Bản án số 444/2026/HS-ST ngày 27/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 444/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 444/2026/HS-ST ngày 27/09/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hà Nội, TP. Hà Nội
Số hiệu: 444/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/09/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Văn C phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 444/2026/HS-ST Bản án số 444/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 444/2026/HS-ST Bản án số 444/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – HÀ NỘI
Bản án số: 444/2026/HSST
Ngày 19 tháng 8 năm 2026
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Xuân Khương
2. Bà Nguyễn Thị Huyền Nga
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân
Khu vực 3 – Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội tham gia phiên
toà: Ông Nguyễn Hoàng Phương – Kiểm sát viên.
Hôm nay ngày 19.8.2026, tại trụ sở, Toà án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 276/2026/TLST-HS ngày 18.5.2026 đối
với bị cáo:
Nguyễn Văn C1; Sinh năm: 1980. Giới tính: Nam. CCCD số:
************. HKTT và nơi ở: Thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh. Nghề nghiệp: Tự
do. Văn hóa: 5/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con
ông: Nguyễn Văn Đ (c). Con bà: Nguyễn Thị H. Danh chỉ bản số 295lập ngày
26/02/2026 do Công an thành phố Hà Nội cung cấp. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 26/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh
xử phạt 5 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Bị cáo tại ngoại.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
1. Anh Phan Duy T (sinh năm: 1986; HKTT: N, xã L, G, tỉnh Bắc Ninh. Nơi
ở: Tổ 3 phường L, thành phố Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm: 1980; HKTT: Xã B, thành phố Hà Nội.
Nơi ở: Số 42 ngõ 296 L, H, Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Tiến C2 (sinh năm: 1970; Địa chỉ: số 379 T, phường T, tỉnh
Bắc Ninh). Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Tất N (sinh năm: 1966; Địa chỉ: số 359 T, phường T, tỉnh
Bắc Ninh). Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Anh Nguyễn Văn H2 (sinh năm: 1962; HKTT: Số 168 tổ 3 K, phường
Y, thành phố Hà Nội. Địa chỉ: Số 5B ngõ 56 H, xã P, thành phố Hà Nội). Vắng
mặt tại phiên tòa.
2
4. Anh Nguyễn Đức D (sinh năm: 1982; HKTT: Thôn H, xã Đ, thành phố
Hà Nội. Nơi ở: Thôn M, xã Đ, thành phố Hà Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.
5. Anh Đào Văn H3 (sinh năm: 1982; Địa chỉ: Thôn L, xã Đ, thành phố Hà
Nội). Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Thị Thoan – Công ty Luật
TNHH MTV FC Việt Nam – Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2015, thông qua quan hệ xã hội, Nguyễn Văn C1 quen biết anh Phan
Duy T (SN: 1986; HKTT: Thôn N, xã Đ, tỉnh Bắc Ninh). Ngày 24/12/2015,
Nguyễn Văn C1 đến gặp anh Phan Duy T tại số 26A/110 N, phường V, TP Hà
Nội để thuê của anh T 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Matiz, BKS: 29M –
8901 làm phương tiện đi lại. C1 và anh T thỏa thuận thời hạn thuê xe là 07 ngày,
giá thuê xe là 200.000 đồng/ngày và cả 02 có lập hợp đồng thuê xe. Sau khi ký
hợp đồng, anh T giao cho C1 chiếc xe ô tô trên cùng các giấy tờ xe. Sau khi thuê
được xe, C1 điều khiển chiếc xe trên về tỉnh Bắc Ninh. Lúc này, do thiếu tiền
tiêu xài nên C1 đã nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe thuê của anh T. C1 mang
chiếc xe ô tô thuê của anh T đến cửa hàng cầm đồ Tiến Cường; Địa chỉ: P, T,
phường T, tỉnh Bắc Ninh và cầm cố chiếc xe ô tô trên cho Nguyễn Tiến C2 (SN:
1970; HKTT: Số 379 T, phường T, tỉnh Bắc Ninh) để vay số tiền 40.000.000
đồng, thời hạn 10 ngày (Từ ngày 24/12/2015 đến ngày 03/01/2016), với lãi suất
2.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày. Quá trình giao dịch, C1 và C2 có lập Phiếu
cầm đồ ghi nhận nội dung trên. Sau đó, C1 giao giấy tờ xe cho C2. Số tiền có
được từ cầm cố xe, C1 đã tiêu xài cá nhân hết. Khi hết thời hạn cầm cố tài sản,
C1 không đến lấy xe nên ngày 28/03/2016, C2 đã bán thanh lý chiếc xe ô tô trên
cho Nguyễn Tất N (SN: 1966; HKTT: Số 359 T, phường T, tỉnh Bắc Ninh) với
giá 44.000.000 đồng. Cùng ngày, Nguyễn Tất N tiếp tục bán lại chiếc xe ô tô
trên cho Nguyễn Văn H2 (SN: 1962; Địa chỉ: Số 1 Phan Đ, xã P, TP Hà Nội) với
giá 46.000.000 đồng, Nguyễn Văn H2 tiếp tục bán lại xe ô tô trên cho Nguyễn
Đức D (SN: 1982; HKTT: Thôn H, xã Đ, TP Hà Nội) với giá 54.000.000 đồng,
Nguyễn Đức D bán lại xe cho Đào Văn H3 (SN: 1985; HKTT: Thôn L, xã Đ,
TP Hà Nội) với giá 61.000.000 đồng.
Ngoài hành vi chiếm đoạt chiếc xe ô tô của anh Phan Duy T, quá trình điều
tra xác định Nguyễn Văn C1 còn thực hiện 01 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản khác. Cụ thể: Ngày 19/01/2016 tại số nhà 42 ngõ 296 L, phường H, TP
Hà Nội, Nguyễn Văn C1 hỏi mượn của chị Nguyễn Thị H1 (SN: 1980; HKTT:
Đội 1, Thôn Đ, xã B, TP Hà Nội) 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29V1
– 194.39 để đi lại. Chị H1 đồng ý và đã giao chiếc xe máy trên cùng toàn bộ giấy
tờ xe cho Nguyễn Văn C1 mượn, 02 bên không lập giấy tờ gì. Sau khi mượn
được chiếc xe máy của chị H1, C1 sử dụng để đi lại một thời gian. Sau đó do
thiếu tiền tiêu xài nên C1 nảy sinh ý định đem xe này đi cầm cố. Nguyễn Văn
3
C1 đã mang chiếc xe máy của chị H1 đến một cửa hàng cầm đồ ở khu vực
phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội (C1 không nhớ địa chỉ) và cầm
cố được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền này C1 đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó
do không có tiền để chuộc lại được xe cho anh T và chị H1 nên C1 đã tắt liên lạc
và bỏ trốn. Anh T và chị H1 đã nhiều lần liên lạc để yêu cầu C1 trả lại tài sản
nhưng không được nên đã đến cơ quan công an trình báo.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của anh Phan Duy T: 01 hợp đồng thuê xe ô tô đề ngày 24/12/2015,
người thuê là Nguyễn Văn C1. (BL 103)
Thu giữ của Nguyễn Tiến C2: 01 bản sao phiếu cầm đồ là xe ô tô đề ngày
24/12/2015, người cầm đồ là Nguyễn Văn C1. (BL 120)
Thu giữ của Đào Văn H3: 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Matiz, BKS:
29M – 8901, 01 đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm và 01 giấy chứng
nhận kiểm định xe ô tô. (BL 143)
Thu giữ của Nguyễn Văn C1: số tiền 40.000.000 đồng. (BL 83)
Kết luận giám định số 12/KL-GĐKTHS(P11) ngày 19/01/2026 của Phòng
giám định KTHS – Bộ Quốc phòng kết luận:
- Toàn bộ chữ viết phần nội dung từ cụm chữ "Cộng Hòa..." đến ".... Bên
Thuê" trên Hợp đồng thuê xe đề ngày 24/12/2015 (ký hiệu A1) với chữ viết mẫu
so sánh ghi của Nguyễn Văn C1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là
không phải do cùng một người viết ra.
- Chữ ký, chữ viết ghi họ tên "Nguyễn Văn C1" cần giám định trên trên
Hợp đồng thuê xe đề ngày 24/12/2015 (ký hiệu Al) với chữ ký, chữ viết mẫu so
sánh ghi của Nguyễn Văn C1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là do
cùng một người ký, viết ra.
Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2026 của Hội
đồng ĐGTS trong TTHS – UBND phường Hoàng Mai kết luận:
Giá trị của tài sản định giá thời điểm tháng 12/2015: Của 01 (một) chiếc xe
ô tô nhãn hiệu Daewoo Matiz, biển số: 29M-8901, số máy: F8CV209958, số
khung: VVAMM4XH00787, xe đã qua sử dụng, giá trị 58.300.000 đồng.
Giá trị của tài sản định giá thời điểm tháng 01/2016: Của 01 (một) xe mô
tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 29V1-19439, số máy: HC12E5086543, số
khung: RLHHC1212DY086408, xe đã qua sử dụng, giá trị 11.300.000 đồng.
Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Matiz, BKS: 29M – 8901, 01
đăng ký xe, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe
ô tô, ngày 26/5/2016 cơ quan điều tra đã trao trả số vật chứng này cho anh Phan
Duy T. Hiện anh T đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số: 29V1-19439 hiện cơ
quan điều tra không thu hồi được. Quá trình điều tra Nguyễn Văn C1 đã tự
nguyện bồi thường cho chị Nguyễn Thị H1 số tiền 17.000.000 đồng. Hiện chị
H1 không có yêu cầu đề nghị gì có có đơn xin giảm nhẹ cho Nguyễn Văn C1.
4
Đối với Nguyễn Tiến C2, Nguyễn Tất N, Nguyễn Văn H2, Nguyễn Đức D
và Đào Văn H3, quá trình nhận cầm cố và mua bán chiếc xe ô tô Daewoo Matiz,
BKS: 29M – 8901 những người này không biết nguồn gốc xe do Nguyễn Văn
C1 phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với số tiền Đào Văn H3 đã bỏ ra để mua chiếc xe ô tô Daewoo Matiz,
BKS: 29M – 8901, hiện Hải không có yêu cầu gì đối với số tiền này nên cơ quan
điều tra không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 40.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn C1, đây là số tiền
C1 hưởng lợi bất chính qua việc cầm cố chiếc xe ô tô của anh Phan Duy T và tự
nguyện giao nộp. Cơ quan điều tra đã chuyển số tiền này đến Phòng thi hành án
dân sự khu vực 3 – TP Hà Nội để giải quyết theo quy định.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C1 đã khai nhận hành vi phạm tội như
nội dung trên, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 107/CT/VKS-HS ngày 08.5.2026 của Viện kiểm sát
nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội thì bị cáo Nguyễn Văn C1 bị truy tố về tội Lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
* Tại phiên tòa luật sư Thoan bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Sự việc
xảy ra đã lâu, văn hóa bị cáo thấp nên nhận thức của bị cáo hạn chế. Bị cáo có
hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mất. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình
tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự,
Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15.8.2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa
án nhân dân Tối Cao. Đề nghị Hồi đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án
thấp nhất và hưởng án treo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bị cáo rất ăn năn hối
hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã nhận thức được trách nhiệm, đã bồi
thường cho người bị hại, người bị hại có đơn xin cho bị cáo. Đề nghị cho bị cáo
hưởng án treo.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn C1 về tội danh và điều luật đã viện
dẫn. Sau khi xem xét đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đại
diện Viện kiểm sát đề nghị:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt Nguyễn Văn C1 với mức hình phạt từ 9 đến 12 tháng tù.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 40.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính bị cáo
tự nguyện nộp tại tại Kho bạc Nhà nước Khu vực 1 PGD số 3 theo giấy nộp tiền
mặt ngày 29/01/2026 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 29/01/2026.
Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên
không xét.
Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà
Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hà Nội, Kiểm sát viên
trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị
cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà hôm nay bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung
bản cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ
hình phạt.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà, là phù hợp với lời khai tại cơ
quan điều tra, và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên
tòa. Thấy có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 24/12/2015 đến
ngày 19/01/2016 tại địa chỉ số 26A/110 N, phường V, TP Hà Nội và số nhà 42
ngõ 296 L, phường H, TP Hà Nội, Nguyễn Văn C1 đã có hành vi lạm dụng tín
nhiệm để chiếm đoạt tài sản là 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Daewoo Matiz, BKS:
29M – 8901 trị giá 58.300.000 đồng của anh Phan Duy T và 01 xe mô tô nhãn
hiệu Honda Wave, biển số: 29V1-19439 trị giá 11.300.000 đồng của chị Nguyễn
Thị H1 rồi mang đi cầm cố được số tiền tổng cộng 50.000.000 đồng. Tổng trị
giá tài sản Nguyễn Văn C1 chiếm đoạt của các bị hại là 69.600.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C1 đã phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hµnh vi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, trùc tiÕp x©m ph¹m quyÒn së
h÷u tµi s¶n ®-îc nhµ n-íc b¶o vÖ, g©y mÊt trËt tù trÞ an, ¶nh h-ëng ®Õn an toµn
x· héi, bÞ nhµ n-íc quy ®Þnh lµ téi ph¹m. Trong vô ¸n nµy hµnh vi cña bÞ c¸o đã
lîi dông lßng tin cña các bÞ h¹i ®Ó chiÕm ®o¹t tµi s¶n.
Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Văn C1 chưa tiền sự, có 01 tiền án: Hội đồng
xét xử xét: Ngày 26/01/2016, bị cáo thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản. Ngày 26/6/2018 Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc
Ninh xử phạt 5 năm tù tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án
này ngày 24/12/2015 đến ngày 19/01/2026 bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Hôm nay ngày 19/8/2026, Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Hà Nội đưa vụ án ra xét
xử. Vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp án trước xử sau, án sau
xử trước nên không xác định là tái phạm.
Tại toà bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Bị cáo đã bồi
thường, khắc phục hậu quả cho bị hại. Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt
6
cho bị cáo. Gia đình bị cáo có công với Nhà nước nên Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết
giảm nhẹ, trong đó có 2 tình tiết giảm nhẹ là điểm s, b khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Căn cứ theo quy định tại khoản 1
Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử
xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung
hình phạt được áp dụng. Xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành
hình phạt tù, bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội nhưng bị cáo cũng
phải chịu sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú trong thời
gian thử thách.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 40.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính bị cáo
tự nguyện nộp tại tại Kho bạc Nhà nước Khu vực 1 PGD số 3 theo giấy nộp tiền
mặt ngày 29/01/2026 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 29/01/2026.
Về dân sự: Bị hại đã nhận bồi thường và không có yêu cầu gì về dân sự nên
Tòa không xét.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Từ những nhận định trên!
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C1 phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản”.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ
sung năm 2017; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 54,
Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Điều 106, Điều
136, Điều 331, Điều 333, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi
bổ sung năm 2025. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Nguyễn Văn C1 24 (hai mươi T) tháng tù nhưng cho hưởng
án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo về Uỷ ban nhân dân xã Đại Đồng, tỉnh Bắc Ninh để giám sát
giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của
pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì
Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án
này.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 40.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính bị cáo
tự nguyện nộp tại tại Kho bạc Nhà nước Khu vực 1 PGD số 3 theo giấy nộp tiền
mặt ngày 29/01/2026 và Phiếu hạch toán nộp tiền mặt ngày 29/01/2026.
7
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ
ngày nhận được bản án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền
kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo
trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- TAND thành phố Hà Nội;
- VKSND thành phố Hà Nội;
- VKSND Quận Hai Bà Trưng;
- Công an Quận Hai Bà Trưng;
- THA Quận Hai Bà Trưng;
- Lưu hồ sơ vụ án; Lưu VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Nguyễn Thị Hải Yến
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 444/2026/HS-ST Bản án số 444/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 444/2026/HS-ST Bản án số 444/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất