Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 25/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 01/2025/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 01/2025/KDTM-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 01/2025/KDTM-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 01/2025/KDTM-ST ngày 25/07/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | Tòa án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng, tỉnh Lâm Đồng |
| Số hiệu: | 01/2025/KDTM-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 25/07/2025 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số : 01/2025/KDTM-ST
Ngày 25 - 7 - 2025
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – LÂM ĐỒNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thịnh và bà Võ Thị Thanh Xuân.
Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 –
Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tham gia phiên
tòa: Ông Lê Minh Giáp – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2025 tại phòng xét xử (cơ sở 2), Tòa án nhân dân khu vực
7 – Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại
thụ lý số: 03/2024/TLST- KDTM ngày 30 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số:
02/2025/QĐXXST- KDTM ngày 03 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa
số 04/2025/QĐST - KDTM ngày 27 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Anh T3 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ mới: Thôn T, phường H, tỉnh Lâm Đồng
Đại diện theo uỷ quyền: Ngân hàng TMCP phát triển TP. H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Nguyễn Bảo H1 – Chức vụ: Giám đốc
Trung tâm xử lý nợ.
Địa chỉ mới: Số 25 Bis, đường N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Trần Đức M – Chức vụ:
Chuyên viên xử lý nợ.
Địa chỉ mới: Số 69, đường P, phường X, thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt.
2
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ T.
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Ngọc H - Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: Thôn 2, xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ mới: Thôn 2, xã T, tỉnh Lâm Đồng.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Phúc C. Chức vụ: Phó Giám đốc.
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ mới: Khu phố T, phường B, tỉnh Đồng Nai – Vắng mặt (Có đề nghị
giải quyết vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ngân hàng TMCP phát triển TP. H.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Nguyễn Bảo H1 – Chức vụ: Giám đốc
Trung tâm xử lý nợ.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Bà Huỳnh Thị Yến P – Chức
vụ: Chuyên viên QHKH.
Địa chỉ: Số 354, đường T, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.
Địa chỉ mới: Số 354, đường T, phường B, tỉnh Lâm Đồng – Có mặt.
+ Ông Vũ Đại T, sinh năm 1981; bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1986;
chị Vũ Thị Ngọc T1, sinh năm 2002; chị Vũ Thị Ngọc T2, sinh năm 2005 và Vũ
Đại C, sinh năm 2007.
Người đại diện theo pháp luật cho anh C: Ông Vũ Đại T, bà Nguyễn Thị
Ngọc D (là bố mẹ ruột của anh C).
Cùng địa chỉ: Thôn 2, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Địa chỉ mới: Thôn 2 Minh Hưng, xã B, tỉnh Đồng Nai – Đều vắng mặt tại phiên
toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà đại
diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần dịch vụ thương mại H (gọi tắt là Công ty H) có thỏa thuận
với Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (gọi tắt là Ngân hàng) để mua lại khoản
nợ của Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T (gọi tắt là Công ty T) đang nợ
Ngân hàng số tiền nợ gốc là 5.000.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số
10922/23MN/HĐTD ngày 26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số
10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023 tại Hợp đồng mua bán nợ số:
138.03/2024/HĐMBN/HDB-HNV ngày 29/3/2024 giữa Ngân hàng TMCP phát triển
3
thành phố H với Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H.
Theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng với Công ty T thì Ngân hàng
cho Công ty T vay số tiền là 5.000.000.000đ, ngày giải ngân là 21/9/2023, thời hạn vay
là 06 tháng, lãi suất tỏa thuận là 10,4%/năm, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh.
Tính đến thời điểm hiện nay, Công ty T mới trả được 248.778.936 đồng tiền gốc
và 223.326.697 đồng tiền lãi, còn nợ số tiền gốc là 4.751.221064 đồng. Hiện đã quá
thời hạn vay nhưng Ngân hàng và Công ty H đã đôn đốc Công ty T trả nợ nhiều lần
nhưng Công ty T vẫn không trả số tiền gốc còn nợ và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín
dụng đã ký kết.
Khi Công ty T vay tại Ngân hàng số tiền gốc là 5.000.000.000đ, ông T, bà D,
chị T1, chị T2, anh C có được dùng tài sản là các Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng
nhận QSD đất và tài sản khác gắn liền trên đất số AP 405062 và Quyền sử dụng đất
theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất
số BH 297629 để thế chấp cho khoản vay trên theo 02 Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số 17367/23/MN/HĐBĐ ngày
18/9/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho
người khác số 17665/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023.
Nay, đề nghị Tòa án buộc Công ty T phải có nghĩa vụ trả cho Công ty H tổng
số tiền gốc và lãi suất còn nợ theo Hợp đồng tín dụng 10922/23MN/HĐTD ngày
26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số 10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023,
cụ thể số tiền gốc là 4.751.221064 đồng và lãi 789.926.300 đồng, tạm tính đến ngày
25/7/2025 và tiếp tục trả số tiền lãi còn lại theo hợp đồng tín dụng đến khi trả nợ xong.
Nếu Công ty T không trả các khoản nợ trên cho công ty H thì Công ty H có quyền
yêu cầu Cơ quan thi hành án phát mãi các tài sản đang thế chấp theo 02 Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số
17367/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để
đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số 17665/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023.
Ngoài ra, khi Công ty T vay số tiền trên thì bà Nguyễn Ngọc H có ký kết Văn
bản cam kết bảo lãnh trong trường hợp Công ty T không có trả nợ hay trả nợ không
đầy đủ thì bà Nguyễn Ngọc H phải trả nợ thay cho Công ty T. Do vây, đề nghị Toà
án buộc bà Nguyễn Ngọc H phải tra nợ thay cho Công ty T theo nội dung Văn bản
cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2023.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày:
Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T (gọi tắt là Công ty T) có vay tại
Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (gọi tắt là Ngân hàng) số tiền nợ gốc là
5.000.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10922/23MN/HĐTD ngày
26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số 10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023
vay số tiền là 5.000.000.000đ, ngày giải ngân là 21/9/2023, thời hạn vay là 06 tháng, lãi
suất tỏa thuận là 10,4%/năm, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh.
4
Tài sản thế chấp gồm: Khi Công ty T vay số tiền trên ông T, bà D, chị T1, chị T2,
anh C có được dùng tài sản là các Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSD
đất và tài sản khác gắn liền trên đất số AP 405062 và Quyền sử dụng đất theo Giấy
chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BH
297629 để thế chấp cho khoản vay trên theo 02 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số 17367/23/MN/HĐBĐ ngày
18/9/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho
người khác số 17665/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023.
Sau khi Ngân hàng giải ngân tiền thì Công ty T đã giao cho vợ chồng ông T
sử dụng số tiền vay để làm ăn riêng. Vợ chồng ông T có cam kết trả tiền lãi và gốc
khi đến hạn nhưng vẫn không trả nên Công ty đã phải trả cho Ngân hàng được một
khoản tiền gốc và lãi. Hiện nay chỉ còn nợ lại số tiền gốc là 4.751.221.064 đồng.
Đối với khoản nợ này Ngân hàng đã bán nợ cho Công ty H, Công ty T không
có ý kiến gì vẫn đồng ý trả số tiền gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho
Công ty H. Trường hợp Công ty không trả được khoản tiền gốc đã vay và tiền lãi thì
Công ty H có quyền yêu cầu phát mãi tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ. Công ty T
không có ý kiến gì.
Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo uỷ quyền của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H trình bày:
Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần thương mại dịch vụ
H. Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H không có ý kiến và yêu cầu gì thêm
vì các khoản vay của Công ty T thì Ngân hàng đã bán nợ cho Công ty H. Đề nghị
Tòa án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giả quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Vũ Đại T, bà Nguyễn Thị Ngọc D, chị Vũ Thị Ngọc T1, chị Vũ Thị Ngọc T2, và
anh Vũ Đại C dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt
nên không có ý kiến trình bày.
Quá trình giải quyết vụ án các đương sự không thoả thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án và đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng tại
phiên tòa:
Về trình tự, thủ tục tố tụng: Thẩm phán chấp hành đúng theo quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự, thiết lập hồ sơ và thu thập chứng cứ đúng trình tự. Hội
đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đúng nguyên tắc, nguyên đơn tham gia tố tụng
chấp hành đúng quy định của pháp luật. Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn
có đề nghị xét xử vắng mặt và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
mặt nhưng Tòa án đã tiến hành các thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy
định Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 3 Điều 26, khoản
1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và
Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 275, Điều 280, Điều 292, Điều 293,
Điều 299, Điều 301, Điều 307, Điều 320, Điều 323 và Điều 357 của Bộ luật Dân
sự; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H đối
với Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T.
- Buộc Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T phải trả cho Công ty cổ
phần dịch vụ thương mại H tổng số tiền là 5.541.147.364 đồng. Trong đó số tiền
nợ gốc là 4.751.221.064 đồng và tiền lãi là 789.926.300 đồng, tính đến ngày 25/7/2025
và tiếp tục phải chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10922/23MN/HĐTD
ngày 26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số 10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày
11/9/2023 kể từ ngày 26/7/2025 đến khi trả nợ xong.
- Trong trường hợp Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần dịch vụ
thương mại H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản
đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho
người khác số 17367/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số 17665/23/MN/HĐBĐ ngày
18/9/2023 để thu hồi nợ.
- Trong trường hợp Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T không thực
hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà Nguyễn Ngọc Huyền phải
trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T theo nội dung Văn bản
cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2023.
Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T phải hoàn trả
cho Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng)
chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu
án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn
được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật tranh chấp: Công ty cổ
phần thương mai dịch vụ H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết về việc tranh chấp
hợp đồng tín dụng đối với Công ty TNHH thương mại dịch vụ T có địa chỉ tại thôn
2, xã Đắk Búk So, huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông (Nay là thôn 2, xã Tuy Đức,
6
tỉnh Lâm Đồng). Như vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân khu vực 7 – Lâm Đồng và quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp
hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35,
điểm a khoản 1 Điều 39 cu
̉
a Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo ủy quyền của bị đơn có đơn đề nghị xét
xử vắng, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật
Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập, tống
đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Đại T, bà Nguyễn Thị Ngọc D, chị Vũ Thị Ngọc T1,
chị Vũ Thị Ngọc T2, và anh Vũ Đại C vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào
điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng
mặt là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H đối với
số tiền gốc và tiền lãi suất: Công ty TNHH thương mại dịch vụ T có vay Ngân hàng
TMCP phát triển thành phố H số tiền gốc là 5.000.000.000 đồng theo theo Hợp đồng
tín dụng hạn mức số 10922/23MN/HĐTD ngày 26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng
số 10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023. Thời hạn vay là 06 tháng, lãi suất tỏa
thuận là 10,4%/năm, mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp
đồng Công ty Tuy Đức đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết đến thời
hạn trả nợ nhưng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Đến ngày 29/3/2024 Ngân hàng
TMCP phát triển thành phố H đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ số:
138.03/2024/HĐMBN/HDB-HNV với Công ty cổ phần dịch vụ thương mại Hồng Ngọc
Việt về việc bán toàn bộ khoản vay của Công ty T cho Công ty H.
Từ khi vay đến nay, Công ty T mới trả được 248.778.936 đồng tiền gốc và
223.326.697 đồng tiền lãi. Số tiền gốc còn lại và lãi phát sinh Công ty T vẫn không
thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy, Công ty T đã
vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký kết với Ngân hàng. Tính đến ngày
25/7/2025, Công ty T còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 5.541.147.364 đồng, trong
đó số tiền nợ gốc là 4.751.221.064 đồng và tiền lãi là 789.926.300 đồng. Trong quá
trình giải quyết vụ án, bị đơn đồng ý trả số tiền gốc và lãi nhưng hiện đang khó khăn
nên chưa có tiền để trả. Do vậy, cần buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi cho
nguyên đơn theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích, nhận định nêu trên, việc Công ty H khởi kiện yêu cầu
Công ty T phải trả tổng số tiền là 5.541.147.364 đồng. Trong đó nợ số tiền gốc là
4.751.221.064 đồng và nợ tiền lãi là 789.926.300 đồng theo Hợp đồng tín dụng hạn mức
số 10922/23MN/HĐTD ngày 26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số
10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023, tạm tính đến ngày 25/7/2025 và tiếp tục
chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 26/7/2025 đến khi trả nợ
xong là có căn cứ, cần chấp nhận.
[4] Về xử lý tài sản thế chấp: Trong quá trình Công ty T vay vốn, vợ chồng
ông T, bà D và các con có bảo lãnh, thế chấp 02 thửa đất để bảo lãnh khoản vay
7
của Công ty T gồm Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận QSD đất và tài sản
khác gắn liền trên đất số AP 405062 và Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận
QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất số BH 297629 để thế
chấp cho khoản vay trên theo 02 Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo
nghĩa vụ vay cho người khác số 17367/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023 và Hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số
17665/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023. Các bên có thỏa thuận trong trường hợp
Công ty Tuy Đức không trả được khoản vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với
Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền xử lý tài sản đã thế chấp trên để thu hồi nợ. Kết
quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện 02 thửa đất thế chấp trên hiện gia đình ông
Thắng đang quản lý, sử dụng. Sơ đồ, vị trí ngoài thực địa trùng khớp với sơ đồ vị
trí trên bản đồ giải thửa (2005). Do vậy, trong trường hợp hợp Công ty Tuy Đức
không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì
Công ty Hồng Ngọc Việt có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát
mãi tài sản đảm bảo nêu trên để thu hồi nợ là có căn cứ, cần chấp nhận.
[5] Về nghĩa vụ bảo lãnh: Tại văn bản cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2023 thì
bên bảo lãnh bà Nguyễn Ngọc H là Giám đốc Công ty TNHH MTV thương mại
dịch vụ T đã chấp nhận bảo lãnh cho Công ty TNHH MTV Thương mại dịch vụ T
đối với các khoản vay tại Hợp đồng tín dụng hạn mức số 10922/23MN/HĐTD ngày
26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số 10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023.
Cụ thể: “Bên bảo lãnh đồng ý trả nợ thay trong trường hợp bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ đúng các nghĩa vụ được bảo lãnh …”. Như vậy,
trong trường hợp Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết thì bà
Nguyễn Ngọc H phải trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T
theo nội dung Văn bản cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2023 là có căn cứ.
[6] Về chi phí tố tụng: Bị đơn Công ty T phải chịu 3.000.000 đồng chi phí
xem xét, thẩm định tại chỗ. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng số tiền này nên cần
buộc bị đơn Công ty Tuy Đức phải trả lại cho nguyên đơn Công ty H số tiền
3.000.000 đồng là phù hợp.
[7] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty H được chấp
nhận nên bị đơn Công ty T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật. Công ty Hồng Ngọc Việt được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[8] Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy
Đức, tỉnh Đắk Nông tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp nhận.
[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
8
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều
147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 275, Điều 280, Điều 292, Điều 293, Điều 299, Điều 301, Điều
307, Điều 320, Điều 323 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H
đối với Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T.
1.1. Buộc Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T phải trả cho Công ty
cổ phần dịch vụ thương mại H tổng số tiền là 5.541.147.364 đồng (Năm tỷ năm
trăm bốn mươi mốt triệu một trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm sáu mươi tư đồng).
Trong đó số tiền nợ gốc là 4.751.221.064 đồng (Bốn tỷ bảy trăm năm mươi mốt triệu
hai trăm hai mươi mốt nghìn không trăm sáu mươi tư đồng) và tiền lãi là 789.926.300
đồng (Bảy trăm tám mươi chín triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn ba trăm đồng),
tính đến ngày 25/7/2025 và tiếp tục phải chịu lãi suất theo Hợp đồng tín dụng hạn
mức số 10922/23MN/HĐTD ngày 26/4/2023 và Phụ lục hợp đồng tín dụng số
10922/23MN/HĐTD/PL01 ngày 11/9/2023 kể từ ngày 26/7/2025 đến khi trả nợ xong.
1.2. Trong trường hợp Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty cổ phần dịch vụ
thương mại H có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản
đảm bảo theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho
người khác số 17367/23/MN/HĐBĐ ngày 18/9/2023 và Hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất để đảm bảo nghĩa vụ vay cho người khác số 17665/23/MN/HĐBĐ ngày
18/9/2023 để thu hồi nợ.
1.3. Trong trường hợp Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T không
thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì bà Nguyễn Ngọc Huyền
phải trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T theo nội dung Văn
bản cam kết bảo lãnh ngày 26/4/2023.
2. Về chi phí tố tụng: Buộc Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T phải
hoàn trả cho Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H số tiền 3.000.000 đồng (Ba
triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
3. Về án phí: Công ty TNHH MTV thương mại dịch vụ T phải nộp
113.541.000đồng (Một trăm mười ba triệu năm trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) tiền
án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Trả lại cho Công ty cổ phần dịch vụ thương mại H số tiền 56.383.000 đồng
(Năm mươi sáu triệu ba trăm tám mươi ba nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo
9
biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007930 ngày 30 tháng 7 năm
2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông (Nay là Phòng
thi hành án dân sự khu vực 7 – Lâm Đồng).
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo
bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên
toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản
án hay bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền
kháng cáo bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày
kể từ ngày nhận được bản án hay bản án được niêm yết
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự”.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
- TAND tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND KV7 – Lâm Đồng;
- THADS tỉnh Lâm Đồng; (đã ký và đóng dấu)
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP.
Nông Văn Nhu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 09/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 06/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 05/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 04/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm