ninh Bình.
*. Người đại diện hợp pháp của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công
trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N: ông Nguyễn Đình Đ1, Giám
đốc. Là người đại diện theo pháp luật của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng
công trình Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N. (Vắng mặt)
3.5. Ông Nguyễn Văn H. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.6. Ông Nguyễn Văn S. (Vắng mặt)
3.7. Ông Nguyễn Văn O. (Vắng mặt)
3.8. Bà Nguyễn Thị V. (Vắng mặt)
3.9. Bà Nguyễn Thị Quỳnh . (Vắng mặt)
3.10. Ông Nguyễn Văn C2. (Vắng mặt)
3
3.11. Bà Nguyễn Thị D. (Vắng mặt)
3.12. Ông Nguyễn Thành Đ2. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.13. Ông Nguyễn Văn Đ3. (Vắng mặt)
3.14. Ông Nguyễn Văn Đ4. (Vắng mặt)
3.15. Ông Nguyễn Văn D1. (Vắng mặt)
3.16. Ông Nguyễn Văn D2. (Vắng mặt)
3.17. Ông Nguyễn Văn D3. (Vắng mặt)
3.18. Ông Bùi Văn K. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.19. Ông Đinh Văn Q1. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.20. Ông Đinh Văn Q2. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.21. Ông Đinh Văn Q3. (Vắng mặt)
3.22. Ông Nguyễn Văn M. (Vắng mặt)
3.23. Ông Đinh Văn H1. (Vắng mặt)
3.24. Ông Nguyễn Văn S1. (Vắng mặt)
3.25. Ông Nguyễn Tiến T2. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.26. Ông Nguyễn Thành L1. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.27. Ông Nguyễn Khắc Đ5 (tên gọi khác là Nguyễn Văn Đ6). (Vắng mặt,
có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
3.28. Ông Nguyễn Văn T3. (Vắng mặt)
3.29. Ông Nguyễn Văn C3. (Vắng mặt)
3.30. Ông Nguyễn Văn T4. (Vắng mặt)
3.31. Ông Nguyễn Xuân H2. (Vắng mặt)
3.32. Ông Nguyễn Xuân H3. (Vắng mặt)
3.33. Ông Nguyễn Văn S2. (Vắng mặt)
3.34. Ông Nguyễn Ngọc L2. (Vắng mặt)
3.35. Ông Đinh Công K1. (Vắng mặt)
3.36. Ông Đinh Công Á. (Vắng mặt)
3.37. Ông Đinh Công T5. (Vắng mặt)
4
3.38. Ông Nguyễn Điện B. (Vắng mặt)
3.39. Bà Đinh Thị N. (Vắng mặt)
3.40. Bà Đinh Thị T6. (Vắng mặt)
3.41. Ông Nguyễn Văn S3. (Vắng mặt)
3.42. Ông Nguyễn Văn L3. (Vắng mặt)
3.43. Ông Nguyễn Văn Q4. (Vắng mặt)
3.44. Bà Nguyễn Thị N1. (Vắng mặt)
3.45. Ông Nguyễn Văn T7. (Vắng mặt)
3.46. Ông Nguyễn Văn D4. (Vắng mặt)
3.47. Ông Nguyễn Văn Đ7. (Vắng mặt)
3.48. Ông Nguyễn Văn Đ8. (Vắng mặt)
3.49. Ông Đinh Văn Đ9. (Vắng mặt)
3.50. Bà Đinh Thị G. (Vắng mặt)
3.51. Ông Đinh Văn H4. (Vắng mặt)
3.52. Ông Đinh Văn M1. (Vắng mặt)
3.53. Ông Nguyễn Văn Q5. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.54. Bà Nguyễn Thị G1. (Vắng mặt)
3.55. Ông Nguyễn Văn Q6. (Vắng mặt)
3.56. Bà Đinh Thị Đ10. (Vắng mặt)
3.57. Ông Đinh Văn M2. (Vắng mặt)
3.58. Ông Đinh Huy T8. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.59. Ông Đinh Trường G2. (Vắng mặt)
3.60. Ông Bùi Đình T9. (Vắng mặt)
3.61. Ông Đinh Văn C4. (Vắng mặt)
3.62. Bà Đinh Thị S4. (Vắng mặt)
3.63. Bà Đinh Thị K2. (Vắng mặt)
3.64. Ông Bùi Văn C5. (Vắng mặt)
3.65. Bà Hoàng Thị T10. (Vắng mặt)
3.66. Ông Nguyễn Quang X. (Vắng mặt)
3.67. Ông Nguyễn Văn L4. (Vắng mặt)
3.68. Ông Nguyễn Văn N2. (Vắng mặt)
5
3.69. Ông Bùi Văn K3. (Vắng mặt)
3.70. Ông Bùi Đức V1. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.71. Ông Nguyễn Văn T11. (Vắng mặt)
3.72. Ông Nguyễn Văn L5. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.73. Ông Nguyễn Văn S5. (Vắng mặt)
3.74. Ông Nguyễn Văn L6. (Vắng mặt)
3.75. Ông Nguyễn Văn N3. (Vắng mặt)
3.76. Ông Nguyễn Văn T12. (Vắng mặt)
3.77. Ông Nguyễn Văn M3. (Vắng mặt)
3.78. Ông Nguyễn Văn L4. (Vắng mặt)
3.79. Bà Nguyễn Thị H5. (Vắng mặt)
3.80. Ông Bùi Văn M4. (Vắng mặt)
3.81. Ông Đinh Văn Đ11. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt)
3.82. Ông Nguyễn Văn T13. (Vắng mặt)
3.83. Ông Nguyễn Văn T14. (Vắng mặt)
3.84. Ông Bùi Văn T15. (Vắng mặt)
3.85. Ông Nguyễn Văn T16. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.86. Ông Nguyễn Xuân H6. (Vắng mặt)
3.87. Ông Nguyễn Văn T17. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.88. Ông Nguyễn Xuân T18. (Vắng mặt)
3.89. Ông Nguyễn Văn B1. (Vắng mặt, có văn bản đề nghị Toà án xét xử
vắng mặt)
3.90. Ông Nguyễn Văn L7. (Vắng mặt)
3.91. Ông Nguyễn Văn L8. (Vắng mặt)
3.92. Ông Đinh Công V2. (Vắng mặt)
Các ông bà có tên trên đều có địa chỉ: thôn D H (nay là thôn H), xã T, tỉnh
Ninh Bình.
3.93. Bà Bùi Thị O1. Địa chỉ: thôn A H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh Bình.
(Vắng mặt)
6
3.94. Bà Đinh Thị T19. Địa chỉ: thôn A H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.95. Bà Đinh Thị H7. Địa chỉ: thôn A H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.96. Ông Nguyễn Văn Q5. Địa chỉ: thôn A H (nay là thôn H), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.97. Ông Đinh Văn C6. Địa chỉ: thôn B H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.98. Ông Nguyễn Văn V3. Địa chỉ: thôn B H (nay là thôn H), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.99. Ông Đinh Văn C7. Địa chỉ: thôn B H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.100. Ông Nguyễn Văn H8. Địa chỉ: thôn C H (nay là thôn H), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.101. Bà Đinh Thị O2. Địa chỉ: thôn C H (nay là thôn H), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.102. Ông Nguyễn Văn P. Địa chỉ: thôn A V (nay là thôn V), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.103. Ông Đinh Văn T20. Địa chỉ: thôn B V (nay là thôn V), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.104. Ông Nguyễn Văn H9. Địa chỉ: thôn D V (nay là thôn V), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.105. Ông Nguyễn Văn T21. Địa chỉ: thôn C V (nay là thôn V), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.106. Ông Nguyễn Văn C8. Địa chỉ: thôn D V (nay là thôn V), xã T, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.107. Ông Phan Văn Đ12. Địa chỉ: thôn S, xã T, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt,
có văn bản đề nghị Toà án xét xử vắng mặt)
3.108. Ông Vũ Văn T22. Địa chỉ: thôn Y (nay là thôn V), xã T, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.109. Bà Nguyễn Thị D. Địa chỉ: thôn T (nay là thôn Đ), xã N, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.110. Ông Nguyễn Văn H10. Địa chỉ: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã N, tỉnh
Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.111. Ông Bùi Văn P1. Địa chỉ: thôn Đ (nay là thôn Đ), xã N, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
7
3.112. Ông Đinh Văn H11. Địa chỉ: thôn L (nay là thôn L), xã N, tỉnh Ninh
Bình. (Vắng mặt)
3.113. Bà Bùi Thị K4. Địa chỉ: thôn Đ, xã G, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.114. Ông Đào Văn D5 (Cha xứ Đ). Địa chỉ: thôn C, xã B, tỉnh Ninh Bình.
(Vắng mặt)
3.115. Ông Vũ Viết L9. Địa chỉ: thôn T, xã H, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
3.116. Ông Vũ Viết X1. Địa chỉ: thôn A, xã H, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt)
4. Người kháng cáo: ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn
Thị T1 (người khởi kiện).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là ông
Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 và người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày:
Phía người khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
- Tuyên bố hành vi thu hồi, tháo dỡ cầu phao của người dân đóng góp tại Km
23+00 trên sông H, cửa nhà thờ xứ Đồng Đinh thuộc thôn D6, xã T, huyện N, tỉnh
Ninh Bình vào các ngày 04/8/2022, 06/9/2022, 07/9/2022 của Ủy ban nhân dân
(sau đây viết tắt là UBND) xã T (nay là UBND xã T) là trái pháp luật khi không
có các quyết định thu hồi, phương án bồi thường khi thu hồi, phá dỡ cầu phao của
người dân.
- Buộc UBND xã T (nay là UBND xã T) có phương án bồi thường và tiến
hành bồi thường toàn bộ số tiền chi phí cho tất cả những người dân tham gia đóng
góp tiền xây dựng cầu phao theo bảng danh sách tổng hợp tất cả những người dân
đã đóng góp tiền xây dựng cầu phao thôn 4 Hữu Thường, xã T ngày 13/5/2025 là:
1.870.262.611đồng.
Lý do khởi kiện:
Trước đây, các hộ dân sinh sống tại thôn D H, xã T muốn đi qua sông thì chỉ
có đò ngang. Đến năm 2008 có cây cầu phao làm bằng các thuyền bê tông cũ.
Năm 2018, cầu phao cũ xuống cấp, không đảm bảo an toàn nên UBND xã T và
nhân dân thôn 4 H (sau đây viết tắt là nhân dân thôn 4) thấy cần thiết phải xây
dựng cầu phao mới làm bằng sắt để đảm bảo an toàn cho người dân trong vùng
cũng như cho học sinh đến trường, đồng thời phục vụ sản xuất nông nghiệp đối
với Hợp tác xã N5 (sau đây viết tắt là HTX). Vì không có kinh phí của Nhà nước
nên nhân dân thôn 4 đồng ý với chủ trương của UBND xã T xây cầu bằng nguồn
vốn xã hội hóa, từ các nhà hảo tâm và nhân dân tự nguyện đóng góp, dự kiến mỗi
nhân khẩu 700.000 đồng. Dự tính ban đầu chi phí xây dựng cầu là 550.000.000
đồng. Về kinh phí bảo trì cầu sẽ lấy từ tiền phí thu được từ khách vãng lai. Được
sự ủng hộ của chính quyền thôn, xã và đồng lòng của đại đa số người dân thôn D,
Ban kiến thiết thôn 4 được UBND xã cấp giấy giới thiệu để liên hệ với các cơ
8
quan có thẩm quyền từ huyện, tỉnh, Bộ G3 và đã được chấp thuận cấp phép xây
dựng cầu phao.
Về kinh phí, ban đầu Ban kiến thiết đã tạm thu của các hộ dân và những nhà
hảo tâm trong và ngoài thôn được trên 100.000.000 đồng. Do số tiền còn quá ít so
với dự tính ban đầu nên các hộ gia đình gồm: hộ ông Nguyễn Văn H (Trưởng
thôn), hộ ông Nguyễn Pháp C, hộ bà Nguyễn Thị V (chồng Nguyễn Văn Q5), hộ
bà Nguyễn Thị T1 (chồng Nguyễn Văn D4) và hộ ông Nguyễn Văn T cùng nhau
đóng góp thêm, trong đó: ông Nguyễn Văn H đóng góp 100.000.000 đồng, ông
Nguyễn Pháp C đóng góp 175.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị V đóng góp
175.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 đóng góp 191.000.000 đồng, ông Nguyễn
Văn T đóng góp 107.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền tạm thu tại thời điểm tháng
6 năm 2019 là 893.750.000 đồng.
Vào tháng 4 năm 2019 các ông bà đã bắt đầu liên hệ với đơn vị thi công để
đặt đóng mới cầu phao. Ngày 02/4/2019 và ngày 02/6/2019 các ông bà đã ký hợp
đồng đóng mới cầu phao dân sinh với Công ty TNHH V4 với số tiền đóng mới
cầu là 898.879.000 đồng, tiền nhân công là 40.000.000 đồng; tổng cộng:
938.879.000 đồng. Khi cầu phao đang trong quá trình triển khai xây dựng, ông
Nguyễn Văn H (Trưởng thôn) biết được thông tin sắp tới có cầu phao do Nhà
nước xây dựng thay thế cầu phao của các ông bà nên ông H đã bán lại phần đóng
góp của mình cho ông Nguyễn Văn T vào ngày 19/12/2019 (ông H thỏa thuận bán
chịu cho ông T giá 120.000.000 đồng với lãi suất 3%/tháng). Do quá trình triển
khai thi công cầu phao vẫn còn thiếu kinh phí để làm mố cầu 2 bên bờ sông và
một số chi phí khác phát sinh, các ông bà gồm ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn
Văn T, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị V đã phải thế chấp 04 Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của gia đình mình vay lãi Ngân hàng (lãi suất 10%/năm) để có
đủ tiền tiếp tục xây dựng cầu phao, số tiền vay lãi Ngân hàng là 900.000.000 đồng;
trong đó, ông C vay lãi 300.000.000 đồng, ông T, bà T1, bà V cùng vay lãi số tiền
là 200.000.000 đồng.
Cuối năm 2019, đầu năm 2020, các ông bà đã tiến hành mua nguyên vật liệu,
thuê nhân công làm mố cầu và thuê giám sát thi công; trong đó chi phí mua nguyên
vật liệu, thuê nhân công làm mố cầu mới hai bên bờ sông là 295.655.000 đồng,
chi phí thuê giám sát thi công là 2.402.000 đồng. Ngày 07/6/2019, cầu phao thôn
D H được Cục Đ13 cấp Giấy chứng nhận thẩm định thiết kế phương tiện thủy nội
địa. Ngày 01/3/2022, Ban đăng kiểm phương tiện thủy nội địa Ninh Bình - Sở G4
cấp Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội
địa là đủ điều kiện tiêu chuẩn và được đưa vào sử dụng.
Mặc dù cầu phao đã được các ông bà xây dựng nhưng ngày 05/5/2020,
UBND huyện N đã ban hành Quyết định số 2610/QĐ-UBND về việc phê duyệt
Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng công trình cầu phao thôn D xây dựng
cầu phao mới đúng vào vị trí cầu phao mà các hộ dân đã đóng góp xây dựng nhằm
thay thế cây cầu phao mà các ông bà vừa xây dựng xong. Đến nay không thấy
triển khai việc bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân đã tham gia đóng góp tiền bạc,
công sức để xây dựng cầu phao. Tháng 03 năm 2022, người dân xã T nhận được
9
Thông báo số 03/TB-UBND ngày 29/3/2022 của UBND xã T về việc thi công cầu
phao mới thôn D H chồng lấn, thay thế cầu phao của các ông bà; trong thông báo
có nội dung về việc đơn vị thi công thỏa thuận mua lại cây cầu phao mà đại diện
nhân dân thôn 4 đã làm từ kinh phí đóng góp của nhân dân. Trước nội dung thông
báo này, các ông bà không đồng ý bàn giao cho nhà thầu thi công cầu phao mới
vì không có quyết định của cơ quan có thẩm quyền, không bàn bạc với các hộ dân
đã đóng góp xây dựng cầu, đặc biệt là 04 hộ dân gồm, hộ ông Nguyễn Pháp C, hộ
ông Nguyễn Văn T, hộ bà Nguyễn Thị T1, hộ bà Nguyễn Thị V - là những nhà
đầu tư, đóng góp chính đã dẫn đến xâm phạm nghiêm trọng quyền, lợi ích hợp
pháp của các ông bà. Các ông bà đều là những hộ dân đặc biệt khó khăn, nhưng
vì lợi ích chung của thôn, xã, mong muốn bà con nhân dân có cầu phao mới để đi
lại an toàn, thuận tiện nên đã phải đóng góp nhiều tiền của, công sức thậm chí
phải vay lãi Ngân hàng để hoàn thiện cây cầu.
Trong 03 ngày 04/8/2022, 06/9/2022, 07/9/2022, UBND xã T đã huy động
hàng trăm người gồm các công chức của xã, lực lượng Công an xã, Công an
huyện, dân phòng, Ban Quản lý dự án xây dựng huyện N và Công ty TNHH X3
(nhà thầu thi công cầu phao mới) đã xuống tháo dỡ, kéo cầu phao của các ông bà
đi nơi khác (chứng cứ là file video, ảnh ghi nhận hiện trường kèm theo đơn). Các
ông bà đã đến hiện trường và đề nghị Chủ tịch UBND xã cung cấp quyết định thu
hồi, quyết định cưỡng chế phá dỡ cầu phao của các ông bà và phương án bồi
thường về tài chính đã đầu tư xây dựng cầu phao, thanh quyết toán đúng theo quy
định của pháp luật, nhưng UBND xã không cung cấp được các giấy tờ mà các ông
bà đã yêu cầu.
Từ khi có thông báo về việc xây cầu phao mới đến nay, UBND xã T, chủ
đầu tư - Ban Quản lý dự án xây dựng huyện N và nhà thầu thi công - Công ty
TNHH X3 chưa thỏa thuận xong với các ông bà cũng như những người dân đã
đóng góp tiền xây dựng cầu về việc bồi thường do hành vi phá dỡ, thu hồi cầu
phao của các ông bà. Tại các buổi làm việc giữa thôn D H và UBND xã T với các
ông bà (đại diện cho các hộ dân) vẫn chưa được thống nhất; trong khi đó, các
thông báo và nội dung làm việc chỉ được thông báo bằng miệng, không được lập
biên bản. Tại các buổi làm việc trên, doanh nghiệp N6 thi công - Công ty TNHH
X3 đưa ra giá mua lại cầu trị giá 915.402.000 đồng. Các ông bà không đồng ý với
phương án trên bởi số tiền 915.402.000 đồng chỉ tương đương với số tiền mà các
ông bà đóng góp ban đầu và chi ra để đóng mới cầu phao. Còn những chi phí làm
mố cầu, thuê giám sát thi công và những chi phí thủ tục, giấy tờ mà các ông bà đã
nêu trên lại không được tính đến. Việc làm của UBND xã T đã xâm phạm nghiêm
trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các ông bà. Bởi vì, về nguồn vốn xây dựng
cầu phao được xây dựng bằng nguồn vốn đóng góp của người dân thôn D cùng
những nhà hảo tâm ở địa phương khác. Theo giấy giới thiệu số 60/GT-UBND
ngày 07/12/2018 của UBND xã T, biên bản họp thôn 4 Hữu Thường ngày
17/10/2018 và giấy tờ của các cơ quan Nhà nước từ xã, huyện, tỉnh đã thể hiện rõ
là cử các ông bà thay mặt liên hệ làm việc với cơ quan chức năng: Sở G4, Cục
Đ13 và đã được các cơ quan chức năng này đồng ý cấp giấy phép cho ông Nguyễn
10
Pháp C là chủ phương tiện đại diện cho thôn D H và các hộ dân quản lý, bảo trì,
đảm bảo an toàn việc đi lại qua cầu của người dân. Như vậy, các ông bà và các hộ
dân có đủ căn cứ pháp luật là chủ sở hữu hợp pháp của cây cầu phao mà các ông
bà đã xây dựng.
Cầu phao thôn D H đã được Nhà nước chấp thuận chủ trương đầu tư, nguồn
vốn của các nhà đầu tư là các cá nhân mà đại diện là ông Nguyễn Pháp C đã được
cơ quan có thẩm quyền công nhận. Để xây dựng được cầu phao đúng tiến độ trong
khi việc huy động vốn trong dân gặp khó khăn, lãnh đạo thôn và xã đã đồng ý
giao cho các ông bà đại diện bỏ vốn ra đầu tư từ khâu thủ tục pháp lý được cấp
phép của cơ quan có thẩm quyền, thuê doanh nghiệp đóng cầu phao, xây dựng mố
cầu, chi phí vượt trội lên hàng tỷ đồng, cầu phao đang hoạt động đảm bảo an toàn
theo quy định của Sở G4 và Bộ G3. Trước khi cầu phao bị tháo dỡ, ông Nguyễn
Pháp C lại không được tham gia bàn bạc, thảo luận về phương án chuyển nhượng,
bồi thường tiền xây dựng cầu phao tại các buổi làm việc giữa chính quyền thôn,
xã với doanh nghiệp N6 thi công xây dựng cầu phao mới - Công ty TNHH X3.
Như vậy, việc làm của chính quyền thôn, xã và nhà thầu thi công - Công ty X3 đã
vi phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân các ông bà.
Đầu tháng 10 năm 2022, các ông bà đã gửi đơn khiếu nại đến UBND xã T
để khiếu nại về hành vi cưỡng chế, tháo dỡ, thu hồi cầu phao trái pháp luật của
UBND xã T đối với cầu phao do người dân đóng góp khi chưa có quyết định thu
hồi và phương án bồi thường. Ngày 17/11/2022, Chủ tịch UBND xã T đã ra Quyết
định giải quyết khiếu nại số 517/QĐ-CT. Các ông bà không đồng ý với nội dung
của quyết định này vì nội dung của Quyết định số 517 này không đúng với thực
tế đã diễn ra, tại trang 5 của Quyết định số 517 cho rằng UBND xã đã thực hiện
phương án bảo vệ thi công, nhưng trên thực tế vào các ngày 04/8/2022, 06/9/2022,
07/9/2022 Chủ tịch UBND xã T đã huy động hàng trăm cán bộ, nhân viên và trực
tiếp chỉ đạo việc cưỡng chế tháo dỡ, thu hồi cầu phao của các ông bà, bằng chứng
được thể hiện tại các file ghi hình mà các ông bà quay lại được nộp kèm với đơn
khởi kiện.
Về số tiền mà 04 hộ dân gồm hộ ông C, hộ ông T, hộ bà T1, hộ bà V đóng
góp để xây dựng cầu phao được thể hiện tại bảng danh sách tổng hợp tất cả những
người dân đã đóng góp tiền xây dựng cầu phao thôn 4 Hữu Thường, xã T ngày
13/5/2025. Tại danh sách ngày 13/5/2025 có trường hợp ông Nguyễn Văn B1
đóng góp 2.500.000 đồng, sau đó ông B1 đòi lại, nhưng số tiền này đã được Tổ
quản lý cầu gồm ông C, ông T, bà T1 chi trả vào tiền xây dựng cầu; số tiền
2.500.000 đồng mà ông B1 đóng góp trở thành số tiền mà Tổ quản lý cầu đóng
góp. Vì vậy, số tiền thực tế đóng góp của 04 hộ dân như sau:
Hộ ông Nguyễn Pháp C đóng góp: 483.675.035 đồng;
Hộ ông Nguyễn Văn T đóng góp: 480.788.002 đồng;
Hộ bà Nguyễn Thị T1 đóng góp: 405.625.632 đồng;
Hộ bà Nguyễn Thị V đóng góp: 326.923.942 đồng.
11
Về tổng chi phí xây dựng cầu phao: căn cứ Hợp đồng đóng mới cầu phao
dân sinh ngày 02/4/2019, 02/6/2019, Hợp đồng kinh tế số 09/HĐKT/ĐK2019
ngày 10/6/2019 về việc giám sát đóng mới phương tiện PHAO NỔI/PNP-05, các
giấy biên nhận mua bán nguyên vật liệu, thuê nhân công tháng 4, tháng 5, tháng
6 năm 2021 để làm mố cầu, các biên lai thu tiền phí, lệ phí năm 2020, 2021, 2022
(09 tờ mỗi tờ 50.000 đồng) và 03 hóa đơn thuế giá trị gia tăng của Cục thuế tỉnh
N. Tổng chi phí xây dựng cầu phao là 1.252.631.092 đồng bao gồm: chi phí vật
tư đóng mới cầu phao 898.879.000 đồng, chi phí phát sinh cạp 3 boong thông cầu
phao 7.000.0000 đồng, chi phí nhân công đóng mới cầu phao 40.000.000 đồng,
chi phí thuê giám sát thi công 2.402.000 đồng, chi phí làm mố cầu hai bên bờ sông
295.655.000 đồng, 09 Biên lai thu tiền phí, lệ phí của 03 năm 2020, 2021, 2022
tổng số số tiền là: 450.000 đồng, 03 hóa đơn thuế giá trị gia tăng gồm: hóa đơn
ngày 18/2/2020 là 7.056.000 đồng, hóa đơn 03/3/2021 là 600.000 đồng, hóa đơn
ngày 01/3/2022 là 589.092 đồng. Về số tiền lãi vay Ngân hàng của 04 hộ dân gồm
hộ ông C, hộ ông T, hộ bà T1, hộ bà V: tính từ tháng 04 năm 2019 đến ngày
30/4/2022 các ông bà đã trả lãi trong hạn cho Ngân hàng số tiền là 247.593.970
đồng, từ đó các ông bà chưa trả được số tiền vay gốc Ngân hàng (900.000.000
đồng). Từ ngày 30/4/2022 cho đến ngày 30/9/2024 phải trả lãi suất quá hạn cho
Ngân hàng là 265.695.410 đồng. Từ thời điểm 30/9/2024 đến thời điểm khởi kiện
(ngày 13/5/2025), 04 hộ dân phải tiếp tục chịu khoản lãi là 46.727.739 đồng; cộng
với số tiền ông T đã trả lãi cho ông H 18 tháng đầu (từ tháng 12/2019 đến tháng
05/2021) là 57.614.400 đồng (từ tháng 06/2021 đến nay chưa trả được lãi và gốc
cho ông H). Do đó, tổng số tiền lãi các ông bà phải trả Ngân hàng và ông Nguyễn
Văn H đến thời điểm hiện tại (ngày 13/5/2025) là: 617.631.519 đồng. Như vậy,
tổng số tiền thực tế mà những người dân đã đóng góp để xây dựng cầu phao thôn
D H, xã T là 1.870.262.611đồng.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, người bị kiện là UBND
xã T, tỉnh Ninh Bình trình bày:
Toàn bộ quá trình thực hiện dự án và thi công cầu phao thôn D H khẳng định
chủ trương đầu tư của Nhà nước là đúng với nhu cầu nguyện vọng của nhân dân.
Quá trình tổ chức thực hiện đảm bảo quy định của pháp luật và được sự đồng
thuận của đại bộ phận nhân dân. Việc khiếu kiện của ông C, ông T, bà T1 là không
đúng sự thật, bởi vì:
Thứ nhất, về nguồn vốn xây dựng cầu thể hiện tại biên bản họp thôn ngày
05/12/2018, nhân dân đã họp thống nhất đề nghị cấp có thẩm quyền cho phép
nhân dân được đóng góp xây dựng cầu phao (dự kiến mỗi hộ 3.000.000 đồng) và
cử ra Ban kiến thiết làm cầu để thay nhân dân đi làm các thủ tục xin cấp phép và
tổ chức làm cầu khi được các cấp có thẩm quyền chấp thuận. Tuy nhiên trong quá
trình làm hồ sơ chưa đầy đủ, chưa xây dựng được dự án đầu tư và do gia đình bà
Nguyễn Thị B2 không nhất trí thanh lý hợp đồng nên chưa được cấp có thẩm
quyền cho phép, Ban kiến thiết đã tự ý huy động kinh phí từ nhân dân gần
200.000.000 đồng và tự ý tổ chức làm cầu là sai với quy định của pháp luật. Về
cây cầu đã làm, các văn bản đều thể hiện là tài sản của nhân dân thôn 4 do Ban
12
kiến thiết đại diện nhân dân ký hợp đồng và nhân dân cử ông Nguyễn Pháp C là
người đứng tên đăng kiểm. Quá trình quản lý cầu của ông C, ông T, bà T1, bà V
và vai trò người đại diện cho dân đứng tên đăng kiểm đã thể hiện rõ trong biên
bản họp thôn ngày 05/12/2018 và biên bản giao quản lý cầu của Ban kiến thiết
tháng 01 năm 2020. Đến nay nhân dân đã nhất trí bán lại cầu cho doanh nghiệp,
nhất trí với số tiền thỏa thuận với doanh nghiệp là 915.402.000 đồng là quyền của
nhân dân, đây là thỏa thuận dân sự giữa nhân dân thôn 4 và doanh nghiệp, UBND
xã chỉ là chứng kiến việc thỏa thuận dân sự.
Thứ hai, về tính pháp lý của cây cầu, theo Văn bản số 2493/KHĐT-KTN
ngày 27/11/2018 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình và Văn bản số
3204/SGTVT- KCHT ngày 30/11/2018 của Sở Giao thông Vận tải tỉnh G4 về việc
xây dựng cầu phao mới cửa nhà thờ xứ Đ14 đều có ý kiến “Việc xây dựng cầu
phao mới sử dụng vốn ngoài ngân sách (vốn xã hội hóa từ các nhà hảo tâm và
nhân dân tự nguyện đóng góp) phải được lập dự án đầu tư, đăng ký đầu tư thực
hiện theo quy định tại Luật Đầu tư 2014, Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày
12/11/2015 và các văn bản có liên quan. Tuy nhiên đến nay, cầu phao của nhân
dân thôn 4 chưa được lập dự án, chưa đăng ký đầu tư theo hướng dẫn của Sở G4
và Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Ninh Bình tại các văn bản nêu trên, do đó không
có cơ sở pháp lý xác định cây cầu đã được cấp phép.
Thứ ba, cầu phao thôn 4 được UBND huyện N phê duyệt chủ đầu tư tại Quyết
định số 6498/QĐ-UBND ngày 27/12/2019. Ngày 24/4/2020, Cục Đ13 đã cấp
Giấy chứng nhận thẩm định thiết kế phương tiện thủy nội địa số 01164/20TS/03.
Ngày 21/10/2022, Trạm kiểm tra tải trọng và đăng kiểm thủy nội địa Sở G4 đã
chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy nội địa. Ngày
04/8/2022 và ngày 06/9/2022, theo đề nghị của thôn, UBND xã T đã tổ chức bảo
vệ an ninh để thi công và thôn di dời cầu cũ ra ngoài phạm vi thi công cầu mới do
có một số người dân thôn D có ý định chống đối, cản trở việc thi công của nhà
thầu. Nhà nước không thu hồi đối với cầu phao của nhân dân thôn 4. Do đó Nhà
nước không có trách nhiệm phải thực hiện bồi thường đối với cây cầu của nhân
dân thôn D. Việc nhân dân thôn D có nguyện vọng chuyển nhượng lại cầu cho
doanh nghiệp với số tiền 915.402.000 đồng là thỏa thuận dân sự giữa hai bên;
UBND huyện N hay UBND xã T không can thiệp về giá cả mua bán cầu giữa các
bên. UBND xã đã tham mưu với UBND huyện N tạo điều kiện kinh phí để xây
dựng cầu phao cho nhân dân xã T (cũ) đi miễn phí. Cầu phao của Nhà nước đã
được xây dựng và đi vào hoạt động 2 năm. Khi Nhà nước làm xong bàn giao cho
xã, chưa có kinh phí thường xuyên nên thuê hàng tháng 2.000.000 đồng để đóng
mở cầu, hiện nay còn nợ lại vì chưa có kinh phí. Nhà nước làm cầu cho nhân dân
và thuê doanh nghiệp X5 làm theo thiết kế thi công. Đối với số tiền các mạnh
thường quân, nhân dân là số tiền hỗ trợ không hoàn lại. Nhà nước đã làm cầu nên
cây cầu nhân dân làm rồi thì lãng phí nên đề nghị doanh nghiệp X5 mua lại tận
dụng để khỏi lãng phí. Số tiền để xây dựng cầu công khai là khoảng hơn
915.000.000 đồng, đề nghị doanh nghiệp mua lại đúng với kinh phí thực tế đã bỏ
ra xây dựng cây cầu.
13
Việc UBND xã là cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương đã hướng dẫn,
hỗ trợ cho nhân dân thủ tục cấp phép xây dựng, đưa cầu phao đi vào hoạt động.
Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền chưa cho phép xây dựng hay cấp phép hoạt
động cầu phao, mọi giấy tờ mới chỉ dừng lại ở các văn bản, ý kiến của các phòng
ban, ngành, chưa đủ điều kiện để cầu phao hoạt động. Những người khởi kiện đã
tự thu tiền quyên góp của nhân dân. Hiện tại, Nhà nước làm cầu, nhân dân không
phải bỏ tiền ra để đi lại, chỉ có ông C, ông T, bà T1, bà V ngăn cản, chống đối
việc xây dựng làm cầu do Nhà nước xây dựng nên UBND xã chỉ tổ chức bảo vệ
cho đơn vị thi công cây cầu chứ không có hành vi tháo dỡ, định đoạt cầu phao của
nhân dân thôn D H. Vì vậy UBND xã T đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của người khởi kiện. Thực tế, doanh nghiệp X5 đã chi trả 915.402.000 đồng
để chi trả lại cho nhân dân thôn D H và đã chi trả cho người dân hơn 265.000.000
đồng, còn lại ông C, ông T, bà T1, bà V và một số hộ không nhận nên Trưởng
thôn 4 Hữu T23 đã trả lại cho doanh nghiệp X5 (thông qua UBND xã T cũ) là
650.000.000 đồng, sau đó đã chuyển trả cho doanh nghiệp X5 đủ số tiền
650.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
có ý kiến như sau:
Quan điểm của Chủ tịch UBND xã T: nhất trí như quan điểm của UBND xã
T, tỉnh Ninh Bình đã thể hiện tại Công văn số 120/CV-UBND ngày 18/8/2025 của
UBND xã T, tỉnh Ninh Bình.
Quan điểm của Công ty TNHH X3 như sau: Công ty TNHH X3 (sau đây
viết tắt là Công ty X3) không phải là đơn vị trúng thầu thi công công trình cầu
phao thôn D H. Đơn vị trúng thầu thi công công trình cầu phao thôn D H là Công
ty TNHH một thành viên X4 (sau đây viết tắt là Công ty X4). Khi thi công công
trình cầu phao có những máy móc, thiết bị ghi tên Công ty X3 là do những máy
móc, thiết bị đó Công ty X3 cho Công ty X4 mượn. Vì vậy vụ kiện hành chính
không liên quan gì đến quyền lợi của Công ty X3. Công ty X3 từ chối tham gia tố
tụng.
Quan điểm của Công ty X4 như sau: ngày 05/5/2020, UBND huyện N có
Quyết định số 2610 về việc phê duyệt báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng
công trình cầu phao mới cho nhân dân đi lại, không thu phí, tên công trình: “Cầu
phao thôn D H, T", thời gian thực hiện dự án từ năm 2020 đến năm 2022. Ngày
12/6/2020, UBND huyện N, tỉnh Ninh Bình có Quyết định số 3500 về việc phê
duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 2 thi công xây dựng công trình cầu
phao thôn D H, tên nhà thầu trúng thầu là: Công ty TNHH một thành viên X4.
Ngày 11/3/2021, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện N có Công văn số 71
gửi UBND xã T, huyện N thông báo về việc triển khai thi công xây dựng công
trình “Cầu phao thôn D H, T” và đề nghị UBND xã T (nay là xã T) phối hợp để
giải phóng mặt bằng nhằm phục vụ việc thi công xây dựng cầu phao mới.
Công ty X4 là đơn vị trúng thầu thi công công trình cầu phao. Đến ngày
31/7/2019, UBND xã T (cũ) vận động gia đình bà Nguyễn Thị B2 thanh lý hợp
14
đồng, bà B2 đã đồng ý thanh lý hợp đồng và được Nhà nước hỗ trợ, bồi thường
giải phóng mặt bằng với số tiền thanh toán là 300.000.000 đồng. Sau khi gia đình
bà B2 đồng ý thanh lý hợp đồng và nhận số tiền bồi thường là 300.000.000 đồng;
gia đình bà B2 đã tự nguyện tháo dỡ, di chuyển cầu phao cũ trước đây khỏi phạm
vi công trình thi công thì ông Nguyễn Pháp C và B3 kiến thiết làm cầu thôn D H
đã tự ý di chuyển cầu phao do nhân dân thôn D H đóng góp xây dựng đến lắp đặt
vào vị trí cầu phao và mố cầu cũ của gia đình bà B2 trước đây vừa di chuyến đi.
Việc làm trên của ông Nguyễn Pháp C và B3 kiến thiết làm cầu T H đã gây
cản trở đến việc thi công của Công ty X4. Để tránh lãng phí công trình cầu phao
mà ông Nguyễn Pháp C và B3 kiến thiết làm cầu thôn 4 Hữu Thường làm nên vào
ngày 07/6/2022 Công ty X4 đã có hợp đồng thỏa thuận mua lại cầu phao do nhân
dân thôn 4 xây dựng lắp trên mố cầu cũ của gia đình bà B2 với giá trị hợp đồng
là số tiền 915.402.000 đồng. Sau đó Công ty X4 đã giao đủ số tiền cho đại diện
thôn D H để chi trả cho các hộ dân đã góp tiền xây dựng cầu, triển khai thi công
xây dựng cầu phao mới. Tuy nhiên các hộ gia đình là ông Nguyễn Pháp C, gia
đình Nguyễn Thị T1, gia đình bà Nguyễn Thị V ở cùng thôn chưa nhận tiền do
không đồng ý với hợp đồng mua lại cầu phao của Công ty X4. Sau khi Công ty
X4 bàn giao đủ số tiền 915.402.000 đồng thì B3 kiến thiết làm cầu thôn D H và
bên nhận tiền vẫn chưa bàn giao cho Công ty X4 cầu phao thôn D H. Trong tổng
số tiền 915.402.000 đồng thì số tiền Ban kiến thiết đại diện thôn D H đã chỉ trả
cho các hộ dân một phần nhưng Công ty X4 không rõ đại diện thôn D H đã chi
trả cho các hộ dân là bao nhiêu, chỉ biết số tiền còn lại là chuyển về UBND xã T
(cũ), sau đó UBND xã T (cũ) đã chuyển trả lại cho Công ty X4 số tiền là
650.000.000 đồng. Khi thi công công trình cầu phao có những máy móc, thiết bị
ghi tên Công ty X3 là do những máy móc, thiết bị đó Công ty X3 cho Công ty X4
mượn, thuê là đúng.
Đối với vụ kiện hành chính thì không liên quan gì đến Công ty X4. Đối với
số tiền 265.402.000 đồng Công ty X4 đã chi trả cho các hộ dân đóng góp làm cầu
thì phía Công ty không có yêu cầu gì. Còn đối với hợp đồng thỏa thuận mua lại
cầu phao do nhân dân thôn D H là thiện chí của Công ty X4, nhưng do bên nhận
tiền không bàn giao cầu như thỏa thuận và các ông bà Nguyễn P, Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị T1 không có thiện chí hợp tác nên Công ty X4 sẽ không tiếp tục thực
hiện thỏa thuận mua lại cầu phao nữa và cũng sẽ không thanh toán cho ông
Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 và B3 kiến thiết làm cầu
thôn D H số tiền 650.000.000 đồng nữa. Nếu sau này đôi bên có tranh chấp Công
ty sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết thành vụ kiện riêng.
Quá trình giải quyết vụ án, các ông: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thành Đ2, Bùi
Văn K, Đinh Văn Q1, Đinh Văn Q2, Nguyễn Văn M, Nguyễn Tiến T2, Nguyễn
Thành L1, Nguyễn Khắc Đ5, Nguyễn Văn Q5, Đinh Huy T8, Bùi Đức V1,
Nguyễn Văn L5, Đinh Văn Đ11, Nguyễn Văn T16, Nguyễn Văn T17, Nguyễn
Xuân T18, Nguyễn Văn B1, Đinh Văn C6 cùng quan điểm như sau:
Trước đây, nhân dân thôn 4 đi qua lại bằng cây cầu phao xi măng của bà
Nguyễn Thị B2. Tuy nhiên, sau nhiều năm sử dụng, cây cầu phao này đã xuống
15
cấp không đảm bảo an toàn để người dân đi lại. Đến năm 2018 các ông bà đề nghị
làm cầu phao mới. Sau khi nhân dân đề nghị xin phép cơ quan có thẩm quyền,
nhân dân đã họp thôn và thống nhất mỗi hộ trong thôn D đóng góp 700.000 đồng
để xây dựng cầu phao. Khi họp thôn, có bầu ra Ban kiến thiết do ông Nguyễn Văn
H (Trưởng thôn) làm Trưởng ban và các ông bà liên hệ với ông Nguyễn Văn C9
(là người làm cầu phao) để đóng cây cầu, cả thôn đề cử ông Nguyễn Pháp C là
người đứng tên trên giấy phép cầu phao. Ban đầu, dự tính đóng cây cầu tổng chi
phí là 680.000.000 đồng, sau đó chi phí tăng lên là 915.000.000 đồng theo hợp
đồng trực tiếp giữa ông Nguyễn Văn H và ông C9. Khi đó, nhân dân đóng góp
mỗi khẩu 700.000 đồng được tổng cộng 123.250.000 đồng chưa kể tiền ủng hộ.
Sau khi nhân dân đóng góp thì chưa đủ tiền làm cầu theo hợp đồng nên ông C,
ông T, bà T1, bà V có bỏ tiền cá nhân ra để thanh toán cho bên làm cầu phao và
4 hộ gia đình này được thu phí cầu đối với những hộ trong thôn không đóng góp
số tiền 700.000 đồng và khách vãng lai. Hộ dân nào có đóng góp 700.000 đồng
thì không thu phí. Về giấy phép đối với cầu phao sau khi đưa vào hoạt động thì
chỉ có Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thủy
nội địa, Giấy chứng nhận thẩm định thiết kế thuỷ nội địa, những Giấy chứng nhận
này không đảm bảo cầu phao được phép hoạt động và ông Nguyễn Văn H khẳng
định cây cầu này chưa có giấy phép hoạt động, chưa có quyết định đầu tư. Do đó
Nhà nước đã thi công cầu mới để đảm bảo nhu cầu đi lại của người dân. Phía
người khởi kiện trình bày cơ quan có thẩm quyền đã cấp phép cầu phao hoạt động
là không có căn cứ, bởi cơ quan có thẩm quyền mới chỉ đồng ý về mặt chủ trương
xây dựng cầu phao nhưng chưa có bất kỳ văn bản cấp phép cho việc xây dựng,
hoạt động của cầu phao.
Đến năm 2019, sau khi cầu phao hoàn thành và kéo về vị trí Km23+00 trên
sông H thì tồn tại 2 cầu phao, một cầu của nhà bà B2 và một cầu của nhân dân
thôn 4 mới làm. Khi đó, Nhà nước đền bù cho gia đình bà B2 cầu phao cũ thì cây
cầu phao mới được đưa vào hoạt động. Để duy trì hoạt động của cầu phao, HTX
đã đóng cho tổ cầu để duy trì khoảng 1,5 tấn thóc trong năm đầu tiên và 2 tấn thóc
trong năm thứ 2. Ngoài ra, cụ thể số tiền nhân dân đóng góp như sau: ông T là
95.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn H 115.000.000 đồng, ông C 175.000.000
đồng, bà Nguyễn Thị V 170.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị T1 180.000.000 đồng,
cha xứ Đồng Đinh ủng hộ 20.000.000 đồng, quỹ xã hội hóa 16.000.000 đồng,
nhân dân trong thôn D 123.250.000 đồng; tổng cộng 894.950.000 đồng.
Phần thu phí qua lại cầu, ngoài tiền thóc của HTX, ông C, bà T1, ông T, bà
V thu của người dân vãng lai và người dân chưa nộp 700.000 đồng, nhưng không
có sổ ghi chép thu, chi. Đến ngày 15/3/2021, có Quyết định số 14 thông báo thi
công cây cầu mới của Nhà nước. Đối với cầu phao do nhân dân xây dựng, để tránh
lãng phí, chính quyền các cấp đề nghị doanh nghiệp mua lại theo đúng giá trị trong
hợp đồng xây dựng cầu phao. Căn cứ nhất trí của nhân dân, UBND xã đến từng
nhà xin chữ ký của nhân dân trả lại số tiền đóng góp thì khoảng 95% người dân
nhất trí nhận tiền lại, chỉ còn 4 hộ ông Nguyễn Pháp C, hộ ông Nguyễn Văn T, hộ
bà Nguyễn Thị T1, hộ bà Nguyễn Thị V thì không đồng ý nhận lại. UBND huyện
16
đã về họp thôn để đối thoại với người dân nhưng 4 hộ nêu trên không tham gia.
Nguồn tiền đã nhận từ doanh nghiệp X5, còn lại 650.000.000 đồng, ông H đã trả
lại cho UBND xã. Đối với số tiền khoảng 37.000.000 đồng của cha xứ và quỹ xã
hội hóa trả thì UBND xã không nhận, ông Nguyễn Văn H và B3 kiến thiết mượn
để thực hiện kinh phí duy trì và hoạt động cầu.
Quá trình di dời cầu phao, xảy ra tranh chấp cụ thể như sau:
Lần thứ nhất, vào ngày 04/8/2022, đơn vị thi công tiến hành thi công và
UBND xã đã giao cho thôn D H phải di dời cầu phao ra khỏi vị trí thi công, đồng
thời UBND xã đã thực hiện phương án bảo vệ thi công. Trong quá trình thi công,
lực lượng xã tham gia bảo vệ thi công chỉ làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự
và giúp nhân dân thôn D H chuyển cầu phao cũ về nơi neo đậu của thôn theo đề
nghị của thôn do thiếu người di chuyển cầu. Trong quá trình thi công, do ảnh
hưởng của mưa bão, nước to nên phải dừng thi công để chờ nước cạn. Đến ngày
6/9/2022 và ngày 07/9/2022, UBND xã tiếp tục thực hiện phương án bảo vệ thi
công cho đơn vị thi công làm cầu phao mới do Nhà nước đầu tư.
Lần thứ 2, do Tổ quản lý cầu là 4 hộ: ông C, ông T, bà T1, bà V đã dìu cầu
phao của nhân dân đặt bên cạnh vị trí cầu phao của Nhà nước xây dựng vào 2 mấu
cầu nên ngày 06/9/2022, UBND xã tiếp tục thực hiện phương án bảo vệ thi công
cho đơn vị thi công làm cầu phao mới do Nhà nước đầu tư.
Lần 3, sau ngày 07/9/2022, cầu phao của nhân dân thôn D H đã di dời về
đường vào cống H, giao cho thôn quản lý. Tuy nhiên, nửa đêm Tổ quản lý cầu đã
tự ý dìu xuống Kênh G, các ông bà đã báo UBND xã cử người có thẩm quyền
ngăn chặn hành vi và đón cầu phao ở Kênh G, phải dìu về vị trí cũ mất 10.000.000
đồng. Đối với việc trả lại tiền đóng góp cho người dân thì với những hộ có giấy
biên nhận, UBND xã chỉ đạo trả lại tiền, nhưng hộ này đã nhận đầy đủ. Còn đối
với những hộ không có giấy biên nhận thì các ông bà chưa phát tiền, đang giữ lại
để xác minh trả lại đúng đối tượng. Số tiền 123.250.000 đồng của người dân đóng
góp là những hộ do ông Nguyễn Văn H thu, còn những hộ ông Nguyễn Văn H
không thu thì ông H không nắm được. Các ông Nguyễn Văn T16 đóng góp
2.100.000 đồng, Đinh Văn Đ11 nộp bà Nguyễn Thị T1 500.000 đồng không yêu
cầu lấy lại, không có ý kiến đề nghị gì, ông Nguyễn Văn T17 góp 1.500.000 đồng
nộp cho ông Nguyễn Văn T không yêu cầu lấy lại. Ông Nguyễn Văn X2 đã nộp
3.500.000 đồng chưa được nhận lại, nhưng không có yêu cầu gì.
Số tiền những hộ trên đóng góp cụ thể như sau: ông Đinh Huy T8 đóng góp
1.400.000 đồng, ông Nguyễn Văn T16 đóng góp 2.100.000 đồng, ông Bùi Đức
V1 đóng góp 2.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn T17 đóng góp 1.500.000 đồng,
ông Nguyễn Thành Đ2 đóng góp 1.000.000 đồng, ông Nguyễn Tiến T2 đóng góp
1.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn B1 đóng góp 2.500.000 đồng (nộp cho Tổ quản
lý cầu nhưng đã lấy lại), ông Đinh Văn C6 đóng góp 200.000 đồng, ông Nguyễn
Văn M đóng góp 500.000 đồng, ông Nguyễn Văn Q5 đóng góp 2.000.000 đồng,
ông Bùi Văn K đóng góp 1.000.000 đồng, ông Đinh Văn Q1 đóng góp 1.000.000
đồng, ông Nguyễn Thành L1 đóng góp 1.000.000 đồng, ông Nguyễn Khắc Đ5
17
đóng góp 500.000 đồng, ông Đinh Văn Đ11 đóng góp 500.000 đồng, ông Nguyễn
Xuân T18 đóng góp 4.200.000 đồng, bà Hoàng Thị N4 (vợ ông Đinh Văn H4)
đóng góp 1.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H12 (vợ của Đinh Văn Q3) đóng góp
2.000.000 đồng, ông Đinh Văn Q2 đóng góp 1.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn
L5 đóng góp 2.600.000 đồng, ông Nguyễn Văn X2 đóng góp 3.500.000 đồng.
Ngoài các ông Nguyễn Văn T16, Đinh Văn Đ11, Nguyễn Văn T17, Nguyễn Văn
X2 có ý kiến riêng nêu trên thì các ông bà còn lại đều đã nhận tiền và không có
đề nghị, yêu cầu gì thêm. Các ông bà đề nghị Tòa án xem xét về việc di dời cầu
phao là do nhân dân thôn D H chủ động thực hiện để thực hiện việc xây dựng cầu
phao của Nhà nước là đúng pháp luật. Yêu cầu bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của những người khởi kiện.
Ông Nguyễn Xuân H6, bà Hoàng Thị T10 có quan điểm như sau: Giấy phép
đã được cấp phép cho cây cầu phao hoạt động gồm: Giấy phép xây dựng, bản vẽ,
đăng kiểm, đóng thuế. Nguồn vốn đúng là do nhiều người dân đóng góp. Chủ tịch
xã không cho phép thu tiền của người dân và Trưởng thôn không thu tiền nên 4
người là ông C, bà T1, ông T, bà V đã bỏ tiền nhiều hơn là đúng. Ông Nguyễn
Xuân H6, bà Hoàng Thị T10 không có yêu cầu gì.
Ông Phan Văn Đ12 có quan điểm như sau: ông không có yêu cầu đề nghị gì
về số tiền ông ủng hộ làm cầu.
Ông Nguyễn Văn T13, bà Nguyễn Thị H5, ông Bùi Đình T9, ông Nguyễn
Văn L4 có quan điểm: gia đình các ông, bà có đóng tiền cho ban cầu, tổ cầu nhưng
chưa lấy tiền.
Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
khác đều đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến
Tòa án làm việc, không có lời khai tại Tòa án, không có quan điểm đối với yêu
cầu khởi kiện của người khởi kiện gửi đến Tòa án và cũng không nộp tài liệu,
chứng cứ gì.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2026/HC-ST ngày 07/4/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình đã căn cứ: Điều 7, Điều 29, khoản 1 Điều 30,
khoản 1 Điều 31, Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206, khoản
1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 32
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội. Xử: 1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các ông Nguyễn
Pháp C, Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 về việc: tuyên hành vi thu hồi, tháo
dỡ cầu phao của người dân đóng góp tại Km23+00 trên sông H, cửa nhà thờ xứ
Đồng Đinh thuộc thôn D6, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình vào các ngày
04/8/2022, 06/9/2022, 07/9/2022 của UBND xã T (nay là UBND xã T, tỉnh Ninh
Bình) là trái pháp luật và buộc UBND xã T, tỉnh Ninh Bình phải có phương án
bồi thường và tiến hành bồi thường toàn bộ số tiền chi phí cho tất cả những người
dân tham gia đóng góp tiền xây dựng cầu phao theo Bảng danh sách tổng hợp tất
cả những người dân đã đóng góp tiền xây dựng cầu phao thôn 4 Hữu Thường, xã
T ngày 13/5/2025 là: 1.870.262.611 đồng theo phần từng người. Ngoài ra, bản
18
án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo đối với các đương sự
theo quy định của pháp luật.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 15/4/2026, ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn
Văn T và bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm với
nội dung: đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ hoặc sửa bản án sơ thẩm
theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện. Tại đơn
kháng cáo đề ngày 20/4/2026, ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T và bà
Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm với nội dung: đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu
cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên tòa phúc thẩm: người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khởi kiện trình bày: phía người khởi kiện kháng cáo đề nghị Toà
án cấp phúc thẩm sửa Bản án hành chính sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại phiên toà, ông Nguyễn Văn Đ là người đại diện hợp pháp của người bị
kiện, đồng thời là người đại diện hợp pháp của Chủ tịch UBND xã T có quan
điểm: không đồng ý toàn bộ kháng cáo của ông C, ông T, bà T1. Đề nghị Hội
đồng xét xử giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến như sau:
trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Những người tham gia tố tụng cơ bản thực hiện đúng quy định của pháp luật. Đề
nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành
chính, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Xử: không chấp nhận kháng cáo của ông C, ông T, bà T1.
Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2026/HC-ST ngày 07/4/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình. Về án phí hành chính phúc thẩm: ông C
là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm. Ông T, bà T1
phải liên đới nộp án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng.
[1.1] Ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1 đã nộp
đơn kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định; hình thức, nội dung đơn kháng
cáo phù hợp với quy định tại Điều 205 của Luật Tố tụng hành chính. Do đó, đơn
kháng cáo của ông C, ông T và bà T1 được xem xét theo trình tự thủ tục phúc
thẩm.
[1.2] Về sự có mặt của các đương sự.
Tại phiên toà, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng
có quan điểm đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, bao gồm: người đại diện hợp pháp
của Công ty TNHH X3, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH một thành
viên X4, ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Thành Đ2, ông Bùi Văn K, ông Đinh
19
Văn Q1, ông Đinh Văn Q2, ông Nguyễn Tiến T2, ông Nguyễn Thành L1, ông
Nguyễn Khắc Đ5 (tên gọi khác là Nguyễn Văn Đ6), ông Nguyễn Văn Q5, ông
Đinh Huy T8, ông Bùi Đức V1, ông Nguyễn Văn L5, ông Đinh Văn Đ11, ông
Nguyễn Văn T16, ông Nguyễn Văn T17, ông Nguyễn Văn B1, ông Phan Văn
Đ12. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặc dù đã được Toà án triệu
tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không rõ lý do, bao gồm: người đại diện
hợp pháp của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn tỉnh N, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn O, bà Nguyễn Thị
V, bà Nguyễn Thị Q7, ông Nguyễn Văn C2, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn
Đ3, ông Nguyễn Văn Đ4, ông Nguyễn Văn D1, ông Nguyễn Văn D2, ông Nguyễn
Văn D3, ông Đinh Văn Q3, ông Nguyễn Văn M, ông Đinh Văn H1, ông Nguyễn
Văn S1, ông Nguyễn Văn T3, ông Nguyễn Văn C3, ông Nguyễn Văn T4, ông
Nguyễn Xuân H2, ông Nguyễn Xuân H3, ông Nguyễn Văn S2, ông Nguyễn Ngọc
L2, ông Đinh Công K1, ông Đinh Công Á, ông Đinh Công T5, ông Nguyễn Điện
B, bà Đinh Thị N, bà Đinh Thị T6, ông Nguyễn Văn S3, ông Nguyễn Văn L3, ông
Nguyễn Văn Q4, bà Nguyễn Thị N1, ông Nguyễn Văn T7, ông Nguyễn Văn D4,
ông Nguyễn Văn Đ7, ông Nguyễn Văn Đ8, ông Đinh Văn Đ9, bà Đinh Thị G,
ông Đinh Văn H4, ông Đinh Văn M1, bà Nguyễn Thị G1, ông Nguyễn Văn Q6,
bà Đinh Thị Đ10, ông Đinh Văn M2, ông Đinh Trường G2, ông Bùi Đình T9, ông
Đinh Văn C4, bà Đinh Thị S4, bà Đinh Thị K2, ông Bùi Văn C5, bà Hoàng Thị
T10, ông Nguyễn Quang X, ông Nguyễn Văn L4, ông Nguyễn Văn N2, ông Bùi
Văn K3, ông Nguyễn Văn T11, ông Nguyễn Văn S5, ông Nguyễn Văn L6, ông
Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Văn T12, ông Nguyễn Văn M3, ông Nguyễn Văn
L4, bà Nguyễn Thị H5, ông Bùi Văn M4, ông Nguyễn Văn T13, ông Nguyễn Văn
T14, ông Bùi Văn T15, ông Nguyễn Xuân H6, ông Nguyễn Xuân T18, ông
Nguyễn Văn L7, ông Nguyễn Văn L8, ông Đinh Công V2, bà Bùi Thị O1, bà
Đinh Thị T19, bà Đinh Thị H7, ông Nguyễn Văn Q5, ông Đinh Văn C6, ông
Nguyễn Văn V3, ông Đinh Văn C7, ông Nguyễn Văn H8, bà Đinh Thị O2, ông
Nguyễn Văn P, ông Đinh Văn T20, ông Nguyễn Văn H9, ông Nguyễn Văn T21,
ông Nguyễn Văn C8, ông Vũ Văn T22, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Văn H10,
ông Bùi Văn P1, ông Đinh Văn H11, bà Bùi Thị K4, ông Đào Văn D5, ông Vũ
Viết L9, ông Vũ Viết X1.
Căn cứ Điều 225 của Luật Tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm.
Tại phiên toà, phía người khởi kiện trình bày cụ thể yêu cầu kháng cáo như
sau: đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không đề nghị huỷ bản án
sơ thẩm. Do đó, căn cứ Điều 220 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử
xác định phạm vi xét xử phúc thẩm là: ông C, ông T, bà T1 đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người
khởi kiện.
[1.4] Về đối tượng khởi kiện.
20
Căn cứ vào đơn khởi kiện của người khởi kiện, xét thấy yêu cầu khởi kiện
của ông C, ông T, bà T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân
dân khu vực 3 – Ninh Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 của Chủ tịch UBND xã T về việc
giải quyết khiếu nại (lần đầu) là quyết định hành chính có liên quan đến hành vi
hành chính bị khởi kiện nên được xem xét giải quyết trong vụ án này.
[1.5] Về thời hiệu khởi kiện.
Tại phiên tòa, phía người khởi kiện xác định trong các ngày 04/8/2022,
06/9/2022, 07/9/2022 phía người khởi kiện biết được việc UBND xã T có hành vi
thu hồi, tháo dỡ cầu phao không đúng pháp luật.
Ngày 04/10/2022, ông C, ông T, bà V, bà T1 có đơn khiếu nại gửi về UBND
xã T về hành vi cưỡng chế của Chủ tịch UBND xã T trong việc tháo dỡ cầu phao
thôn D, đồng thời đề nghị Chủ tịch UBND xã T: khôi phục và bàn giao lại cầu
phao thôn D, trả lời bằng văn bản theo Luật Khiếu nại. Tại Quyết định số 517/QĐ-
CT ngày 17/11/2022 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu nại (lần
đầu) đã quyết định: không công nhận nội dung khiếu nại của ông C, ông T, bà V,
bà T1.
Ngày 30/9/2024, ông C, ông T và bà T1 có đơn khởi kiện vụ án hành chính
tại Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Ngày 08/11/2024 Tòa án
nhân dân huyện Nho Quan đã ban hành Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn
khởi kiện số 09/2024/TB-TA. Ngày 06/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan
đã ban hành Thông báo trả lại đơn khởi kiện số 08/2024/TBTLĐ-TA. Ông C, ông
T, bà T1 khiếu nại Thông báo trả lại đơn khởi kiện nêu trên. Tại Quyết định giải
quyết khiếu nại số 03/2024/QĐ-GQKN ngày 23/12/2024 Tòa án nhân dân huyện
Nho Quan đã quyết định giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện
tiếp tục khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình. Tại Quyết định
giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-GQKN ngày 08/01/2025 Chánh án Tòa án nhân
dân tỉnh Ninh Bình đã quyết định: hủy Thông báo trả lại đơn khởi kiện số
08/2024/TBTLĐ-TA ngày 06/12/2024 và Quyết định giải quyết khiếu nại số
03/2024/QĐ-GQKN ngày 23/12/2024 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan. Yêu
cầu Tòa án nhân dân huyện Nho Quan nhận lại đơn khởi kiện của ông C, ông T,
bà T1 cùng tài liệu kèm theo và xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tố
tụng hành chính.
Ngày 25/02/2025, ông C, ông T và bà T1 có đơn khởi kiện vụ án hành chính
tại Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện
Nho Quan đã ban hành Thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện. Ngày
01/4/2025 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã ban hành Thông báo trả lại đơn
khởi kiện số 01/TB-TA. Ông C, ông T, bà T1 khiếu nại Thông báo trả lại đơn khởi
kiện nêu trên. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/2025/QĐ-GQKN ngày
16/4/2025 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã quyết định giữ nguyên việc trả
lại đơn khởi kiện. Người khởi kiện tiếp tục khiếu nại đến Chánh án Tòa án nhân
dân tỉnh Ninh Bình. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/2025/QĐ-GQKN
21
ngày 28/4/2025, Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã quyết định: chấp
nhận khiếu nại của ông C, ông T, bà T1; hủy Thông báo trả lại đơn khởi kiện số
01/TB-TA ngày 01/4/2025 và Quyết định giải quyết khiếu nại số 02/2025/QĐ-
GQKN ngày 16/4/2025 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan. Yêu cầu Tòa án nhân
dân huyện Nho Quan nhận lại đơn khởi kiện của ông C, ông T, bà T1 cùng tài liệu
kèm theo và xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa, phía người khởi kiện trình bày, sau khi nhận được Quyết định
số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết khiếu
nại (lần đầu); ông C, ông T, bà T1 liên tục có văn bản yêu cầu giải quyết các vấn
đề có liên quan đến cầu phao thôn D.
Để đảm bảo quyền lợi cho người khởi kiện, việc ông C, ông T, bà T1 liên
tục có đơn đề nghị giải quyết các vấn đề có liên quan đến cầu phao thôn D, căn
cứ vào Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-GQKN ngày 08/01/2025 và
Quyết định giải quyết khiếu nại số 04/2025/QĐ-GQKN ngày 28/4/2025 của
Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, Hội đồng xét xử xác định ngày
16/5/2025 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan nhận được đơn khởi kiện đề ngày
13/5/2025 của người khởi kiện là trường hợp trở ngại khách quan làm cho người
khởi kiện không khởi kiện được trong thời hạn quy định tại điểm a khoản 2 Điều
116 Luật Tố tụng hành chính. Thời gian có trở ngại khách quan không tính vào
thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 4 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
Do vậy, cần xác định ông C, ông T, bà T1 khởi kiện vụ án là trong thời hiệu khởi
kiện theo quy định của pháp luật.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T và
bà Nguyễn Thị T1.
[2.1] Xét tính hợp pháp của hành vi hành vi bị khiếu kiện.
Tại Công văn số 217/UBND - HTKT ngày 18/4/2008 của UBND huyện N,
tỉnh Ninh Bình thể hiện: UBND huyện N nhận được Công văn số 380/CĐS -
QLĐS ngày 31/3/2008 của Cục Đ15 về việc lắp đặt cầu phao qua sông H. UBND
huyện N giao UBND xã T chủ trì, phối hợp với Phòng Hạ tầng Kinh tế chỉ đạo
chủ đầu tư thực hiện thi công cầu phao qua sông H tại K+00 đúng theo phương
án công nghệ đóng mở cầu phao.
Ngày 26/4/2008, UBND xã T và ông Bùi Hoàng H13 đã ký kết Hợp đồng
làm cầu, quản lý cầu R (có sự tham gia của Ban Q8 là bên có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan), các bên thống nhất ông H13 làm chủ hợp đồng bắc cầu phao theo thể
thức tự lo vốn và quản lý thu lệ phí cầu theo quy định của Nhà nước. Thời gian
thực hiện hợp đồng là 30 năm, kể từ tháng 5 năm 2008.
Năm 2014 ông Bùi Hoàng H13 chết. Ngày 15/10/2015 Ban Q8 và bà Nguyễn
Thị B2 (vợ ông Bùi Hoàng H13) đã ký Hợp đồng về việc dùng cầu bắc ngang
sông phục vụ sản xuất nông nghiệp, hai bên thống nhất thỏa thuận Ban Q8 giao
cho bà B2 chủ phương tiện cầu phao qua sông tại địa điểm bến nhà thờ sang bến
quai Giáng phục vụ sản xuất cho nhân dân trong HTX, thời gian từ ngày
22
15/11/2015 đến ngày 15/11/2016, bằng loại cầu phao bê tông có phân nhịp để việc
đóng mở thuận tiện cho giao thông đường thủy. Nguồn vốn và người phục vụ
đóng mở cầu do gia đình bà B2 đảm nhiệm. C3 được HTX trả bằng thóc thanh
toán vào phương án trong năm là 2.500 kg thóc.
Ngày 05/12/2018, nhân dân thôn D H họp thống nhất đề nghị để nhân dân tự
đóng góp kinh phí xây dựng cầu phao mới. Sau đó, nhân dân thôn 4 đã cử ra Ban
kiến thiết làm cầu gồm ông Nguyễn Văn H (Trưởng thôn) làm Trưởng ban, ông
Đinh Văn T24 (Bí thư Chi bộ thôn 4) làm Phó ban, ông Nguyễn Pháp C là ủy viên
đứng tên đăng kiểm; còn lại ông T18, bà V, bà T25 (T), bà T1 làm uỷ viên.
Tại Công văn số 106/UBND-KTHT ngày 25/01/2019, UBND huyện N yêu
cầu UBND xã T chủ trì, phối hợp với HTX và đại diện nhân dân thôn D thực hiện
thanh lý hợp đồng với chủ cầu phao hiện tại để triển khai các thủ tục tiếp theo
trong việc xây dựng cầu phao mới nhằm sớm đáp ứng nhu cầu theo nguyện vọng
của nhân dân thôn 4.
Ngày 24/6/2019, UBND huyện N ban hành Công văn số 1143/UBND-KTHT
yêu cầu UBND xã T khẩn trương đề xuất phương án nâng cấp cầu phao, nêu rõ
quy mô, mục tiêu, nguồn vốn, cơ chế quản lý vận hành trên cơ sở các quy định
của pháp luật. Dự án đầu tư xây dựng cầu phao mới chỉ được triển khai thực hiện
khi cấp có thẩm quyền cho phép và phải được thẩm định theo đúng quy định của
Luật Xây dựng, Luật Đầu tư và xác định rõ quy trình vận hành, khai thác cầu
phao, giá dịch vụ cầu phao phải được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Trong khi chưa có quyết định cho phép xây dựng cầu phao mới của cơ quan
có thẩm quyền thì một số người dân của thôn D trong đó có ông Nguyễn Văn H,
ông Nguyễn Pháp C, bà Nguyễn Thị T1 đã ký Hợp đồng đóng mới cầu phao dân
sinh với Công ty TNHH V4 đóng cầu phao mới có chiều dài 58m, rộng 04m, cao
01m, cầu gồm 03 phao, 2 cầu dẫn và 2 cầu nối.
Ngày 31/7/2019 UBND xã T đã làm việc với gia đình bà Nguyễn Thị B2.
Gia đình bà B2 đã nhất trí thanh lý hợp đồng ký ngày 26/4/2008 với 2 điều kiện:
thứ nhất, Nhà nước hỗ trợ thanh lý hợp đồng với số tiền 300.000.000 đồng; thứ
hai, UBND huyện làm chủ đầu tư cây cầu, miễn phí cho nhân dân đi lại.
UBND xã T đã ban hành Tờ trình số 20/TTr-UBND ngày 05/8/2019 về việc
xin hỗ trợ kinh phí và đầu tư xây dựng công trình cầu phao thôn D tại vị trí
Km23+00 và đã được UBND huyện N nhất trí chủ trương đầu tư xây dựng cây
cầu từ nguồn ngân sách Nhà nước và giao cho Ban Q9 đầu tư thực hiện quy trình
đầu tư xây dựng theo quy định. Khi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng đã phối hợp với UBND xã T thực hiện kiểm
đếm, lập phương án, dự toán, chi trả kinh phí bồi thường giải phóng mặt bằng cầu
phao bê tông cũ và phạm vi tài sản bị ảnh hưởng đối với gia đình bà Nguyễn Thị
B2.
Sau khi giải phóng mặt bằng, gia đình bà B2 đã di chuyển cầu phao cũ ra
khỏi phạm vi công trình thì Ban kiến thiết cầu đã tự ý di chuyển cầu phao do nhân
23
dân thôn 4 đóng góp vào vị trí cầu phao cũ của gia đình bà B2 đã dọn di và tổ
chức cơi nới mố cầu nhưng không được sự nhất trí của UBND xã và đã bị UBND
xã lập biên bản ngày 26/12/2019.
Tại Quyết định số 6498/QĐ-UBND ngày 27/12/2019 của UBND huyện N
quyết định về việc phê duyệt chủ trương đầu tư dự án cầu phao thôn D, chủ đầu
tư là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện N.
Ngày 24/4/2020 Cục Đ13 đã cấp Giấy chứng nhận thẩm định thiết kế phương
tiện thuỷ nội địa số 01164/20TS/01 cho chủ sử dụng thiết kế là Ban Quản lý dự
án đầu tư xây dựng huyện N, đồng thời thể hiện nội dung những lưu ý: “Giấy
chứng nhận này chỉ chứng nhận cho phao nổi. P2 nổi dự định dùng để ghép thành
cầu phao tại thôn D, H, xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình”.
Ngày 12/6/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định số 3500 về việc phê
duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu gói thầu số 2 thi công xây dựng công trình cầu
phao thôn D, tên nhà trúng thầu là Công ty TNHH một thành viên X4.
Ngày 18/6/2020, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện N và Công ty
X4 đã ký Hợp đồng thi công xây dựng công trình cầu phao thôn D.
Ngày 15/7/2020 UBND huyện N có Quyết định số 3794a/QĐ-UBND về việc
duyệt dự toán, phương án bồi thường, hỗ trợ tài sản, vật kiến trúc bị ảnh hưởng
khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình phao thôn D là công trình cầu phao của
gia đình bà Nguyễn Thị B2 với tổng số tiền kinh phí bồi thường, hỗ trợ tài sản,
vật kiến trúc là 293.955.000 đồng. Sau khi nhận số tiền trên, gia đình bà B2 đã tự
nguyện tháo dỡ cầu phao cũ, vật kiến trúc ảnh hưởng đến công trình để bàn giao
mặt bằng sạch cho chủ đầu tư. Như vậy việc bồi thường giải phóng mặt bằng đối
với gia đình bà B2 đã được thực hiện đúng quy trình và đúng quy định của pháp
luật.
Tại Công văn số 71/BQL ngày 11/3/2021, Ban Quản lý dự án đầu tư xây
dựng huyện N đề nghị UBND xã T triển khai một số công việc sau: tổ chức thông
báo rộng rãi cho nhân dân việc tổ chức triển khai thi công công trình; chủ động
phối hợp với các đơn vị quản lý hạ tầng thiết yếu; di chuyển tài sản ra ngoài phạm
vi mặt bằng thi công (nếu có), thực hiện giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng
cho Ban Quản lý dự án và đơn vị thi công. Ngày 21/10/2022 Trạm kiểm tra tải
trọng và đăng kiểm thuỷ - Sở Giao thông và Vận tải tỉnh G4 đã cấp Giấy chứng
nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện thuỷ nội địa số
00053/22S35 cho chủ phương tiện là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện
N.
Tại Biên bản đối thoại cầu phao với nhân dân thôn 4 ngày 11/6/2021 thể
hiện: cầu phao là tài sản của nhân dân thôn D, nhân dân đồng thuận việc trả lại
tiền do nhân dân đóng góp (có 69/74 người đồng thuận).
Ngày 17/3/2022 sau khi đại dịch Covid19 cơ bản được khống chế, Ban quản
lý dự án đầu tư xây dựng huyện N tiếp tục tổ chức thi công. Do ảnh hưởng của
mưa bão nên đơn vị thi công phải dừng thi công chờ nước cạn. Đến ngày
24
06/9/2022 UBND xã tiếp tục thực hiện phương án bảo vệ thi công. Khoảng 15 giờ
30 phút ngày 06/9/2022, tại khu vực thôn D, bà Nguyễn Thị T1 đã có hành vi sử
dụng 1 đoạn tre khô dài 2,4m đập vỡ 01 tấm kính lùa phía trên bên trái cánh cửa
cabin máy đào bánh xích nhãn hiệu Komatsu PC200LC-8N1, biển kiểm soát
35XA-0702 do công nhân của Công ty X4 đang điều khiển thi công xây dựng cầu
phao, tổng giá trị thiệt hại là 2.500.000 đồng. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số
66/2023/HSST ngày 18/9/2023 Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình
đã quyết định tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài
sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 06
tháng cải tạo không giam giữ.
Theo Công văn số 2492/KHĐT-KTN ngày 27/11/2018 của Sở Kế hoạch và
Đầu tư tỉnh G4, Công văn số 3204/SGTVT-KCHT ngày 30/11/2018 của Sở Giao
thông và Vận tải tỉnh G4 cùng có ý kiến: việc xây dựng cầu phao mới sử dụng
vốn ngoài ngân sách (vốn xã hội hoá từ các nhà hảo tâm và nhân dân tự nguyện
đóng góp) phải lập chủ trương đầu tư, dự án đầu tư, đăng ký đầu tư theo quy định
của Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 và
các văn bản có liên quan. Ngày 25/6/2019, nhân dân thôn D H đã tự lắp đặt cầu
phao mới song song cách khoảng 10m so với cầu phao cũ do gia đình bà Nguyễn
Thị B2 xây dựng trước đó. Tuy nhiên, cầu phao của nhân dân thôn 4 chưa được
lập dự án, chưa đăng ký đầu tư theo hướng dẫn tại các văn bản nêu trên nên không
có cơ sở pháp lý xác định cầu phao của nhân dân thôn 4 đã được cấp phép hợp
pháp. UBND xã T đã cấp Giấy giới thiệu số 60/GT-UBND ngày 07/12/2018 giới
thiệu các ông bà đến các cơ quan có thẩm quyền để liên hệ làm các thủ tục xin
cấp phép làm cầu phao chứ không phải UBND xã T đã đồng ý cho nhân dân thôn
4 tự xây cầu phao như quan điểm của phía người khởi kiện.
Ngày 04/8/2022 đơn vị thi công tiến hành thi công. UBND xã đã giao cho
thôn 4 phải di dời cầu phao của nhân dân thôn 4 ra khỏi vị trí thi công, đồng thời
UBND xã đã thực hiện phương án bảo vệ thi công.
Do một số thanh niên lao động chính trong thôn đi làm ăn xa nên không có
người để điều động di chuyển cầu phao nên ông Nguyễn Văn H (Trưởng thôn
kiêm Trưởng Ban kiến thiết) có đơn đề nghị UBND xã hỗ trợ lực lượng giúp thôn
di chuyển cầu phao của thôn ra khỏi khu vực thi công (đơn có chữ ký của ông
Đinh Huy T8 - Bí thư Chi bộ thôn). Như vậy, trong các ngày 04/8/2022,
06/9/2022, 07/9/2022 UBND xã T không có hành vi thu hồi, tháo dỡ cầu phao của
nhân dân thôn 4; việc di chuyển cầu phao của nhân dân thôn 4 hoàn toàn được sự
đồng thuận của nhân dân thôn 4 do ông H là Trưởng thôn kiêm Trưởng Ban kiến
thiết có đơn đề nghị UBND xã hỗ trợ lực lượng giúp thôn di chuyển cầu phao của
thôn ra khỏi khu vực thi công. UBND xã T chỉ phối hợp theo đề nghị của thôn,
phối hợp cùng nhân dân thôn 4 di chuyển cầu phao cũ ra ngoài phạm vi thi công
cầu mới để đảm bảo mặt bằng cho nhà thầu thi công, đưa cầu phao của nhân dân
thôn 4 về nơi neo đậu của thôn theo đơn đề nghị nêu trên của ông H.
25
Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định UBND xã T (nay là UBND xã T) không
có hành vi hành chính trái pháp luật vào các ngày 04/8/2022, 06/9/2022,
07/9/2022 là đúng pháp luật.
Do Nhà nước không thu giữ, không thu hồi, không phá dỡ cầu phao của nhân
dân thôn 4 nên UBND xã T không ban hành quyết định thu hồi, không ban hành
phương án bồi thường là đúng pháp luật. Phía những người kháng cáo cho rằng
UBND xã T đã trực tiếp huy động lực lượng tổ chức tháo dỡ, di dời cầu phao của
các ông bà không dựa trên bất kỳ quyết định hành chính hợp pháp nào là không
có căn cứ.
Toà án cấp sơ thẩm đã nhận định “Hình ảnh các video tại hiện trường do
chính người khởi kiện cung cấp cũng thể hiện các lực lượng chức năng của UBND
xã T (nay là UBND xã T) chỉ cử lực lượng phối hợp, bảo vệ an ninh trật tự, cùng
với B3 kiến thiết và nhân dân thôn D H di chuyển chiếc cầu phao sang vị trí đường
vào cống Hữu Thường chứ UBND xã T không thu hồi, phá hủy hay thực hiện
hành vi định đoạt nào khác đối với chiếc cầu phao”. Do đó, những người kháng
cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đầy đủ các hình ảnh, video ghi
nhận tại hiện trường là không đúng.
[2.2] Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của người khởi kiện.
Sau khi giải phóng mặt bằng với gia đình bà B2 để thi công công trình cầu
phao mới, ngày 07/6/2022 Công ty X4 (là đơn vị thi công) đã có hợp đồng thoả
thuận mua lại cầu phao do nhân dân thôn D với số tiền 915.402.000 đồng. Sau đó
Công ty X4 đã giao đủ số tiền nêu trên cho đại diện thôn D H để chi trả cho các
hộ dân đã góp tiền xây dựng cầu. Gia đình là ông C, gia đình ông T, gia đình bà
T1, gia đình bà V chưa nhận tiền do không đồng ý với hợp đồng mua lại cầu phao
của Công ty X4. Công ty X4 bàn giao đủ số tiền 915.402.000 đồng, người đại diện
của thôn D đã chi trả cho các hộ dân đóng góp xây cầu, còn lại số tiền 650.000.000
đồng chuyển về UBND xã T cũ, sau đó UBND xã T cũ đã chuyển trả lại cho Công
ty X4. Đến nay Ban kiến thiết làm cầu T và bên nhận tiền vẫn chưa bàn giao cho
Công ty X4 cầu phao thôn D. Công ty X4 thể hiện quan điểm sẽ không tiếp tục
thực hiện thoả thuận mua lại cầu phao nữa và sẽ không thanh toán số tiền
650.000.000 đồng cho các ông bà Nguyễn P, Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1
và B3 kiến thiết làm cầu thôn D.
Như vậy, việc mua bán cầu phao của nhân dân thôn 4 được thực hiện bằng
nguồn vốn của doanh nghiệp, không sử dụng ngân sách Nhà nước. Mặt khác, do
UBND xã T (nay là UBND xã T) không phải là chủ đầu tư, cũng không có hành
vi hành chính trái pháp luật như đã nhận định nêu trên nên Toà án cấp sơ thẩm đã
xác định UBND xã T không có trách nhiệm phải bồi thường chi phí cho những
người dân tham gia đóng góp xây dựng cầu phao và chi phí vay lãi Ngân hàng với
tổng số tiền 1.870.262.611 đồng là đúng pháp luật.
[2.3] Mối liên hệ giữa hành vi hành chính bị kiện với quyền và lợi ích hợp
pháp của người khởi kiện và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
26
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như các ông: Nguyễn Văn H,
Nguyễn Thành Đ2, Bùi Văn K, Đinh Văn Q1, Đinh Văn Q2, Nguyễn Văn M,
Nguyễn Tiến T2, Nguyễn Thành L1, Nguyễn Khắc Đ5, Nguyễn Văn Q5, Đinh
Huy T8, Bùi Đức V1, Nguyễn Văn L5, Đinh Văn Đ11, Nguyễn Văn T16, Nguyễn
Văn T17, Nguyễn Xuân T18, Nguyễn Văn B1, Đinh Văn C6 cùng xác nhận việc
di dời cầu phao là do nhân dân thôn D H chủ động thực hiện để thực hiện việc xây
dựng cầu phao của Nhà nước là đúng pháp luật. Các ông đề nghị Toà án bác toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của những người khởi kiện là có căn cứ.
[2.4] Đối với quyết định hành chính có liên quan.
Do không có hành vi hành chính trái pháp luật như đã nhận định nêu trên
nên Chủ tịch UBND xã T đã ban hành Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022
về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) và đã quyết định không công nhận nội dung
khiếu nại của ông C, ông T, bà V, bà T1 là đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, về mặt hình thức, Chủ tịch UBND xã T là người có thẩm quyền
giải quyết khiếu nại lần đầu theo quy định tại Điều 17 của Luật Khiếu nại. Tuy
nhiên, Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 do ông Nguyễn Văn Đ (Chủ
tịch UBND xã T) ký với tư cách thay mặt UBND xã T là không đúng thẩm quyền.
Quá trình giải quyết vụ án, Chủ tịch UBND xã T không sửa đổi Quyết định số
517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 cho đúng thẩm quyền. Tuy nhiên, Quyết định số
517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và nội
dung của Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 đúng pháp luật nên không
cần thiết phải huỷ Quyết định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022, Hội đồng xét xử
rút kinh nghiệm Chủ tịch UBND xã T (nay là Chủ tịch UBND xã T) về vấn đề
nêu trên.
[3] Căn cứ điểm đ khoản 3 Điều 191 của Luật Tố tụng hành chính, Toà án
cấp sơ thẩm không xem xét, đánh giá quyết định hành chính có liên quan (Quyết
định số 517/QĐ-CT ngày 17/11/2022 của Chủ tịch UBND xã T về việc giải quyết
khiếu nại lần đầu) là không đầy đủ. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm xác định tư
cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T
(cũ): ông Nguyễn Văn Đ. Người kế thừa quyền và nghĩa vụ là ông Đinh Ngọc
L10 - Chủ tịch UBND xã T là không đúng quy định tại khoản 10 Điều 3, Điều 59
của Luật Tố tụng hành chính, mẫu Bản án số 22-HC (Ban hành kèm theo Nghị
quyết số 02/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao). Trong vụ án này, phải xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan là Chủ tịch UBND xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế thừa quyền
và nghĩa vụ là Chủ tịch UBND xã T, tỉnh Ninh Bình). Cần rút kinh nghiệm Tòa
án cấp sơ thẩm về những vấn đề nêu trên.
Căn cứ vào đơn khởi kiện của người khởi kiện, thời điểm thụ lý vụ án tại Tòa
án cấp sơ thẩm, cần xác định tư cách người bị kiện cho chính xác là Ủy ban nhân
dân xã T, huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là
Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Ninh Bình). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng huyện N, tỉnh Ninh Bình (Người kế thừa
27
quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N).
[4] Tại phiên toà phúc thẩm, phía người khởi kiện, người bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người khởi kiện đều không xuất trình tài liệu, chứng cứ gì
mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của người kháng cáo. Xét về tổng thể
Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đúng quy định của pháp luật khi đánh giá tính hợp
pháp của hành vi hành chính bị kiện. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét
xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận toàn bộ các lý do kháng cáo như phía
người khởi kiện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện đã
trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông C,
ông T, bà T1; giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[5] Án phí hành chính phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của ông C, ông T,
bà T1 không được chấp nhận nên ông C, ông T, bà T1 phải chịu án phí hành
chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, ông C thuộc trường
hợp người cao tuổi, đã có đơn xin miễn nộp tiền án phí, thuộc trường hợp được
miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 241, khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành
chính; khoản 1 Điều 34 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
1. Bác kháng cáo của ông Nguyễn Pháp C, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn
Thị T1 và giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2026/HC-
ST ngày 07/4/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Ninh Bình.
2. Về án phí hành chính phúc thẩm.
- Ông Nguyễn Pháp C được miễn nộp án phí hành chính phúc thẩm.
- Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1 phải liên đới chịu 300.000 đồng án
phí hành chính phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hành chính
phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001481
ngày 21/4/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình (do ông Nguyễn Pháp C
nộp thay ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị T1). Ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn
Thị T1 đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
08/9/2026).
Nơi nhận:
- Toà Phúc thẩm TANDTC;
- VKSND tỉnh Ninh Bình;
- Các đương sự;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
- TAND khu vực 3 – Ninh Bình;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
28
- VKSND khu vực 3 – Ninh Bình;
- THADS tỉnh Ninh Bình;
- UBND tỉnh Ninh Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án, HCTP, THC.
Nguyễn Thị Phượng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2026/HC-PT Bản án số 08/2026/HC-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất