Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT ngày 25/12/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 05/2024/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT ngày 25/12/2024 của TAND tỉnh Bắc Ninh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 05/2024/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/12/2024
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
Bản án số: 05/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 25/12/2024
V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tính.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hữu Minh.
Bà Nguyễn Tuyết Mai.
- Thư phiên tòa: Trần Thanh Huyền - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25/12/2024, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 05/2024/TLPT-HNGĐ ngày 02/10/2024 về
“Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
Do bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 09/2024/HNGĐ-ST ngày
15/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Gia Bình bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 05/2024/QĐ-PT ngày
05/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1978; HKTT: Thôn BT,
ĐC, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Chị Thị T, sinh năm 1983; HKTT: Thôn BT, ĐC, huyện
GB, tỉnh Bắc Ninh; nơi ở hiện nay: Thôn ĐC, xã ĐC, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh
(vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị T: Chị Nguyễn Thị HV, sinh năm
2001; địa chỉ: Khu S, phường KN, thành phố Bắc Ninh (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho chị T: Nguyễn Thị PH,
Luật thuộc Công ty Luật TNHH Đăng; địa chỉ: Số 50 HNL, phường KB,
thành phố BN, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Đức C, sinh năm 1975 (có mặt).
2
2. Bà Trần Thị M, sinh năm 1945 (vắng mặt).
3. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1973 ( mặt).
4. Cháu Nguyễn Thị TH, sinh năm 2002 (vắng mặt).
5. Cháu Nguyễn ĐH, sinh năm 2004 (vắng mặt).
6. Cháu Nguyễn ĐH2, sinh năm 2004 (vắng mặt).
7. Anh Nguyễn ĐB, sinh năm 1975 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn Thôn BT, xã ĐC, huyện GB, tỉnh Bắc Ninh.
Người kháng cáo: Bị đơn chị Vũ Thị T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu trong hồ sơ thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn anh Nguyễn Đức Đ trình bày: Anh chị T đăng kết hôn
ngày 22/11/2001 tại trụ sở UBND ĐC trên sở tự nguyện tìm hiểu, không
bị ai ép buộc. Sau khi đăng ký kết hôn được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới
theo phong tục truyền thống của địa phương. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung
sống cùng nhau ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, đến khoảng
năm 2012 thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn bắt đầu trở nên trầm trọng
từ cuối năm 2013. Nguyên nhân mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng
quan điểm sống. Khoảng giữa m 2014, vợ chồng anh chị sống ly thân. Năm
2015, chị T đã làm đơn xin ly hôn anh, sau đó được Tòa án gia đình hai bên
khuyên giải chị T đã rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ cùng nhau. Sau khi rút
đơn ly hôn, vợ chồng anh chị về chung sống được vài ngày lại tiếp tục nảy sinh
mâu thuẫn, do đó chị T chuyển về thôn ĐC, ĐC sinh sống từ đó đến nay.
Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh và chị T có 03 con chung là cháu Nguyễn ThTH, sinh
ngày 15/8/2002; cháu Nguyễn ĐH, sinh ngày 04/5/2004 cháu Nguyễn ĐH2,
sinh ngày 04/5/2004. Các cháu đều đã trên 18 tuổi, hoàn toàn khỏe mạnh, phát
triển bình thường; các cháu quyền tự quyết định với ai nên anh không yêu
cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con, anh không yêu cầu Toà án giải
quyết.
Về tài sản: Đối với yêu cầu chia tài sản chung của chị T, anh trình bày:
Thửa đất số 130, tờ bản đồ số 03 diện tích 738m
2
tại thôn Bảo Tháp nguồn
gốc của Thúy, ông Mâu bán cho bố m anh Trần Thị M ông
Nguyễn Đức H2 nên bố mẹ anh người quản lý, sử dụng. Toàn bộ công trình,
tài sản trên đất hiện nay đều do bố mẹ anh tạo lập nên, anh và chị T không
đóng góp tiền của hay công sức cho để tạo lập nên khối tài sản này, cũng
không bất cứ công sức đóng góp trong việc tạo lập duy trì, tôn tạo làm
3
tăng giá trị đất. Bố mẹ anh cũng chưa bao giờ nói là cho vợ chồng thửa đất
công trình tài sản trên đất.
Thời điểm Nhà nước có chủ trương làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, bố mẹ anh nhờ anh đi làm thủ tục cấp giấy, anh thành viên
trong hộ gia đình ông H2, M đi làm thủ tục nên cán bộ nhà nước đã ghi tên
anh trong trong danh sách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên,
khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh chưa lấy chị T
chị T cũng chưa nhập khẩu vào hộ gia đình anh. Anh thuộc thành viên trong hộ
gia đình ông Nguyễn Đức H2 gồm: Nguyễn Đức H2, Trần Thị M, Nguyễn Đức
C và Nguyễn Đức Đ.
Đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m
2
tại thôn Bảo Tháp,
Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ công trình, tài sản
trên đất thì thửa đất này nguồn gốc là của ông Trịnh H3 Nguyễn
Thị L. Khoảng năm 2007, Nhà nước chủ trương thu hồi đất ruộng để thực
hiện dự án cấp đất giãn dân cho các hộ dân tại địa p thôn Bảo Tháp, Đông
Cứu, những gia đình nào có đất ruộng bị thu hồi thì sẽ được ưu tiên mua 01 xuất
đất theo quy định. Ông H3, L được quyền mua một đất thuộc dự án nêu
trên. Tuy nhiên, do ông H3, L không có nhu cầu sử dụng đất nên đã bán cho
bố mẹ anh, thời điểm bán cũng vào năm 2007, bán từ lúc đất vẫn còn trong dự
án, chưa phân nền, chia lô. Việc mua bán đã được thực hiện xong từ năm 2007,
bố mẹ anh đã trả tiền mua đất đầy đủ cho ông H3, L, đồng thời hai bên
thoả thuận: Sau này ông H3, bà L nghĩa vụ nộp tiền mua đất cho Nhà nước
theo từng đợt thu. Khi Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với thửa đất 158 cho ông H3, bà L thì sau đó ông H3, L làm thủ tục chuyển
sổ đỏ sang tên bố manh.
Anh chị T không tham gia bất cứ việc vào việc mua bán đất này,
cũng không đóng góp, không phải trả tiền vào việc mua đất của ông H3, bà L.
Chị T cũng không bao giờ đứng ra giao dịch, hay thoả thuận mua đất với ông
H3, L. Chị T trình bày, anh có gọi điện cho chị T, lúc đó đi làm ở Tân Thanh
để nói chuyện về việc mua đất của ông H3, L không đúng. Anh chưa bao
giờ trao đổi, hay nói chuyện gì với chị T về việc mua đất.
Năm 2012, manh nhờ anh đi làm thủ tục chuyển nhượng từ tên ông H3,
L sang cho manh tránh trường hợp để lâu sẽ xảy ra tranh chấp làm thủ
tục để xây dựng nhà. Anh đi làm thủ tục chuyển nhượng giúp mẹ anh. Do mẹ
anh già cả, đi lại khó khăn, lại không biết chnên anh đã lấy luôn tên mình
người nhận chuyển nhượng để thuận tiện. Do đó, trong hợp đồng chuyển
nhượng, cũng như trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau này cũng chỉ
đứng một mình tên anh chứ chị T không bất cứ quyền lợi gì. Hơn nữa, việc
4
đi làm thủ tục chuyển nhượng cấp lại giấy cũng chỉ là hình thức, vì thực chất bố
mẹ anh đã mua đất của ông H3, bà L xong từ năm 2007.
Về ngôi nhà nhà ba tầng trên thửa đất 158. Anh khẳng định nhà này do
mẹ anh xây dựng lên. Anh chị T không đóng góp công sức cho việc xây
dựng ngôi nhà. Mẹ anh chưa tuyên bố cho vchồng anh thửa đất 158 nhà
trên đất.
Đối với 01 chiếc xe ô tô, biển kiểm soát 30A-283.70 mua năm 2014. Anh
đã vay anh em, bạn bè và chủ yếu được sự hỗ trợ của anh C để mua xe làm dịch
vụ chạy xe taxi. Tuy nhiên, sau khi mua xe được một thời gian, việc chạy xe
taxi không hiệu quả, làm ăn không L, anh đã bán chiếc xe này với giá 72
triệu, stiền bán xe anh đã trả nợ cho số tiền vay mua xe trước đó. Hơn nữa
trong hợp đồng mua xe cũng chỉ ghi một mình tên anh, anh người mua xe,
thời điểm đó vợ chồng đã nảy sinh mâu thuẫn, vợ chồng đã độc lập về kinh tế,
anh tự vay tiền, tự mua xe, tự bán xe trả nợ. Chiếc xe cũng không còn n
không có gì để chia.
Về thu nhập của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, anh Đ trình bày: m
2004, anh không có công ăn việc làm ở nhà nên đã vay tiền của anh chị em bạn
bè đi xuất khẩu lao động, đi theo visa du lịch nên chỉ được khoảng hơn một năm
thì bị bắt về Việt Nam, thời gian Đài Loan anh không công việc cụ thể,
không thu nhập. Do đó khi về Việt Nam anh không tài sản tích lũy, trong
khi đó số nợ vay để đi Đài Loan anh chưa trả hết. Tđó đến nay anh cũng
không công việc ổn định để thu nhập để tiền mua nhà mua đất như lời
trình bày của chị T. Chị T từ khi lấy anh đến khi vợ chồng ly thân độc lập kinh
tế cũng không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản tích lũy để mua đất xây
nhà.
Bị đơn chThị T trình bày: Chị anh Đ đăng kết hôn với nhau
ngày 22/11/2001 tại trụ sở UBND Đông Cứu, sau khi đăng kết hôn
được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống của địa pH2,
kết hôn trên cơ sở tự nguyên. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau
ngay. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc thì đến khoảng năm 2007-
2008 bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm
sống. Anh Đ hay hành vi đánh vợ con. Năm 2015 chị chuyển về nhà bố
mẹ đẻ, sống ly thân được khoảng 06 tháng, sau khi đưc gia đình nhà chồng
khuyên giải thì chị có về nhà sống cùng anh Đ, được khoảng một thời gian ngắn
thì vợ chồng lại tiếp tục nảy sinh mâu thuẫn. Cuối tháng 2 năm 2016 âm lịch
anh Đ đánh chị khiến chị phải vào bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh cấp cứu.
Sau sự việc đó anh Đ khóa cửa đuổi chị ra khỏi nhà. Từ tháng 3 năm 2016
âm lịch chị chuyển về nhà mđẻ sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến
nay. Chị cũng đã từng làm đơn xin ly hôn anh Đ một lần. Nay chị xét thấy tình
5
cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh Đ đơn xin
ly hôn với chị, chị đồng ý ly hôn.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh Đ ba con chung. Đến
nay các con chung đã đủ 18 tuổi, H3 toàn khỏe mạnh, phát triển bình thường,
các cháu quyền tự quyết định với ai nên chị không yêu cầu Tòa án giải
quyết. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị anh Đ các tài sản
chung gồm:
- Thửa đất số 130, tờ bản đồ số 03 diện tích 738m
2
tại thôn Bảo Tháp,
Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cùng toàn bộ tài sản trên đất.
- 01 chiếc xe ô tô, biển kiểm soát 30A-283.70 mua năm 2014. Hiện chiếc
xe này anh Đ đã bán, toàn bộ số tiền bán xe anh Đ quản sdụng. Giá trị
còn lại của chiếc xe ở thời điểm hiện tại là 100 triệu đồng.
- Thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m
2
tại thôn Bảo Tháp,
Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Công trình tài sản trên thửa đất này
gồm: 01 ngôi nhà trần 03 tầng và 01 tầng hầm phía dưới xây dựng năm 2013.
- 01 chiếc xe mô mua khoảng năm 2007, hiệu nay chị đang đi chiếc xe
này, giá trị còn lại của chiếc xe khoảng 03 triệu đồng.
Đối với thửa đất 130 chị đề nghị chia ½ thửa đất cho chị. Đối với thửa đất
158 công trình, tài sản trên đất chị đề nghị trích trả ½ giá trị bằng tiền. Xe ô
tô trích trả ½ giá trị bằng tiền. Xe mô tô chị đang sử dụng nên chị sẽ trích trả lại
anh Đ ½ giá trị chiếc xe mô tô này.
Về nợ chung: Chị và anh Đ không nợ ai, không ai nợ vợ chồng anh chị.
Về nguồn gốc, quá trình hình thành, công sức tạo lập, duy trì, tôn tạo nên
thửa đất s130, chị T trình bày: Chị xác nhận thửa đất số 130 nguồn gốc
của bố mẹ chồng mua trước khi chị lấy anh Đ. Khi mua đất trên đất đã ngôi
nhà 04 gian nhà ngang, sau khi chị anh Đ lấy nhau sống cùng bố m
chồng trên thửa đất thì bố mẹ chồng chị có xây thêm nhà tắm, 01 chuồng lợn và
01 nhà vệ sinh, cổng. Cuối năm 2002, bố mẹ chồng tuyên bố bằng miệng là cho
vợ chồng chị thửa đất và công trình tài sản trên đất này, sau đó anh Đ đã đi đến
UBND Đông Cứu đlàm thủ tục được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất. Thửa đất số 130 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên
hộ ông Nguyễn Đức Đ, nên chị khẳng định đất cùng toàn bộ công trình, tài sản
trên đất là tài sản chung của vợ chồng chị và đề nghị Tòa án chia đôi thửa đất và
công trình, tài sản trên đất cho chị. Thời gian trên thửa đất số 130 thì vợ
chồng chị không xây dựng thêm công trình, tài sản gì, cũng không đđất, san
nền hay tôn tạo gì nên thửa đất, việc xây dựng công trình tài sản, sửa chữa là do
bố mẹ chồng quyết định.
6
Về nguồn gốc, qtrình hình thành, công sức tạo lập nên thửa đất số 158
cùng toàn bộ công trình, tài sản trên đất, chị T trình bày: Thửa đất này là do anh
Đ mua lại của ông Trịnh H3, Nguyễn Thị L. Thời điểm anh Đ mua đất
chị đang đi làm ăn Tân Thanh, anh Đ gọi điện nói là: “mua thêm một
miếng đất nữa sau để cho con”, chị hỏi và biết đất giá 125 triệu/1 suất,
sau đó anh Đ ở nhà đi mua và làm thủ tục mua bán, chị không tham gia vào việc
mua bán, cũng như trả triền mua đất. Sau này anh Đ cũng người đi làm các
thủ tục liên quan đến việc chuyển nhượng thửa đất cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, chị cũng không biết, và không tham gia.
Về ngôi nhà nhà ba tầng trên thửa đất 158 do anh Nguyễn Đức Đ đứng
lên xây dựng mọi việc liên quan đến xây dựng, thiết kế ngôi nhà mua sắm
nguyên vật liệu, thuê thợ, nhân công… do anh Đ quán xuyến, lo liệu. Chị ra
phụ giúp, trông nom công trình xây dựng cùng chồng. Chị khẳng định nguồn
tiền để xây dựng lên ngôi nhà này cũng tiền của hai vợ chồng tạo lập được
trong thời kỳ hôn nhân.
Chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30A-283.70 là do anh Nguyễn Đức Đ mua lại
của một người khác vào cuối năm 2014. Thời điểm mua xe chị không tham gia
mua bán, thỏa thuận và lấy xe, chỉ một mình anh Đ tham gia mua bán xe. Chị
được nghe anh Đ nói lại mua xe hết 300 triệu, tuy nhiên trên giấy tờ mua xe
chỉ ghi giá mua bán 100 triệu để giảm chi phí thuế. Sau này chiếc xe đã được
anh Đ làm thủ tục đổi biển số xe thành 99A-070.02 xe mang tên anh Nguyễn
Đức Đ. Năm 2021 anh Đ đã bán chiếc xe này, với giá bao nhiêu chị không biết,
toàn bộ số tiền bán xe này anh Đ quản lý và sử dụng. Chị tự xác định giá trị còn
lại của chiếc xe ô này 100 triệu. Xe ô này anh Đ sử dụng tiền của vợ
chồng được trong thời kỳ hôn nhân mua, nên chị xác định đây tài sản
chung của vợ chồng, đề nghị chia đôi giá trị còn lại của chiếc xe này theo quy
định của pháp luật.
Về nguồn tiền để tạo lập nên các tài sản trên chT trình bày: Khi mới lấy
nhau hai vợ chồng tiền mừng cưới để tích lũy, tiền mừng cưới của hai vợ
chồng khoảng gần 10 triệu. Sau đó, hai vợ chồng chăn nuôi lợn, gà, trồng
lúa, làm may, nấu cơm thcho mẹ chồng, thu nhập chi tiết cụ thể không nhớ,
áng chừng thu nhập bình quân là khoảng 45 đến 50 triệu/năm (nguồn thu nhập
này đã trừ đi chi phí sinh hoạt hàng ngày của gia đình, thu nhập này tiền
tiết kiệm, bỏ ra để dành hàng năm). Toàn bộ tiền mừng cưới và tiền thu nhập do
chị anh Đ làm ăn tăng gia nhà nêu trên thì đều do anh Đ là người cất giữ
tiền. Tháng 6/2004, anh Đ đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cuối m 2006
anh Đ về nước. Thời gian đi xuất khẩu lao động Đài Loan, số tiền làm được
bao nhiêu anh Đ gửi về cho bố mẹ chồng, chứ không gửi về cho chị, anh Đ gửi
về bao nhiêu chị không biết. Cuối năm 2007 đến hết năm 2010 chị đi Tân
7
Thanh, Lạng Sơn làm việc, anh Đ nhà nuôi con. Thời gian làm việc Tân
Thanh, Lạng Sơn, thu nhập bình quân khoảng t09 đến 10 triệu/tháng, khi
nào về nhà thì lại đưa tiền đi làm của chị cho anh Đ cầm (nguồn thu nhập này
cũng tiền chị để dành được mang về cho anh Đ giữ sau khi đã trừ đi chi phí
sinh hoạt của bản thân). Năm 2011, chị buôn hàng quần áo từ Tân Thanh về Gia
nh. Thời gian đi buôn hàng quần áo từ Tân Thanh về Gia Bình, thu nhập bình
quân của dao động từ 13 đến 14 triệu đồng/tháng (nguồn thu nhập này cũng
tiền chị để dành được mang về cho anh Đ giữ sau khi đã trừ đi chi phí sinh hoạt
của bản thân). m 2012, chị bán hàng thuê tại cây xăng Thiên Thai, Gia Bình,
Bắc Ninh. Giữa m 2013, khi nghỉ làm ở cây xăng Thiên Thai thì chị thuê mặt
bằng của ông Dân, Bình chợ Nội bán hàng đến khi vợ chồng sống ly thân.
Thời gian bán hàng tại cây xăng Thiên Thai thu nhập bình quân khoảng 04 triệu
đồng/tháng. Tuy nhiên, trong thời gian bán xăng chị vẫn lấy hàng ở Xuân Lai về
làm may, cấy ruộng nấu cơm thuê cho mẹ chồng nên nguồn thu nhập từ làm
may, bán xăng, nấu cơm cho mchồng khoảng 04 triệu đồng/tháng nữa. Tổng
thu nhập khoảng 08 triệu đồng/tháng sau khi đã trừ đi chi phí sinh hoạt gia
đình. Từ thời điểm ly thân tháng 3/2016 (âm lịch), vợ chồng độc lập về kinh tế.
Toàn bộ kinh tế gia đình do vợ chồng tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân
đều do anh Đ quản lý, quán xuyến nắm giữ, do đó việc mua đất, xây nhà,
mua ô do anh Đ đứng ra mua. Nhưng tiền mua sắm, xây nhà của cả hai
vợ chồng. Chị xác định không giấy tờ, tài liệu chứng minh cho những lời
trình bày nêu trên của mình. Toàn bộ 03 khối tài sản chung nêu trên là do chị và
anh Đ tạo lập, các con còn nhỏ nên không công sức đóng góp trong việc
tạo lập, duy trì, tôn tạo cũng như làm tăng giá trị của các khối tài sản này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:
Anh Nguyễn Đức C, chNguyễn Thị N trình bày: Thửa đất số 130 tờ bản
đồ số 03 tại thôn Bảo Tháp được ông H2, M mua lại của vợ chồng ông
Thúy Mâu vào năm 1994, trên đất đã có một ngôi nhà ngói ba gian và bếp. Sau
này khi sinh sống trên thửa đất, ông H2, M đã xây thêm chuồng lợn để chăn
nuôi, nhà tắm, sân thềm... Đất công trình, tài sản trên đất của ông H2,
M, vợ chồng anh Đ, chị T không bất cứ đóng góp công sức vào việc tạo
lập, duy trì, tôn tạo và làm tăng giá trị thửa đất nên không có quyền đòi chia đất.
Thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35 được ông H2, bà M mua lại của ông H3
L từ năm 2007, mua từ lúc đất vẫn còn nằm trong dự án, mua đất với giá 130
triệu. Sau này khi nhà nước cấp sổ hồng, do M muốn xây thêm ngôi nhà cho
con cháu mới nhờ anh Đ đi H3 thiện thủ tục chuyển nhượng để xây n. Do
vậy sổ hồng chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ mang tên một mình anh Đ. Chị
T không bất cứ quyền đối với thửa đất này. Việc xây dựng ngôi nhà ba
tầng trên thửa đất H3 toàn do M đứng lên trả tiền lo liệu việc xây nhà, vợ
8
chồng anh C giúp đỡ M trong việc trông nom, quản lý thợ, quản
nguyên vật liệu giấy tsổ sách theo dõi việc xây dựng. Chị Chung người
chở M đi thanh toán tiền công thợ khi cần thiết. Anh Đ thỉnh thoảng ra
trông nom thợ thuyền, nhận nguyên vật liệu, đun nước cho thợ giúp bà M. Chị
T không tham gia về việc xây dựng ngôi nhà này, vợ chồng T Đ cũng không
có bất cứ đóng góp công sức tiền bạc gì cho M để xây ngôi nhà.
Thửa đất số 130 158 cùng toàn bộ công trình tài sản trên đất H3 toàn
của bố mcác anh chị. Đề nghị Tòa án xác minh làm nguồn gốc hình thành
nên các công trình tài sản này để làm căn cứ giải quyết. Anh Đ, chị T đều
người không có việc làm ổn định, không có thu nhập dư thừa để có thể tạo ra tài
sản.
Trần Thị M trình bày: Thửa đất số 130 nguồn gốc của vợ chồng
(ông Nguyễn Đức H2) mua lại của vợ chồng Thị T ông Nguyễn
ĐM vào khoảng cuối năm 1994. Sau khi anh Đ lấy chị T về thì vợ chồng Đ có ở
cùng với vợ chồng trên thửa đất này một thời gian. Qtrình sinh sống vợ
chồng làm thêm 01 dãy chuồng lợn để chăn nuôi lợn, tăng gia sản xuất,
ngoài ra có xây thêm một nhà tắm ở gần cổng đi vào, sân cổng, tường bao…, vợ
chồng Đ mới lấy nhau về chỉ ng không đóng góp tiền của hay công sức
cho vợ chồng bà. Từ trước đến nay thửa đất 130 vẫn do vợ chồng quản sử
dụng, tạo lập tôn tạo. Các cây cối, hoa màu, lâm lộc trên rất đều do trồng
tạo lập nên. Vợ chồng T, Đ không có đóng góp công sức gì vào thửa đất.
và ông H2 cũng chưa một lần nào tuyên bố cho vợ chồng T, Đ thửa đất này.
Đối với thửa đất số 158, thì vào khoảng m 2007 khi nhà nước thực hiện
dự án giãn dân, tái định cư, thu hồi đất trồng lúa của một số hộ dân trong thôn.
Theo đó nhà nào ruộng đất thu hồi sẽ được mua một suất đất giãn dân. Gia
đình thời điểm đó không đất ruộng khu vực bị thu hồi nên không được
mua đất. Gia đình ông H3, L thuộc diện được mua một suất đất, nhưng do
không có nhu cầu sử dụng, nên đã bán xuất đất này cho vợ chồng bà, hai bên đã
lập biên bản giao kèo mua bán đất với nhau. Tại thời điểm bán đất ông H3, L
chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chỉ thuộc diện được mua
một suất đất tại khu vực Đồng Voi. Khi ông H3, L bán đất cho vợ chồng
thì số tiền nộp vào nhà nước theo các đợt, ông H3, L phải làm H3 thiện
cho vợ chồng . Sau khi ông H3, L được nhà nước cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất ông H3, L đã đưa lại cho vợ chồng bản gốc giấy này để
giữ. Năm 2010 chồng mất, đến năm 2012 do ý định làm nhà nên đã
đưa bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 158 cho anh Đ để
làm thủ tục sang tên từ ông H3, L cho . chỉ nhờ anh Đ đi làm thủ tục
chuyển nhượng giúp bà để xây nhà chứ không bao giờ tuyên bố cho vợ
chồng Đ, T thửa đất này cả. Do vậy khi làm thủ tục chuyển nhượng đất hợp
9
đồng chuyển nhượng sổ đỏ chỉ mang một mình tên anh Đ chkhông tên
chị T trong các văn bản giấy tờ này. Khi mua đất của ông H3, bà L, chị T, anh
Đ không có bất cứ đồng nào đưa cho vợ chồng bà để mua thửa đất này.
Đối với ngôi nhà ba tầng được xây dựng trên thửa đất số 158H3 toàn do
đứng lên xây dựng, xây nhà này để cho con, cháu chứ không tuyên bố
cho bất cứ ai. Qtrình xây dựng nhà thì tiền do bỏ ra, vợ chồng anh Đ,
chị T không cho một đồng nào để xây dựng nhà này. Khi xây ngôi nhà có vợ
chồng anh C giúp trong việc quản lý, trông nom, thợ thuyền ghi chép theo
dõi trong giấy tờ sổ sách về việc mua bán nhập nguyên vật liệu. Các lần thanh
toán tiền công thợ, nguyên vật liệu đều do đứng ra thanh toán, trả tiền, chị
Chung vợ anh C chở đi thanh toán tiền, chốt số liệu công thợ các nội
dung liên quan. Toàn bộ giấy tờ sổ sách liên quan đến việc xây dựng ngôi nhà
ba tầng này, chC đã gilại ghi chép giúp bà. Anh Đ cũng ra giúp một i
buổi trong việc trông nom thợ thuyền hoặc đun nước phục vụ thợ hoặc giúp
nhận nguyên liệu vật liệu xây nhà, còn chị T đi làm không giúp đỡ bất cứ
vấn đề gì.
Hiện nay cả hai thửa đất số 130 158 thì đều do quản lý, anh Đ chị T
đã sống ly thân từ lâu. để cho anh Đ về ở nhờ chứ anh Đ không có quyền
gì mà quyết định đối với khối tài sản này.
Nguyện vọng của sau này về già sẽ cho hai con của anh Đ một trong
hai thửa đất ngày chứ không cho hai vợ chồng T và Đ.
Trường hợp chị T yêu cầu chia tài sản C nhà và đất, do nhà đất tài
sản của vợ chồng bà, anh Đ, chị T không bất cứ đóng góp về tiền của tài
sản, cũng không có đóng góp công sức gì trong việc duy trì, tôn tạo và làm tăng
giá trị thửa đất. Tuy nhiên, vợ chồng Đ, T cùng với vợ chồng một thời
gian, C sống cùng nhau cùng giúp vợ chồng tạo lập cuộc sống, xây dựng
kinh tế gia đình, nên khi chị T yêu cầu chia tài sản C tự nguyện trích trả
một phần công sức đóng góp của vợ chồng Đ, T vào khối tài sản C này của vợ
chồng bà, mức đóng góp cụ thể như thế nào đề nghị Tòa án giải quyết theo luật.
trích trả cả hai vợ chồng, nếu phần của anh Đ, Đ không nhận, sẽ trích trả
phần còn lại cho chị T.
Cháu Nguyễn Đức Huy và cháu Nguyễn Đức H3 trình bày: Đối với các tài
sản bố mẹ các cháu hiện nay đang tranh chấp chia tài sản thì các cháu
không có công sức đóng góp gì vào việc tạo lập, tôn tạo, duy trì và làm gia tăng
giá trị tài sản. Nếu bố mẹ có tranh chấp khi ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết
theo luật.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành lấy lời khai của một số
người làm chứng, cụ thể như sau:
10
Ông Nguyễn H3 trình bày: Vợ ông L đã uỷ quyền cho ông trình
bày: Thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35 tại thôn Bảo Tháp, Đông Cứu
nguồn gốc của vợ chồng ông bán cho vợ chồng ông H2, bà M vào năm 2007,
(bán từ khi đất vẫn nằm tròn dự án, chưa phân nền, chia lô). Giá mua bán là 130
triệu, M đã trả tiền mua đất cho gia đình ông làm 03 đợt, ông không nhớ
từng lần cụ thể, nhưng mỗi lần trả tiền đều giấy tờ ghi nhận, giấy tờ này
M giữ, vợ chồng ông không giữ. Theo thoả thuận của hai bên, sau khi trả tiền
mua bán đất xong, vợ chồng ông có trách nhiệm nộp tiền mua đất cho Nhà nước
theo từng đợt của dự án, đến khi nào Nhà nước cấp sổ hồng cho vợ chồng ông
thì vợ chồng ông phải trả sổ hồng cho nhà bà M và đi làm thủ tục chuyển đổi sổ
sang tên bà M. Khi làm thủ tục chuyển đổi sổ sang tên bà M thì anh Đ con bà M
gọi vợ chồng ông đến quan thẩm quyền để kết các giấy tờ, thủ tục
chuyển nhượng đất. Vợ chồng ông chỉ biết đi theo kết các giấy tờ liên
quan, chỉ biết kết chuyển nhượng làm sổ hồng đứng tên bà M, còn nội
dung cụ thể như thế nào vợ chồng ông không biết. Vợ chồng ông không bao giờ
giao dịch, mua bán thửa đất này với anh Đ, chị T, cũng không nhận bất cứ đồng
tiền mua đất nào từ vợ chồng Đ, T. Việc mua bán đất giữa vợ chồng ông với vợ
chồng M đã xong từ năm 2007, sau này vợ chồng ông chỉ trách nhiệm đi
làm thủ tục chuyển nhượng sang tên bà M theo như thỏa thuận ban đầu.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ biên bản định giá tài sản thể
hiện:
- Trên thửa đất số 130 có 01 ngôi nhà ngói 04 gian; 01 nhà ngang làm bếp;
01 nhà tắm m m 2006; 01 khu chăn nuôi hiện đã bị tháo dỡ; tường, chân
tường bao xung quanh thửa đất; 01 sân ba ta, 01 nhà tắm, 01 giếng khơi (toàn
bộ công trình, tài sản này đều được các đương sự chị T thống nhất xác định
do ông H2, M tạo lập, quản lý, xây dựng và sử dụng. Đối với vườn rau,
cây ăn quả là do bà M trồng, chăm sóc, quản lý và thu hoạch.
- Đối với thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m
2
, trên đất 01
ngôi nhà cấp 3, loại 3 gồm 04 tầng (01 tầng hầm 03 tầng thiết kế theo sàn
lệch, xây dựng năm 2012, H3 thiện năm 2013) căn nhà nêu trên đã H3 thiện,
chưa sơn, có 04/06 nhà vệ sinh chưa lắp thiết bị vệ sinh.
Giá trị thửa đất 130, 158 cùng toàn bộ công trình, tài sản trên hai thửa
đất là 5.392.990.400đ. Giá trị chiếc xe ô tô là 72.000.000đ.
Từ nội dung trên, bản án thẩm đã căn cứ Điều 28, khoản 1 Điều 35,
khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật T
tụng dân sự; các Điều 8, 9, 33, 51, 55, 56, 59, 61 Luật hôn nhân gia đình;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội, xử:
11
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thỏa thuận thuận tình ly hôn giữa
anh Nguyễn Đức Đ và chị Vũ ThT.
2. Về con C, cấp dưỡng nuôi con: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản C:
3.1. Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản C của chị Vũ Thị T:
- Xác định chiếc xe ô nhãn hiệu toyota màu ghi bạc, biển kiểm soát
30A- 283.70 chiếc xe mô nhãn hiệu Wave Honda biển kiểm soát 99A-
1507 là tài sản C của anh Nguyễn Đức Đ và chị Vũ Thị T.
- Chị T được quyền shữu chiếc xe nhãn hiệu Wave Honda biển
kiểm soát 99A-1507 và có nghĩa vụ trích trả anh Đ số tiền là 1.500.000đ.
- Anh Đ nghĩa vụ trích trả chị T giá trị chiếc xe ô nhãn hiệu toyota
màu ghi bạc, biển kiểm soát 30A- 283.70 số tiền là 36.000.000đ.
3.2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Thị T về chia tài sản C trong
thời k hôn nhân với anh Nguyễn Đức Đ thửa đất số 130 tờ bản đồ 03 diện
tích 738m
2
tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35
diện tích 90m
2
tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu cùng toàn bộ công trình, tài sản
trên hai thửa đất số 130 và 158 nêu trên.
3.3. Ghi nhận sự tự nguyện của Trần Thị M về việc trích chia công sức
đóng góp của chị T vào khối tài sản C là thửa đất số 130, 158 cùng toàn bộ công
trình, tài sản trên hai thửa đất. Buộc Trần Thị M nghĩa vtrích trả công
sức đóng góp của chị T số tiền là 450.000.000đ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 21/5/2024, chị Thị T kháng cáo một phần bản án thẩm. Chị T
đề nghị cấp phúc thẩm xem xét, xác định thửa đất s130, tờ bản đồ số 03, diện
tích 738m
2
; thửa đất số 158, tbản đồ số 35, diện tích 90m
2
01 chiếc ô tô,
BKS 30A-283.70 tài sản C của chị T anh Đ. Đồng thời, chị đề nghị xem
xét về số tiền 450.000.000 đồng trích chia công sức của bà M đối với chị.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn là anh Nguyễn Đức Đ ginguyên
yêu cầu khởi kiện. Chị Nguyễn Thị Hồng Vân người đại diện theo ủy quyền
của bị đơn chị Thị T rút yêu cầu kháng cáo đối với chiếc xe ô BKS
30A-283.70 số tiền 450.000.000 đồng M tự nguyện trích chia công sức;
đối với các yêu cầu kháng cáo còn lại xác định thửa đất số 130, tờ bản đồ số
03, diện tích 738m
2
; thửa đất số 158, tờ bản đồ số 35, diện tích 90m
2
là tài sản C
của chị T và anh Đ thì chị giữ nguyên.
Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
12
Trong phần tranh luận, Luật Nguyễn Thị PH bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp cho bị đơn đnghị Hội đồng xét xử xem xét quyền lợi của chị T đối
với thửa đất số 130 thời điểm ngày 02/01/2002 quan thẩm quyền cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì chị T đã kết hôn với anh Đ sinh sống
trên thửa đất theo khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai. Về tài sản C quyền sử dụng
thửa đất số 158 tài sản trên đất t thửa đất này do vợ chồng anh Đ chị T
mua trong thời kỳ hôn nhân n cứ o Hợp đồng chuyển nhượng ngày
31/01/2012 giữa vợ chồng ông H3 bà L với anh Nguyễn Đức Đ. Tuy thửa
đất chỉ đứng tên một mình anh Đ nhưng chT không văn bản khước từ tài
sản. Đối với tài sản được xây dựng trên thửa đất số 158 của vợ chồng anh Đ,
chị T vì tại thời điểm xây dựng bà M đã hết tuổi lao động, các hóa đơn chứng từ
đều xác định sự đóng góp của vợ chồng anh Đ; quá trình xây dựng chị T
tham gia phụ giúp. Bản án thẩm nhận định ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của
M là không bảo đảm quyền lợi của vợ chồng anh Đ, chT.
Chị Nguyễn Thị HV là người đại diện theo ủy quyền của chị T đề nghị Hội
đồng xét xử phân chia quyền sử dụng đất là thửa đất số 130; phân chia quyền sử
dụng đất tài sản trên thửa đất 158 cho chT anh Đ nhưng chia cho chị T
được hưởng phần nhiều hơn hiện nay 04 mcon chị T không chỗ ở. Mặc
, trong đơn kháng cáo chị T nguyện vọng được chia đất chính đáng; tuy
nhiên, do mâu thuẫn với gia đình nhà chồng đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng
xét xử phân chia cho chị T phần giá trị quyền sdụng đất bằng tiền để chị tạo
dựng chỗ ở khác. Do H3 cảnh gia đình chị T rất khó khăn nên đề nghị Hội đồng
xét xử miễn án phí cho chị T.
Nguyên đơn anh Nguyễn Đức Đ tham gia tranh luận: Không nhất trí
việc trích chia đất cho chị T, còn các con thì có quyền về sinh sống trên thửa đất
của gia đình. Việc chị T xuất trình các giấy vay nợ, anh không chấp nhận đề
nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mặt tại phiên tòa gồm
anh Nguyễn Đức C và chị Nguyễn Thị N trình bày: Cả 02 thửa đất đều là tài sản
của bố mẹ anh chị, không phải tài sản của vợ chồng anh Đ, chị T nên anh không
nhất trí yêu cầu kháng cáo của chị T, đề nghị Hội đồng xét xxem xét, giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát
biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa; việc chấp hành pháp luật của
người tham gia tố tụng kể từ khi thụ phúc thẩm cho đến phần tranh luận tại
phiên tòa là đảm bảo theo đúng trình tự, quy định của pháp luật. Về nội dung vụ
án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148 Bộ
luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
13
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác nhận ngôi
nhà xây dựng trên thửa đất 158 là tài sản C của vợ chồng anh Đ, chị T M.
Về án phí: Chị Thị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn chị Thị T nộp
trong hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc
thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của chị Thị T vviệc phân chia tài sản C
vợ chồng, Hội đồng xét xử thấy:
2.1. Đối với yêu cầu chia tài sản C thửa đất số 130 cùng toàn bộ công
trình, tài sản trên đất:
Thứ nhất, chị T, anh Đ những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất một số công trình, tài sản trên đất của
ông H2, bà M mua lại của vợ chồng ông Mâu, bà T vào năm 1994; các công
trình tài sản được xây dựng, tạo lập thêm sau thời điểm mua đất (năm 1994),
sau thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất (năm 2002) đều do vợ
chồng M tạo lập; vợ chồng anh Đ, chị T không đóng góp về mặt tài
chính. Đây những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại
Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Thứ hai, phía bị đơn là chị T trình bày, năm 2002, ông H2 M đã cho
vợ chồng anh chị thửa đất và toàn bộ công trình trên đất trên nhưng chỉ nói bằng
miệng nên sau khi được cho đất, anh Đ đã đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên hộ anh Đ. Tuy nhiên, chị T không đưa ra được tài
liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc ông H2 và bà M đã cho vợ chồng anh chị
nhà đất trên. Đồng thời, qua xác minh thể hiện, thửa đất trên đã được khai,
lập hồ sơ, làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất vào đầu năm
2001, trước thời điểm chị T kết hôn với anh Đ, không phải sau thời điểm kết
hôn như chị T trình bày.
Hiện nay, ông H2 đã chết, nhưng M còn sống khẳng định không việc
vợ chồng cho vợ chồng chị T, anh Đ nhà đất nói trên. Những người làm
chứng là các con M đều xác nhận chưa bao giờ vợ chồng bà M tuyên bố cho
vợ chồng chị T, anh Đ nhà đất này. Do đó lời trình bày của chị T về việc được
vợ chồng bà M tuyên bố cho đất là không có cơ sở chấp nhận.
14
Thứ ba, qua thu thập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 130 tại UBND Đông Cứu thể hiện thông tin: Thửa đất số 130, tờ
bản đồ s03, năm 2000 đã được đo đạc, lập hồ kỹ thuật thửa đất và quy chủ
mang tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Đức H2. Theo bảng diện tích loại đất,
chủ sử dụng theo hiện trạng lập năm 2001, thửa đất số 130 thể hiện chủ sử dụng
đất ông Nguyễn Đức H2. Tại thời điểm anh Đ làm đơn đăng để được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 130, anh Đ chưa kết hôn
với chị T (Đơn đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất viết ngày
30/3/2001 ghi chủ sử dụng đất Nguyễn Đức Đ (H2). Cũng tại thời điểm m
2001-2006, qua xác minh tại Công an Đông Cứu thể hiện: Anh Đ thuộc
thành viên trong hộ ông H2, chị T chưa tên trong hộ gia đình ông Nguyễn
Đức H2. Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ ông
Nguyễn Đức Đ đi nữa thì tại thời điểm khai, làm thtục, xét duyệt hồ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chị T chưa phải thành viên trong hộ
gia đình ông H2, bà M hay anh Đ.
Như vậy, bản án thẩm nhận định không thể áp dụng án lệ số 03 để xác
định ông H2, M đã cho vợ chồng anh Đ, chị T thửa đất trên là có căn cứ. Sau
khi anh Đ, chị T về C sống với nhau thì việc quản lý, tạo lập, xây dựng công
trình tài sản trên đất vẫn thuộc quyền quản lý, định đoạt của ông H2, bà M; chị
T, anh Đ không có quyền cũng không tạo lập, xây dựng bất cứ công trình tài
sản gì trên đất.
Do không căn cứ xác định anh Đ, chị T được ông H2, M cho thửa
đất số 130 cùng toàn bộ công trình tài sản trên đất nên thửa đất số 130 cùng
toàn bộ công trình, tài sản trên đất không phải tài sản C của anh Đ, chị T như
bản án thẩm nhận định phù hợp. Do đó không căn cứ chấp nhận kháng
cáo đề nghị chia ½ giá trị thửa đất của bị đơn.
2.2. Đối với yêu cầu chia tài sản C thửa đất số 158 công trình tài sản
trên thửa đất:
Thứ nhất, chị T trình bày thửa đất số 158 do vợ chồng chị mua của ông
H3, bà L năm 2008 với giá 125 triệu đồng. Việc thỏa thuận mua bán đất, trả tiền
mua đất với ông H3, L đều do một mình anh Đ thực hiện, chị không tham
gia. Vnguồn tiền để mua thửa đất này, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm, chT xuất trình tài liệu, chứng cứ sổ ghi chép nhân của chị Thị
Bình năm 2007 thể hiện nội dung “Ngày 15/11/2007, chị T nhận ứng trước của
chị Bình số tiền 20 triệu đồng để mua đất Đông Cứu”. Tuy nhiên, anh Đ phản
đối các lời trình bày nêu trên của chị T về thu nhập cũng như nguồn tiền mua
đất.
15
Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc sổ ghi chép nhân của chThị
Bình thể hiện nội dung ngày 15/11/2007, chT nhận ứng trước của chị Bình
số tiền 20 triệu đồng để mua đất Đông Cứu nhưng không thể hiện chi tiết
mua thửa đất nào, của ai. Hơn nữa, tại bản giao kèo bán đất ngày 08/12/2007
(BL347) thể hiện thời điểm mua đất năm 2007; người giao dịch vợ chồng
ông H3, bà L bán cho ông H2, bà M chứ không phải anh Đ. Về vấn đề này, Tòa
án đã tiến hành xác minh, tại biên bản lấy lời khai ngày 30/10/2023 (BL162-
167) biên bản làm việc ngày 27/3/2024 (BL265) ông Trịnh Văn H3
Trần Thị L đều xác nhận, ông bà bán đất và nhận tiền của ông H2, M; v
chồng anh Đ, chị T không liên quan đến việc mua bán thửa đất số 158.
Thứ hai, bản thân chị T cũng thừa nhận chị không tham gia vào bất cứ giai
đoạn nào của quá trình mua đất, từ thời điểm thỏa thuận mua đất, trả tiền, làm
thủ tục chuyển nhượng, chị không kết bất cứ giấy tờ văn bản gì, thời điểm
mua đất chị cũng không trực tiếp đưa tiền cho anh Đ đmua đất. Chị T cũng
xác nhận, chị không đưa tiền cho ông H2, M đmua đất của ông H3, L.
Anh Đ trình bày anh không đứng ra giao dịch, mua đất, không tiền mua đất,
chị T cũng không tiền gửi về cho anh để tích lũy, bản thân anh cũng không
thu nhập thừa để mua đất. Thửa đất nêu trên của bố manh mua của
ông H3, L năm 2007. Như vậy, lời trình bày của anh Đ phù hợp với lời khai
của bà M, ông H3 và bà L, phù hợp với giấy tờ, giao dịch mua bán đất giữa ông
H3, L với ông H2, M. Do vậy, đủ cơ sở để khẳng định thửa đất số 158
đã được ông H2, M mua của ông H3, bà L từ năm 2007; năm 2010, các bên
chỉ H3 thiện về hình thức pháp khi đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc bản án sơ thẩm
xác định thửa đất 158 không phải là tài sản C do anh Đ, chị T tạo lập được trong
thời khôn nhân là có căn cứ.
Đối với ngôi nhà xây dựng trên thửa đất số 158: Mặc dù, hồ sơ, giấy tờ, sổ
sách đa số đều thể hiện người xây dựng nhà, thỏa thuận hợp đồng, trả tiền gạch,
sắt, thép, điện nước, thiết bị vệ sinh... là bà M. Chủ thầu xây dựng công trình và
người bán nguyên vật liệu xi măng, gạch, sắt thép, thiết bị điện nước, thiết bị vệ
sinh... cũng đều khẳng định: Các thỏa thuận hợp đồng liên quan đến việc xây
dựng ngôi nhà ba tầng thôn Bảo Tháp đều do họ giao dịch, thỏa thuận
kết với M, M người trả tiền, thanh quyết toán. Họ không tham gia giao
dịch, kết hoặc thỏa thuận bất cứ nội dung về việc xây dựng ngôi nhà với
anh Đ, chị T không nhận bất cứ khoản tiền nào từ anh Đ, chị T. Tuy nhiên,
Tòa án đã tiến hành xác minh thu nhập của bà M tại thời điểm xây dựng ngôi
nhà năm 2012, tại biên bản xác minh ngày 05/12/2024 địa pH2 cho biết: “Tại
thời điểm năm 2012, M đã hết tuổi lao động theo quy định của Bộ luật lao
16
động; về thu nhập của M từ nguồn nào thì địa pH2 không nắm được”. n
phía chị T trình bày ngôi nhà này do vợ chồng anh chị xây dựng. Để chứng
minh cho lời trình bày của mình, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, chị
T xuất trình các tài liệu, chứng cứ gồm Giấy xác nhận nợ đề ngày 23/12/2012
thể hiện nội dung “Ngày 23/12/2012, chị T có vay của anh Vũ Xuân Bản số tiền
2 cây vàng ta 10 chvàng nhẫn để xây nhà tại khu đất mới thôn Bảo Tháp”
Giấy vay tiền đề ngày 06/02/2013 thể hiện nội dung “Chị T vay của anh
Nguyễn Văn Chiều số tiền 50.000.000 đồng để y nhà”. Đồng thời, tại biên
bản xác minh ngày 05/11/2024 có xác nhận của địa pH2, ông Văn Dương
hàng xóm sinh sống cạnh thửa đất số 158 với vợ chồng chị T, anh Đ cũng
khẳng định, năm 2012 vợ chồng anh Đ, chị T xây dựng nhà trên thửa đất số 158
dựng 01 túp lều tạm cạnh công trình để thường xuyên ra trông coi, quán
xuyến nguyên vật liệu đồ đạc xây dựng. Tại một số hóa đơn bán hàng do
chính nguyên đơn xuất trình (từ BL298 đến BL317) cũng thể hiện anh Đ
người mua, nhận các thiết bị, vật liệu để xây dựng ngôi nhà.
Mặc dù, chị T chỉ chứng minh được một phần đóng góp để xây dựng ngôi
nhà ba tầng trên thửa đất số 158 công sức quản lý, giữ gìn ngôi nhà; còn
các hạng mục lớn là do M đóng góp. Nhưng bản án thẩm xác định ngôi
nhà ba tầng trên thửa đất số 158 là tài sản riêng của bà M là không phù hợp, ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của anh Đ, chị T. Hội đồng xét xử thấy,
căn cứ để xác định ngôi nhà ba tầng trên thửa đất số 158 tài sản C của
M vợ chồng anh Đ, chị T. Tuy nhiên, M người ng sức đóng góp
nhiều hơn vợ chồng anh Đ, chị T nên cần chia tỷ lệ 50/50 đối với giá trị còn lại
của ngôi nhà ba tầng cho M vợ chồng anh Đ, chị T (bà M được ½, anh Đ
và chị T được ½).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định ½ giá trị còn lại của
ngôi nhà ba tầng trên thửa đất số 158 tài sản C của vợ chồng anh Đ, chị T
trong thời kỳ hôn nhân.
Tại Biên bản định giá ngày 07/11/2023, Hội đồng định giá trong tố tụng
dân sự huyện Gia Bình xác định, giá trị còn lại của 01 ngôi nhà 04 tầng (01 tầng
hầm 03 tầng), cấp III loại 3, xây dựng năm 2012 1.292.630.400 đồng.
Xem xét về công sức đóng góp tạo lập lên ngôi nhà này thì thấy, mặc anh Đ
trình bày không tiền bạc đóng góp để xây dựng khi xây dựng chỉ ra
trông nom, nhận vật liệu xây dựng nhưng chị T trình bày tiền để xây dựng
nhà là của C vợ chồng chị nên cần xác định quyền lợi của anh Đ, chị T theo tỷ
lệ 50/50 căn cứ. Theo đó, anh Đ chị T mỗi người được hưởng phần giá
trị còn lại của ngôi nhà là 646.315.200/2= 323.157.600 đồng.
Do thửa đất số 158 của M, bà M lại được hưởng phần lớn giá trị còn
lại của ngôi nhà ba tầng trên thửa đất số 158 nên M phải có nghĩa vụ trích trả
17
chị T số tiền 323.157.600 đồng; đối với phần của anh Đ do anh Đ không yêu
cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, khi nào anh Đ có yêu cầu sẽ được xem
xét, giải quyết trong vụ án khác.
2.3. Đối với chiếc ô BKS: 30A-283.70, tại phiên tòa bị đơn xin rút yêu
cầu kháng cáo đối với tài sản này nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết phúc
thẩm.
2.4. Về trích chia công sức đóng góp tạo lập nên khối tài sản.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn xin rút yêu cầu
kháng cáo chấp nhận quyết định của bản án thẩm đối với số tiền
450.000.000 đồng bà M tự nguyện trích chia công sức cho chị T. Như vậy, tổng
số tiền Trần Thị M phải trích trả chị T : 450.000.000 đồng + 323.157.600
đồng = 773.157.600 đồng.
Hội đồng xét xnhận thấy, anh Đ, chị T sinh sống cùng ông H2, M
một thời gian, cùng chăm lo xây dựng cuộc sống gia đình, phụ giúp bố mẹ
chồng trong việc tạo lập kinh tế. Chị T thời gian sinh sống và làm dâu tại gia
đình nhà chồng gần 15 năm. Hiện nay, chị T không nơi ở ổn định, đang phải
nhờ nhà người thân đang phải nuôi dưỡng 03 người con C tuy đã trên 18
tuổi nhưng cả 03 cháu còn đều đang học đại học. Hơn nữa, chị T lại một
phần công sức đóng góp xây dựng ngôi nhà trên thửa đất số 158, công sức
trong việc tôn tạo, duy trì, làm tăng giá trị của thửa đất. Tuy nhiên, phía bị đơn
trình bày mâu thuẫn giữa chị T và gia đình nhà chồng ngày càng trầm trọng, anh
Đ đã đánh đập chị nhiều lần nên hai bên không thể sinh sống gần nhau, trong
trường hợp Tòa án xác định chị được hưởng phần tài sản C đất thì chị xin
được nhận giá trị bằng tiền để chị tạo lập chỗ khác. Hội đồng xét xử thấy
nguyện vọng của chị T chính đáng, hơn nữa cả 02 thửa đất đều có nguồn gốc
của bà M, ông H2 nên cần buộc bà M phải trích trả chT là 773.157.600 đồng là
phù hợp.
[3]. Về án phí và chi phí tố tụng khác:
Anh Nguyễn Đức Đ, chị Vũ Thị T, bà Trần Thị M phải chịu án phí chia tài
sản C giá ngạch. Tuy nhiên, M người cao tuổi; chị T đơn trình bày
H3 cảnh kinh tế khó khăn xác nhận của chính quyền địa pH2 nên căn cứ
Điều 12, 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí có giá ngạch cho
M và giảm 50% án phí có giá ngạch cho chị T.
Chị Vũ Thị T phải chịu chi phí xem xét, thẩm định lại tài sản.
[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị tiếp tục hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
18
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Ttụng dân sự, chấp nhận
kháng cáo của bị đơn chị Vũ Thị T. Sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ các Điều 8, 9, 33, 51, 55, 56, 59, 61 của Luật hôn nhân và gia đình;
điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 13, Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu chia tài sản C của chị Vũ ThT:
Xác định 01 ngôi nhà 04 tầng (01 tầng hầm 03 tầng), cấp III loại 3, xây
dựng năm 2012 trên thửa đất số 158, tờ bản đồ s 35 tại thôn Bảo Tháp,
Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh tài sản C của Trần Thị M, anh
Nguyễn Đức Đ và chị Vũ Thị T.
Giao 01 ngôi nhà 04 tầng (01 tầng hầm 03 tầng), cấp III loại 3, xây
dựng năm 2012 trên thửa đất số 158, tbản đồ số 35 cho Trần Thị M quản
lý, sử dụng. Trần Thị M nghĩa vụ trích trả chị Vũ Thị T số tiền
323.157.600 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu của chị Thị T về chia tài sản C trong thời
kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Đức Đ thửa đất số 130, tbản đồ 03, diện tích
738m
2
cùng toàn bộ tài sản trên đất và thửa đất số 158, tbản đồ số 35, diện
tích 90m
2
đều có địa chỉ tại thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh
Bắc Ninh.
3. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của chị Thị T
đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota màu ghi bạc, BKS 30A-283.70 và số tiền
trích chia công sức của bà Trần Thị M cho ch Vũ Thị T.
Quyết định của bản án thẩm về chia tài sản C chiếc xe ô nhãn hiệu
Toyota màu ghi bạc, BKS 30A-283.70 stiền 450.000.000 đồng do Trần
Thị M tự nguyện trích chia công sức cho chị Vũ Thị T có hiệu lực thi hành án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong, hàng tháng n phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
L của số tiền còn phải thi hành án theo mức L suất được quy định tại Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
Chị Thị T phải chịu 7.000.000 đồng, anh Nguyễn Đức Đ phải chịu
7.000.000 đồng, bà Trần Thị M phải chịu 6.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm
định tại chđịnh giá tài sản. Xác nhận chT đã nộp đủ số tiền trên. M
nghĩa vụ H3 trả chị T số tiền 6.000.000 đồng, anh Đ có nghĩa vụ phải H3 trả chị
T số tiền 7.000.000 đồng.
19
Chị Thị T phải chịu 7.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định lại tài
sản. Xác nhận chị T đã nộp đủ số tiền 7.000.000 đồng.
5. Về án phí:
Anh Nguyễn Đức Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly n sơ thẩm
1.875.000 đồng án p chia tài sản giá ngạch. Xác nhận anh Đ đã nộp
300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0007112 ngày 22/11/2022 của Chi cục thi
hành án dân sự huyện Gia Bình.
Chị Thị T phải chịu 9.012.500 đồng án phí chia tài sản giá ngạch.
Xác nhận chị T đã nộp 41.665.000đ đồng theo các biên lai thu tiền số 0007164
ngày 06/4/2023 và số 0002762 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Gia Bình.
Miễn toàn bộ án phí cho bà Trần Thị M.
6. Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị tiếp tục hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hp bn án được thi hành theo quy định ti Điu 2 Lut Thi hành
án dân s thì người được thi hành án dân s, người phi thi hành án dân s có
quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án
hoc b cưỡng chế thi hành án theo quy định ti các Điu 6, 7, 7a, 7b và 9 Lut
Thi hành án dân s; thi hiu thi hành án được thc hin theo quy định ti Điu
30 Lut Thi hành án dân s.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- TAND huyện Gia Bình;
- Chi cục THADS huyện Gia Bình;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Nguyễn Văn Tính
Tải về
Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT Bản án số 05/2024/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất