Bản án số 07/2026/KDTM-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh An Giang về vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 07/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 07/2026/KDTM-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 07/2026/KDTM-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 07/2026/KDTM-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh An Giang về vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt... |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh An Giang |
| Số hiệu: | 07/2026/KDTM-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Kinh doanh thương mại |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 - Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 07/2026/KDTM-PT
Ngày 13-4-2026
V/v tranh chấp hợp đồng
vận chuyển hàng hóa (cát)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Minh Châu.
Các Thẩm phán: Bà Trịnh Ngọc Thúy và bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bé Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An
Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giangxét xử
phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 17/2025/TLPT-
KDTM ngày 24 tháng 12 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng
hóa (cát)”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2025/KDTM-ST ngày 29
tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 04/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 01 năm 2026 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số
05/2026/QĐ-PT ngày 23 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2; địa chỉ trụ sở: Tổ B,
đường N, ấp A, thị trấn A, huyện A, tỉnh An Giang (nay là tổ B, đường N, ấp A,
xã A, tỉnh An Giang); địa chỉ liên hệ: Khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An
Giang (nay là khóm V, phường C, tỉnh An Giang).
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Ngọc A,
chức vụ: Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (có mặt).
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3; địa chỉ trụ sở:
C8 L, đường Số A, khu T, phường L, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Nguyễn Kỳ T, chức vụ:
Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 (vắng mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm
1983; nơi cư trú: Số C, đường N, khóm A, phường L, tỉnh An Giang (văn bản ủy
quyền ngày 27/02/2025) (có mặt).
3. Người kháng cáo: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 là bị
đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo hồ sơ án sơ thẩm thể hiện:
Nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 (sau đây gọi tắt là Công
ty T2) do người đại diện hợp pháp trình bày:
Ngày 05/4/2024, Công ty T2 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành
viên T3 (gọi tắt là Công ty T4) chi nhánh Đ (do ông Lê Văn P, chức vụ: Giám
đốc, làm đại diện) thỏa thuận ký kết Hợp đồng vận chuyển cát số 04/2024/HĐTT
(sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 04/2024/HĐTT ngày 05/4/2024).
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T2 vận chuyển thuê cho Công ty T4
tổng cộng 91 chuyến (từ ngày 16/4/2024 đến ngày 09/10/2024), với số tiền là
6.242.795.000 đồng và phí neo đậu tàu là 484.743.000 đồng, tổng cộng là
6.727.538.000 đồng. Công ty T4 đã thanh toán nhiều lần cho Công ty T2 bằng
hình thức chuyển khoản, với tổng số tiền là 5.250.091.999 đồng (trong đó: Từ
ngày 19/4/2024 đến ngày 30/6/2024 thông qua số tài khoản của Công ty T4 là
351388688 mở tại Ngân hàng Q chuyển trả đến số tài khoản Công ty T2 mở tại
Ngân hàng Q là 258686181818 với số tiền 3.910.132.000 đồng; từ ngày 26/7/2024
đến ngày 19/9/2024 thông qua số tài khoản của Công ty T4 là 5777999 mở tại
Ngân hàng S chuyển trả đến số tài khoản Công ty T2 mở tại Ngân hàng Q là
258686181818 với số tiền 1.339.959.999 đồng; Công ty T2 đã hỗ trợ không tính
phí neo đậu với Công ty T4 số tiền là 32.371.500 đồng), còn nợ lại số tiền
1.480.883.000 đồng.
Nay nguyên đơn yêu cầu như sau:
- Xin rút một phần yêu cầu khởi kiện số tiền 35.808.499 đồng đối với Công
ty T4 (do có sự tính toán sai nên theo đơn khởi kiện, Công ty T2 yêu cầu Công ty
T4 thực hiện nghĩa vụ trả khoản công nợ cho Công ty T2 với số tiền là
1.480.883.000 đồng).
- Yêu cầu Công ty T4 thực hiện nghĩa vụ trả khoản công nợ chưa thanh toán
cho Công ty T2 với số tiền là 1.445.074.501 đồng (theo Hợp đồng số
04/2024/HĐTT ngày 05/4/2024 được xác lập giữa Công ty T2 với Công ty T4);
không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn là Công ty T4 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Tại phiên tòa
sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Theo chứng từ thanh
toán và số tiền thanh toán trả sổ sách là vượt; không thể đối chiếu vì các chứng từ
gốc đã thất lạc.
3
* Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 24/2025/KDTM-ST ngày
29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 30, các Điều 35, 39, 91, 92, 144, 147, 228, 244, 266,
271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 530, 533 và Điều 536 Bộ
luật Dân sự năm 2015; Điều 85 và Điều 87 Luật Thương mại; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2 về yêu
cầu bị đơn Công ty T4 trả số tiền 35.808.499 đồng.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T2.
Buộc Công ty T4 có trách nhiệm trả cho Công ty T2 số tiền vận chuyển cát còn
nợ 1.445.074.501 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, quyền
kháng cáo, quyền thi hành án và thời hiệu thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 08/10/2025, bị đơn là Công ty T4 có đơn kháng cáo với nội dung:
Yêu cầu sửa toàn bộ bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Nguyễn Thành T1 trình
bày: Công ty T4 - chi nhánh Đ do ông Lê Văn P, chức vụ: Giám đốc, làm đại diện
hiện đã nghỉ và không bàn giao sổ sách nên Công ty T4 không nắm được việc thu
chi khi giao kết hợp đồng thuê vận chuyển cát với Công ty T2. Nay Công ty T4
thiện chí để chấm dứt vụ kiện và chia sẻ khó khăn, đồng ý trả cho Công ty T2 số
tiền 800.000.000 đồng. Về án phí sơ thẩm đồng ý chịu theo quy định pháp luật.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Ngọc A trình
bày: Trong quá trình thực hiện hợp đồng do ông P thực hiện, việc ghi nhận số
lượng thực tế ở bến C chỉ thông qua điện thoại từ nhân viên Công ty H, đây là sai
sót của Công ty T2. Vụ kiện đã kéo dài, nay Công ty T2 đồng ý chỉ yêu cầu Công
ty T4 trả số tiền vận chuyển cát còn nợ lại theo Hợp đồng số 04/2024/HĐTT ngày
05/4/2024 là 800.000.000 đồng. Về án phí sơ thẩm, yêu cầu Công ty T4 chịu theo
quy định pháp luật.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
+ Về tuân theo pháp luật tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Công ty T4
được nộp trong thời hạn luật định, đúng quy định pháp luật; Thẩm phán được phân
công giải quyết vụ án, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử. Các đương sự đã chấp
hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.
+ Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 và khoản
2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa Bản án kinh doanh thương
mại sơ thẩm số 24/2025/KDTM-ST ngày 29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân
4
dân khu vực 9 - An Giang, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên
tòa phúc thẩm: Công ty T4 có trách nhiệm trả cho Công ty T2 số tiền 800.000.000
đồng. Án phí sơ thẩm và phúc thẩm giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn Công ty T4 làm đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm
ứng án phí phúc thẩm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận và xét xử theo thủ tục
phúc thẩm là đúng quy định tại Điều 285 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty T4, Hội đồng xét xử phúc
thẩm xét thấy:
Hợp đồng vận chuyển cát số 04/2024/HĐTT ngày 05/4/2024 được xác lập
giữa Công ty T2 với Công ty T4 – chi nhánh Đ trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận,
được lập thành văn bản, hình thức và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm
của luật, không trái với đạo đức xã hội; phù hợp với quy định tại Điều 530, Điều
531, Điều 533 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đây là hợp đồng hợp pháp, được
pháp luật thừa nhận và bảo vệ cho nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên
theo quy định tại Điều 534, Điều 535, Điều 536, Điều 537 Bộ luật Dân sự năm
2015.
Theo Công ty T2, quá trình thực hiện Hợp đồng số 04/2024/HĐTT ngày
05/4/2024, đã vận chuyển cho Công ty T4 chuyến (từ ngày 16/4/2024 đến ngày
09/10/2024), với số tiền là 6.242.795.000 đồng và phí neo đậu tàu là 484.743.000
đồng, tổng cộng là 6.727.538.000 đồng; nhưng Công ty T4 đã thanh toán nhiều
lần cho Công ty T2 bằng hình thức chuyển khoản, với tổng số tiền là
5.250.091.999 đồng; còn nợ lại số tiền vận chuyển cát là 1.445.074.501 đồng nên
yêu cầu Công ty T4 thanh toán.
Công ty T4 kháng cáo cho rằng không thống nhất số tiền nợ Công ty T2
trình bày, yêu cầu Công ty T2 cung cấp chứng cứ chứng minh việc xác định khối
lượng vận chuyển khi đến bến C như Hợp đồng số 04/2024/HĐTT ngày 05/4/2024
đã ký kết để đối chiếu.
Nay tại phiên tòa phúc thẩm, Công ty T4 đồng ý trả Công ty T2 số tiền vận
chuyển cát còn nợ với số tiền 800.000.000 đồng và được phía Công ty T2 đồng ý.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa là tự nguyện, không vi
phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên được Hội đồng xét xử
phúc thẩm chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm,
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc Công ty T4 phải có trách nhiệm
trả cho Công ty T2 tiền vận chuyển cát còn nợ lại của Hợp đồng số 04/2024/HĐTT
ngày 05/4/2024 đã ký kết là 800.000.000 đồng như ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát tại phiên tòa.
5
[3] Về án phí sơ thẩm:
Công ty T2 không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn
trả cho Công ty T2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Công ty T4 phải chịu 36.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ
thẩm.
[4] Về án phí phúc thẩm: Công ty T4 phải chịu án phí kinh doanh thương
mại phúc thẩm là 2.000.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã
nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Sửa Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 24/2025/KDTM-ST ngày
29 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - An Giang.
Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, cụ thể: Công ty Trách nhiệm
hữu hạn một thành viên T3 có trách nhiệm trả cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn
T2 số tiền vận chuyển cát còn nợ là 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng) của Hợp
đồng vận chuyển cát số 04/2024/HĐTT ngày 05/4/2024 được ký kết giữa Công
ty Trách nhiệm hữu hạn T2 và Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3
– chi nhánh Đ.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Án phí sơ thẩm:
Công ty Trách nhiệm hữu hạn T2 được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã
nộp 28.213.000đ (hai mươi tám triệu hai trăm mười ba nghìn đồng) theo Biên lai
thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002094 ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Chi
cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang (nay là Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 9 - An Giang).
Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 phải chịu 36.000.000đ (ba
mươi sáu triệu đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
3. Án phí phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên T3 phải
chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000đ (hai triệu đồng), được
trừ vào số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai
thu số 0009246 ngày 19 tháng 11 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
6
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành
án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân tối cao;
- VKSND tỉnh An Giang;
- TAND khu vực 9 - An Giang;
- Phòng THADS khu vực 9 - An Giang;
- Đương sự;
- Lưu: Văn phòng, Tòa dân sự,
Phòng GĐ,KT,TT&THA, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Minh Châu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng