Bản án số 08/2025/KDTM-PT ngày 13/01/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 08/2025/KDTM-PT

Tên Bản án: Bản án số 08/2025/KDTM-PT ngày 13/01/2025 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đầu tư tài chính, ngân hàng
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 08/2025/KDTM-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/01/2025
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Các Thẩm phán: Trương Thị Quỳnh Trâm
Ngô Thị Phúc Hảo
Thư ký phiên tòa:Phạm Ngọc Thy T
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa:Lê Thị Kim Thủy Kiểm sát viên.
Trong các ngày 9 ngày 13 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân
dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án về kinh doanh
thương mại thụ số: 223/2024/TLPT-KDTM ngày 05 tháng 11 năm 2024 về
“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 62/2024/KDTM-ST ngày
13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh bị
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6348/2024/QĐ-PT
ngày 03 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 17456/2024/QĐ-PT
ngày 23 tháng 12 năm 2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 108/2024/QĐ-
PT ngày 09 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; Địa chỉ trụ sở: 89 LH, phường LH,
quận Đ, Thành phố Nội; Địa chỉ liên hệ: Tầng 1, Số 96 CT, PhườngR, Quận
E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Gia Đ, sinh m 2000.
người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 17512/2024/UQN-PGĐ
ngày 24/12/2024) - có mặt.
Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S; Địa chỉ trụ sở:
311 LHP, Phường W, Quận QP, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đỗ Huy Q, sinh năm 1984; Địa
chỉ thường trú: 94/635B NK, Phường E, quận GV, Thành phố Hồ Chí Minh
người đại diện theo pháp luật - vắng mặt.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Nguyễn H, sinh
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 08/2025/KDTM-PT
Ngày: 13/01/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
2
năm 1984; Địa chỉ: 41/68/66 Tổ 31, Ấp 5 (Ấp 37), ĐT, huyện HM, Thành
phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Nguyễn H: ông Đặng Anh
V, ông H Phước H2; cùng địa chỉ: R7, BV, Phường QT, Quận QP, Thành
phố Hồ Chí Minh, người đại din theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày
20/12/2024 tại Văn phòng Công chứng Nguyễn Thị Sáu) - có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Trần Nguyễn H là:
ông Đỗ Văn L ông Đàm Văn H1 Luật thuộc Công ty Luật TNHH Lập
Phương; Địa chỉ: R7, BV, Phường QT, Quận QP, Thành phố Hồ Chí Minh -
vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Trần Lê Nguyễn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2024 và trong quá trình tố tụng tại cấp
thẩm, ông Gia Đ người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình
bày như sau:
Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S (gọi tắt là Công ty S) đã
vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (Ngân hàng V) với nội dung như sau:
- Hợp đồng cho vay hạn mức s EGV/22890 ngày 30/7/2022 tại Ngân
hàng V - Chi nhánh Vấp; Hạn mức cho vay: 2.500.000.000 đồng; Thời hạn
duy trì hạn mức: 12 tháng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ cho
hoạt động buôn bán đồ dùng khác cho gia đình (chi tiết bán buôn sách, báo, tạp
chí, văn phòng phẩm).
Ngân hàng V đã giải ngân số tiền vay Hợp đồng cho vay hạn mức số
EGV/22890 ngày 30/7/2022 lần lượt theo các khế ước nhận nợ cụ thể như sau:
+ Khế ước nhân nợ số: 080922-6849489-ONL-23 ngày 09/9/2022 (Mã
LD2225201712); số tiền vay: 300.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng;
Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân 17,30%/năm, điều chỉnh 1
tháng/ lần; Ngày giải ngân: 09/9/2022; Ngày đến hạn: 08/3/2023;
Ngày quá hạn: 08/3/2023, tạm tính đến ngày 13/9/2024, Công ty S đã trả
được 56.393.345 đồng (Trong đó: 30.001.182 đồng tiền gốc, 26.392.163 đồng
tiền lãi); Còn nợ 397.724.697 đồng (Trong đó: 269.998.818 đồng tiền gốc, lãi
trong hạn: 2.665.514 đồng, lãi quá hạn: 124.836.170 đồng, lãi chậm trả:
224.195 đồng);
+ Khế ước nhận nợ số 130922 6849489-ONL-24 ngày 13/9/2022; stiền
vay: 300.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn tại
thời điểm giải ngân 17,30%/năm, điều chỉnh 1 tháng/ lần; Ngày giải ngân:
13/9/2022; Ngày đến hạn: 13/3/2023;
Ngày quá hạn: 13/3/2023, tạm tính đến ngày 13/9/2024, Công ty S đã trả
được 25.352.146 đồng (Trong đó: 0 đồng tiền gốc, 25.352.146 đồng tiền lãi);
3
Còn nợ 441.882.541 đồng (Trong đó: 300.000.000 đồng tiền gốc, lãi trong hạn:
3.459.361 đồng, lãi quá hạn: 137.900.959 đồng, lãi chậm trả: 522.221 đồng).
+ Khế ước nhận nợ số: 2520922 6849489-ONL-25 ngày 22/9/2022; số
tiền vay: 139.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn
tại thời điểm giải ngân 17,30%/năm, điều chỉnh 1 tháng/ lần; Ngày giải ngân:
22/09/2022; Ngày đến hạn: 203/2023.
Ngày quá hạn: 20/3/2023, tạm tính đến ngày 13/9/2024, Công ty S đã trả
được 11.051.819 đồng (Trong đó: 0 đồng tiền gốc, 11.051.819 đồng tiền lãi);
Còn nợ 204.568.297 đồng (Trong đó: 139.000.000 đồng tiền gốc, lãi trong hạn:
2.163.463 đồng, lãi quá hạn: 63.082.389 đồng, lãi chậm trả: 322.445 đồng).
+ Khế ước nhận nợ số: 2520922 6849489-ONL-26 ngày 22/9/2022; số
tiền vay: 89.000.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn
tại thời điểm giải ngân 17,30%/năm, điều chỉnh 1 tháng/lần; Ngày giải ngân:
22/9/2022; Ngày đến hạn: 20/3/2023.
Ngày quá hạn: 20/3/2023, tạm tính đến ngày 13/9/2024, Công ty S đã trả
được 7.076.346 đồng (Trong đó: 0 đồng tiền gốc, 7.076.346 đồng tiền i); Còn
nợ 130.982.577 đồng (Trong đó: 89.000.000 đồng tiền gốc, lãi trong hạn:
1.385.238 đồng, lãi quá hạn: 40.390.882 đồng, lãi chậm trả: 206.457 đồng).
+ Khế ước nhận nợ số: 150223-6849489-ONL-27 ngày 15/02/2023; số
tiền vay: 1.000.065.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay trong
hạn tại thời điểm giải ngân 21,30%/năm, điều chỉnh 1 tháng/ lần; Ngày giải
ngân: 15/02/2023; Ngày đến hạn: 15/8/2023.
Ngày quá hạn: 15/3/2023, tạm tính đến ngày 13/09/2024, Công ty S đã trả
được 0 đồng; Còn nợ 1.472.143.768 đồng (Trong đó: 1.000.065.000 đồng tiền
gốc, lãi trong hạn: 16.340.788 đồng, lãi quá hạn: 453.280.146 đồng, lãi chậm
trả: 2.457.834 đồng).
+ Khế ước nhận nợ số: 150223-6849489-ONL-28 ngày 15/02/2023; số
tiền vay: 199.935.000 đồng; Thời hạn vay: 06 tháng; Lãi suất cho vay trong hạn
tại thời điểm giải ngân 21,30%/năm, điều chỉnh 1 tháng/lần; Ngày giải ngân:
15/02/2023; Ngày đến hạn: 15/8/2023.
Ngày quá hạn: 15/3/2023, tạm tính đến ngày 13/9/2024, Công ty S đã trả
được 0 đồng; n n294.313.934 đồng (Trong đó: 199.935.000 đồng tiền gốc,
lãi trong hạn: 3.266.883 đồng, lãi quá hạn: 90.620.676 đồng, lãi chậm trả:
491.375 đồng).
Toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo
đảm bằng tất cả tài sản nhân của ông Trần Nguyễn H qua Hợp đồng bảo
lãnh với nội dung ông Trần Nguyễn H đồng ý bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản,
vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty S trong việc
thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ các Hợp đồng tín dụng nêu trên giữa
Ngân hàng V và Công ty S theo Hợp đồng bảo lãnh số: EGV/22890/BLCN ngày
30/7/2022.
4
Tuy nhiên, trong quá trình thc hin Hợp đồng cho vay hạn mức số
EGV/22890 ngày 30/7/2022, Công ty S đã không thc hiện đúng nghĩa v tr
n, vi phạm nghĩa v thanh toán. Ngân hàng V đã chuyển n quá hn k t ngày
08/3/2023.
Trong quá trình s dng vn vay, ng ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh
toán ti các Hợp đồng tín dng nêu trên mc dù Ngân hàng V nhiu ln làm vic
với đại din Công ty và các bên bảo lãnh để yêu cu thanh toán.
Ngân hàng V khi kin yêu cu Công ty S và ông Trần Lê Nguyễn H thc
hiện nghĩa vụ như sau:
1. Công ty S phi tr ngay mt ln cho Ngân hàng V tng s nn thiếu
tạm tính đến hết ngày 13/9/2024 gm: n gốc: 1.997.998.818 đồng, n i
trong hạn: 29.281.247 đồng, nợ lãi quá hạn : 910.111.222 đồng, nợ lãi chậm trả:
4.224.528 đồng.Tổng cộng: 2.941.615.815 đồng.
Công ty S vn phi tiếp tc chu lãi phát sinh theo các hợp đồng tín dng
đã ký nêu trên cho tới khi thanh toán xong toàn b s n cho Ngân hàng V.
2. Trường hp Công ty S không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ
theo yêu cu nêu trên thì ông Trn Nguyn H phi có trách nhim thanh toán
thay toàn b khon n vay Công ty S theo Hợp đồng bo lãnh s
EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 đã ký kết.
* Bị đơn Công ty S: Vắng mặt trong quá trình tố tụng tại cấp thẩm và
không gửi văn bản nêu ý kiến.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Lê Nguyễn H trình bày
tại bản tự khai ngày 05/7/2024 và ông H Nhật D người đại diện theo ủy quyền
trình bày tại biên bản hoàn giải ngày 26/7/2024 có nội dung như sau:
Công ty S do vchồng ông Đỗ Huy Q bà Nguyễn Thi Ngọc D thành
lập, do bạn nên ông H chỉ đứng tên đại diện pháp luật công ty dùm, mọi
hoạt động của công ty đều do ông Q, Diệu điều hành, chi phối. Ông H không
tham gia điều hành không được hưởng bất kỳ thù lao, lợi ích nào từ công ty.
Do tin tưởng nên ông H các giấy tờ liên quan đến hoạt động ng ty
không xem qua nội dung mỗi khi yêu cầu từ phía ông Q, bà D. Ngay cả việc
ông H ra tại các chi nhánh ngân hàng đề giao dịch, việc ông H chỉ mà không
biết nội dung văn bản ký là gì.
Đến khoảng tháng 03/2023, ông H thuộc đối tượng nxấu n không thể
tiếp tục vay tiền, cũng như do ông H không muốn dính líu đến hoạt động công ty
nữa nên vợ chồng ông Q đã đề nghị ông H làm thủ tục để chuyển nhượng toàn
bộ vốn p, thay đổi người đại diện pháp luật chuyển giao toàn bộ nghĩa vụ
trước đó của ông H cho D. Ngày 13/3/2023, Phòng đăng kinh doanh đã
cấp giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp thay đổi, theo đó người đại diện
pháp luật của công ty là bà D nên từ ngày 13/3/2023 ông H không còn liên quan
gì đến Công ty S.
5
Ông H nhận được thông báo của Ngân hàng V về nợ quá hạn của Công
ty S, ông đều đã nhắn tin thông o cho D ông Q để xử lý. vậy ông H
đề nghị tòa triệu tập ông Q và bà D tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan.
Tại phiên tòa thẩm người đại diện ông H trình bày: Ông Trần
Nguyễn H không đồng ý trả thay khoản nợ của Công ty S trong trường hợp
Công ty S không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng, bởi đây
khoản nợ của Công ty S vay Ngân hàng thì công ty phải trách nhiệm trả nợ
chứ ông Trần Lê Nguyễn H không liên quan gì đến khoản nợ này. Ngoài ra,
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại giá trị pháp của Hợp đồng bảo lãnh số
EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 được kết giữa ông Trần Nguyễn H
với Ngân hàng TMCP V.
Tại Bản án kinh doanh thương mại thẩm số 62/2024/KDTM-ST ngày
13 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
đã quyết định như sau:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S phải trả ngay
một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tính đến
ngày 13/9/2024 2.941.615.815đ (Hai tỷ, chín trăm bốn mươi mốt triệu, sáu
trăm mười lăm ngàn, tám trăm mười lăm đồng) trong đó n gốc
1.997.998.818đ, nợ lãi trong hạn 29.281.247đ, nlãi chậm trả 4.224.528đ,
nợ lãi quá hạn là 910.111.222đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thi hành án
xong, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S còn phải tiếp tục chịu
tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số EGV/22890 ngày 30/7/2022, khế ước
nhận nợ số 080922-6849489-ONL-23 ngày 09/9/2022, khế ước nhận nợ số
130922-6849489-ONL-24 ngày 13/9/2022, khế ước nhận nợ số 220922-
6849489-ONL-25 ngày 22/9/2022, khế ước nhận nợ số 220922-6849489-ONL-
26 ngày 22/9/2022, khế ước nhận nợ số 150223-6849489-ONL-27 ngày
15/02/2023, khế ước nhận nợ số 150223-6849489-ONL-28 ngày 15/02/2023.
1.2 Trường hợp Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S không
trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
thì ông Trần Lê Nguyễn H phải có nghĩa vụ trả nợ thay Công ty TNHH Sản xuất
Thương mại Dịch vụ S theo Hợp đồng bảo lãnh số EGV/22890/BLCN ngày
30/7/2022.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo
nghĩa vụ thi hành án của đương sự.
Ông Trần Nguyễn H đơn kháng cáo đề ngày 25/9/2024, với do
bản án sơ thẩm chưa khách quan, chưa thỏa đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của
ông H không được đảm bảo. Ông H kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị sửa án sơ
6
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H phải
nghĩa vụ trả nợ thay cho bị đơn theo Hợp đồng bảo lãnh. Tuy hợp đồng bảo lãnh
số EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 hiệu vì thiếu chủ thể Bên được bảo
lãnh và điều kiện tài sản bảo đảm không đáp ứng theo quy định tại khoản 2 Điều
195 Bộ luật Dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện hợp pháp của ông H trình bày kháng cáo: Ông Trần
Nguyễn H không đồng ý trả thay khoản nợ của Công ty S trong trường hợp
Công ty S không trả hoặc trả không đầy đủ khoản nợ cho Ngân hàng, bởi Công
ty S hoạt động độc lập nên phải chịu trách nhiệm độc lập đối với khoản vay chứ
ông Trần Nguyễn H không liên quan đến khoản nợ này. Hợp đồng bảo
lãnh số EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 được ký kết giữa ông Trần Lê
Nguyễn H với Ngân hàng TMCP V không tuân thủ theo quy định của pháp luật
thiếu chủ thể tham gia Công ty S. Việc bảo lãnh của ông H nhưng không
thể hiện cụ thể tài sản đảm bảo là gì vi phạm quy định về tài sản bảo đảm nên
không có giá trị. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu
cầu của nguyên đơn buộc ông H phải trả nợ thay cho Công ty S tuyên bố hợp
đồng bảo lãnh vô hiệu do thiếu chủ thể khi ký kết và không đáp ứng điều kiện về
tài sản bảo đảm. Ngoài ra đề nghị xem xét thêm vtrách nhiệm của bị đơn đã
vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn không
đồng ý toàn bộ kháng cáo của ông H với do chủ thể hợp đồng bảo lãnh được
thực hiện phù hợp theo quy định của Điều 335 Bộ luật Dân sự Thông
11/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo
lãnh ngân hàng. Hợp đồng nội dung hình thức phù hợp quy định của pháp
luật nên phát sinh hiệu lực pháp lý. Đồng thời theo các quy định tại khoản 7
Điều 292, Điều 335 Bộ luật Dân sự hình thức tín chấp không áp dụng biện
pháp bảo đảm bằng tài sản cụ thể. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận
kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ý kiến phát biu ca Kim sát viên:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm
phán đã chấp hành theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư tại phiên
tòa theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân s về việc xét xử phúc thẩm
vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng vụ
án: các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Ông Trần Lê Nguyễn H kháng cáo nhưng không nêu
được do chính đáng đnghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận
kháng cáo của ông H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
7
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án, được thẩm tra tại
phiên tòa. Hội đồng xét xử, nhận định:
[1] Cấp thẩm thgiải quyết vụ án đúng theo thẩm quyền, xác định
quan hệ tranh chấp cách tham gia ttụng của các đương sự trong vụ án là
đúng theo quy định của Pháp luật tố tụng.
[2] Đơn kháng cáo của ông Trần Nguyễn H người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan còn trong thời hạn kháng cáo, hình thức và nội dung đúng
quy định nên được chấp nhận.
[3] Phạm vi kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông
Trần Nguyễn H xác định chỉ kháng cáo đối với phần quyết định của bản án
thẩm đã tuyên buộc ông H trả nợ thay cho Công ty S. Ông H không kháng
cáo đối với phần quyết định của bản án thẩm tuyên buộc Công ty S phải trả
nợ cho Ngân hàng V.
[4] V xét x vng mt b đơn ti phiên tòa phúc thm: Công ty S bị
đơn không kháng cáo, đã được tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia
phiên tòa xét xlần 1 ngày 23/12/2024 lần 2 ngày 09/01/2025 nhưng vắng
mặt không do, vậy Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều
296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Xét kháng o về việc vắng mặt của Công ty S tại cấp thẩm: Trong
hồ sơ thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện thủ tục cấp tng đạt các văn bản
tố tụng cho bị đơn ng ty S bằng phương thức niêm yết công khai tại trụ sở
của công ty số 311 LHP, Png W, Qun QP niêm yết công khai cho đại
diện theo pháp luật của công ty ông Đỗ Huy Q tại địa chỉ thường trú số
94/635B NK, Phưng E, qun GV, Thành ph Hồ Chí Minh. Cthể các văn bản
tố tụng đã tống đạt cho bị đơn gồm có: Thông báo thụ vụ án, Thông báo về
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải;
Thông báo kết quả phiên họp ng khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra t
xử và giấy triệu tập đến phiên tòa lần 1; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu
tập đến phiên tòa lần 2. Việc Tòa án cấp thẩm thực hiện thủ tục về cấp, tống
đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty S như trên đầy đủ
đúng quy định tại Chương X của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, Tòa án cấp
thẩm xét xử vắng mặt bị đơn - Công ty S đúng quy định tại khoản 2 Điều
227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn là Công ty S
phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng hạn mức tín dng các khế ước
nhận nợ đã ký, yêu cầu này đã được Tòa án cấp thẩm xem xét giải quyết
quyết định: “Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S phải trả ngay
một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tính đến
ngày 13/9/2024 2.941.615.815đ trong đó ngốc 1.997.998.818đ, nợ lãi
trong hạn là 29.281.247đ, nợ i chậm trả 4.224.528đ, nợ lãi quá hạn
8
910.111.222đ.(…)”, do phần quyết định này không kháng cáo nên được giữ
nguyên.
[7] Xét kháng cáo về yêu cầu tuyên hợp đồng bảo lãnh
EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 vô hiệu.
[8] Hội đồng xét xử nhận định: Ông H được xác định người quyn
lợi, nghĩa vụ liên quan trong v án nên quyn yêu cầu độc lập đ gii quyết
cùng trong v án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 73, khoản 1 Điều 199
B lut T tng dân s. V thời điểm để ngưi có quyn lợi, nghĩa vụ liên quan
trong v án đưa ra yêu cầu độc lp được quy định ti khoản 2 Điều 201 B lut
T tng n s như sau: “Người quyn li, nghĩa vụ liên quan quyền đưa
ra yêu cầu đc lập trước thời điểm m phiên hp kim tra vic giao np, tiếp
cn, ng khai chng c hòa gii”. Nvy, tại giai đon t tng m phiên
hp kim tra vic giao np, tiếp cn, công khai chng c hòa gii ti cấp sơ
thm ông H không đưa ra yêu cu độc lp v tuyên hợp đồng bảo lãnh vô hiu,
ti cp phúc thm ông H có yêu cu độc lp v tuyên hợp đồng bảo lãnh vô hiệu
không đúng quy đnh ca lut, yêu cu này t quá phm vi xét x ca cp
phúc thẩm theo quy đnh tại Điều 293 B lut T tng dân s nên không được
cp phúc thm xem xét.
[9] Xét kháng cáo về quyết định của bản án thẩm buộc ông Trần
Nguyễn H phải nghĩa vụ trả nợ thay Công ty S theo Hợp đồng bảo lãnh số
EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022.
[10] Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện ông H đề nghị cấp phúc thẩm sửa
án thẩm không buộc ông H trách nhiệm trả nợ thay cho Công ty S với
do đây là khoản nợ độc lập của Công ty S vay Ngân hàng thì Công ty phải
trách nhiệm trả nợ chứ ông Trần Nguyễn H không có liên quan đến khoản
nợ này. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét lại giá trị pháp của Hợp
đồng bảo lãnh số EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 được ký kết giữa ông Trần
Lê Nguyễn H với Ngân hàng TMCP V.
[11] Hội đồng xét xử nhận định: Hợp đồng bảo lãnh số
EGV/22890/BLCN ngày 30/7/2022 được ký kết giữa ông Trần Nguyễn H
với Ngân hàng V trên sở tự nguyện của các bên. Hợp đồng hình thức thể
hiện bằng văn bản là phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự quy định tại
điểm b khoản 14 Điều 3 Thông 11/2022/TT-NHNN ngày 30/9/2022 của Ngân
hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng. Hợp đồng nội dung thỏa
thuận về phạm vi bảo nh, nghĩa vụ của bên bảo lãnh, quyền của bên nhận bảo
lãnh phù hợp theo quy định của Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự không
nội dung trái đạo đức hội, vi phạm điều cấm của Luật nên phát sinh hiệu lực
kể từ thời điểm giao kết.
[12] Phía người đại diện ông H cho rằng hợp đồng bảo lãnh không thể
hiện sự đồng ý xác nhận của Công ty S bên được bảo lãnh n hiệu
không phù hợp với chứng cứ vụ án, cụ thể trong Hợp đồng cho vay hạn mức
số EGV/22890 ngày 30/7/2022 giữa Ngân hàng Công ty S (do chính ông
9
H khi đó với cách đại diện pháp luật của Công ty S tên), đã thể hiện nội
dung về việc bảo lãnh này như sau: “Điều 5. Biện pháp bảo đảm tiền vay (…)
5.1 Để bảo đảm cho việc thực hiện các nghĩa vụ của khách hàng theo Hợp đồng
y Điều kiện giao dịch chung, các Bên thống nhất áp dụng các biện pháp
bảo đảm sau đây: a) Bảo lãnh của: (Ông/Bà) Trần Nguyễn H, (…) 5.2 Chi
tiết về các biện pháp tài sản bảo đảm (…) i. Hợp đồng bảo đảm (thế
chấp/cầm cố/bảo lãnh) số EGV/22890/BLCN ngày …”. vậy, do kháng
cáo này không được chấp nhận.
[13] Phía người đại diện ông H cho rằng khoản nợ của Công ty S vay
Ngân hàng thì Công ty phải trách nhiệm trả nợ chứ ông Trần Nguyễn H
không liên quan gì đến khoản n này không phù hợp với nghĩa vụ của
người bảo lãnh được quy định trong hợp đồng bảo lãnh ông H đã với
Ngân hàng V. Cụ thể tại khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng bảo lãnh số
EGV/22890/BLCN quy định: “Các bên thống nhất thỏa thuận rằng Bên bảo
lãnh nghĩa vụ thay Bên được bảo lãnh thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của Bên
được bảo lãnh đối với Bên Ngân hàng như quy định tại Điều 1 Hợp đồng này
một cách điều kiện không hủy ngang khi xảy ra một trong các trường hợp
sau đây: n được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ trả nợ theo các Văn kiện tín dụng nêu tại Điều 1 của Hợp đồng này…”
vậy, do kháng cáo này không được chấp nhận.
[14] Từ những nhận định trên, nhận thấy yêu cầu kháng cáo của ông H
không phù hợp với quy định của pháp luật, không đúng với thỏa thuận giữa các
bên đã phát sinh hiệu lực pháp nên không sở để chấp nhận. Tại phiên
tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đại diện Viện kiểm sát đề nghị
bác toàn bộ kháng cáo phù hợp với nhân định của Hội đồng xét xử. Quyết
định của bản án sơ thẩm là có căn cứ nên được giữ nguyên.
[15] Về án phí: Do giữ nguyên bản án thẩm nên người kháng cáo phải
chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, khoản 6 Điều 313 Bộ
luật Ttụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và
sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày
11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn
áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Lê Nguyễn H. Giữ
nguyên bản án sơ thẩm
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1 Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S phải trả ngay
một lần cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V tổng số tiền còn nợ tính đến
10
ngày 13/9/2024 2.941.615.815đ (Hai tỷ, chín trăm bốn mươi mốt triệu, sáu
trăm mười lăm ngàn, tám trăm mười lăm đồng) trong đó n gốc
1.997.998.818đ, nợ lãi trong hạn 29.281.247đ, nlãi chậm trả 4.224.528đ,
nợ lãi quá hạn là 910.111.222đ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử thẩm cho đến khi thi hành án
xong, Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S còn phải tiếp tục chịu
tiền lãi quá hạn, tiền lãi chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số EGV/22890 ngày 30/7/2022, khế ước
nhận nợ số 080922-6849489-ONL-23 ngày 09/9/2022, khế ước nhận nợ số
130922-6849489-ONL-24 ngày 13/9/2022, khế ước nhận nợ s 220922-
6849489-ONL-25 ngày 22/9/2022, khế ước nhận nợ số 220922-6849489-ONL-
26 ngày 22/9/2022, khế ước nhận nợ số 150223-6849489-ONL-27 ngày
15/02/2023, khế ước nhận nợ số 150223-6849489-ONL-28 ngày 15/02/2023.
1.2 Trường hợp Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S không
trả hoặc trả không đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V
thì ông Trần Lê Nguyễn H phải có nghĩa vụ trả nợ thay Công ty TNHH Sản xuất
Thương mại Dịch vụ S theo Hợp đồng bảo lãnh số EGV/22890/BLCN ngày
30/7/2022.
2. Về án phí thẩm: ng ty TNHH Sản xuất Thương mại Dịch vụ S
phải chịu số tiền 90.832.316đ (Chín mươi triệu, tám trăm ba mươi hai ngàn,
ba trăm mười sáu đồng). Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V
40.747.350đ (Bốn mươi triệu, bảy trăm bốn ơi bảy ngàn, ba trăm năm mươi
đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002201 ngày
28/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
3. Án phí phúc thẩm: Ông Trần Nguyễn H phải chịu án phí phúc thẩm
2.000.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp
theo biên lai thu số 0020622 ngày 01/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự
Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
- VKSND TP.HCM;
- TAND Quận 10;
- Cục THADS TP.HCM
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11
- Chi cục THADS Quận 10;
- Các đương sự;
- Lưu: VP, hồ sơ.
Ngô Thanh Nhàn
Tải về
Bản án số 08/2025/KDTM-PT Bản án số 08/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 08/2025/KDTM-PT Bản án số 08/2025/KDTM-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất