Bản án số 989/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 989/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 989/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 989/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án 989-DSPT-31-7-2026-Th - H- Thừa kế tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 989/2026/DS-PT Bản án số 989/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 989/2026/DS-PT Bản án số 989/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 989/2026/DS-PT
Ngày: 31-7-2026
V/v tranh chp tha kế quyn s
dụng đất, hợp đồng tng cho quyn
s dụng đất, yêu cu vô hiu di chúc
và hy giy chng nhn quyn s
dụng đất
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyn Quc Tun.
Các Thm phán:
1 Ông Hunh Hữu Nghĩa;
2 Bà Trnh Th Phúc.
Thư phiên tòa: Ông Ngc Khánh, Thư Tòa án nhân dân tnh Tây
Ninh.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyn Th Bé Thi, Kim sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 182/TLPT-DS ngày 23 tháng 3
năm 2026, về “tranh chấp tha kế quyn s dụng đất, hợp đồng tng cho quyn
s dụng đất, yêu cu hiu di chúc hy giy chng nhn quyn s dng
đất”.
Do Bản án dân sthẩm số 05/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số 222/2026/QĐ-PT ngày
08 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
1. Ông Phan Minh T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số B, Ấp D P, M, tỉnh
Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm
1966. Địa chỉ: D Ấp B, phường T, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày
08-5-2025 và Thông báo chấm dứt uỷ quyền ngày 02-7-2026).
2. Phan Thị Hồng K, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp G, L, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
2
3. Ông Phan C, sinh năm 1970. Địa chỉ trú: Ấp E P, M, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
4. Ông Phan Minh L, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp C, R, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
5. Phan Thị Ngọc D, sinh năm 1972. Địa chỉ: Ấp C, M, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
6. Ông Phan Minh Đ, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp C, xã L, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
7. Phan Thị Ngọc T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp B, M, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
8. Ông Đặng Tấn T2, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số D, Quốc lộ A, Phường B,
Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà K, ông C, ông L, bà D, ông Đ, T1,
ông T2: Ông Phan Minh T, sinh năm 1979. Địa chỉ: Số B, Ấp D P, xã M, tỉnh
Tây Ninh; có mặt.
Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho các nguyên đơn ông Phan
Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị
Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2: ông Trần
Hồng P, là Luật sư – Công ty L8, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
Bị đơn: Ông Đặng Tấn H1, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số B, Ấp D P, M,
tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Nguyễn Minh C1, sinh
năm 1977. Địa chỉ: Số B, đường A, khu phố B, phường L, tỉnh Tây Ninh;
mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Trần Thị Kim M, sinh năm 1962; vắng mặt;
2. Bà Đặng Bảo Ngọc Huỳnh C2, sinh năm 1984; vắng mặt;
3. Cháu Đặng Ngọc Phương T3, sinh năm 2012; vắng mặt;
4. Cháu Đặng Ngọc Phương T4, sinh năm 2014; vắng mặt;
Người đại diện theo pháp luật của cháu T3 và cháu T4: Đặng Bảo Ngọc
Huỳnh C2, sinh năm: 1984; vắng mặt.
5. Bà Đặng Thị Hồng N, sinh năm 1992; vắng mặt;
6. Cháu Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 2020; vắng mặt;
7. Cháu Nguyễn Thành H3, sinh năm 2019; vắng mặt;
3
Người đại diện theo pháp luật: Đặng Thị Hồng N, sinh năm 1992; vắng
mặt.
8. Ông Đặng Tấn Duy B, sinh năm 1986; vắng mặt;
9. Bà Nguyễn Thị Anh T5, sinh năm 1986; vắng mặt;
10. Cháu Đặng Ngc Minh A, sinh năm 2015; vắng mặt;
11. Cháu Đặng Ngc Hà A1, sinh năm 2017; vắng mặt;
12. Cháu Đặng Tấn Hoàng P1, sinh năm 2021; vắng mặt;
Người đại diện theo pháp luật của cháu Minh A, A1 Hoàng P1:
Nguyễn Thị Anh T5, sinh năm 1986 ông Đặng Tấn Duy B, sinh năm 1986;
vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số B, Ấp D P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
13. Đặng Thị Đ1, sinh năm 1956. Địa chỉ trú: Số B, Ấp D P, M,
tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
14. Bà Đặng Thị Đ2, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số E, Ấp A, xã B, Thành phố
Hồ Chí Minh. Chỗ hiện nay: 5 Â, Phường B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng
mặt;
15. Đặng Thị Ngọc Y, sinh năm 1957. Địa chỉ: Số B, Ấp C, xã N, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt;
16. Đặng Thị V, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số A ấp B, T, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
17. Ông Đặng Tấn G, sinh năm 1970. Địa chỉ: Số H, Khu phố B, phường
H, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
18. Đặng Thị Lan H4, sinh năm 1972. Địa chỉ: Số D, đường N, Phường
M, tỉnh Đồng Tháp; vắng mặt.
19. Phan Thị Ngọc B1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A, Ấp A P, M,
tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
20. Thị Đ3, sinh năm 1927. Địa chỉ: Ấp C P, M, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
21. Ông Lê Văn H5, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp C P, xã M, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
22. Thị Mỹ D1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số A, khu I, Ấp C, xã M,
tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
23. Ông Đặng Tấn M1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Số A, Ấp C P, M, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt.
24. Bà Triệu Tú L1, sinh năm 1982; vắng mặt.
4
25. Ông Trương Minh T6, sinh năm 1983; vắng mặt.
26. Bà Lê Thị Phương L2, sinh năm 1985; vắng mặt.
27. Ông Lê Công L3, sinh năm 1985; vắng mặt.
28. Bà Đặng Thị Phi V1, sinh năm 1980; vắng mt.
29. Ông Nguyễn Minh N1, sinh năm 1980; vắng mặt.
30. Bà Dương Thị Phương T7, sinh năm 1979; vắng mặt.
31. Ông Nguyễn Nhật L4, sinh năm 2003; vắng mặt.
32. Ông Trần Đức Q, sinh năm 1974; vắng mặt.
33. Ông Nguyễn Nhật P2, sinh năm 1994; vắng mặt.
34. Bà Trần Thúy V2, sinh năm 1988; vắng mặt.
35. Bà Tạ Thị D2, sinh năm 1983; vắng mặt.
36. Ông Nguyễn Văn T8, sinh năm 1975; vắng mặt.
37. Bà Hồ Thị T9, sinh năm 1985; vắng mt.
38. Ông Đặng Quang K1, sinh năm 1982; vắng mặt.
39. Ông Nguyễn Hải B2, sinh năm 1983; vắng mặt.
40. Bà Phan Thị L5, sinh năm 1989; vắng mặt.
41. Ông Trương Minh T10, sinh năm 1991; vắng mặt.
42. Bà Nguyễn Thị Thúy D3, sinh năm 2007; vắng mặt.
43. Ông Nguyễn Văn L6, sinh năm 1969; vắng mặt.
44. Ông Lý Minh H6, sinh năm 1980; vắng mặt.
45. Bà Thạch Thị Tha Q1, sinh năm 1978; vắng mặt.
46. Ông Nguyễn Út T11, sinh năm 1987; vắng mặt.
47. Ông Nguyễn Đang T12, sinh năm 2002; vắng mặt.
48. Ông Nguyễn Hoài T13, sinh năm 1990; vắng mặt.
49. Bà Trương Thị Ngọc D4, sinh năm 1977; vắng mặt.
50. Ông Nguyễn Văn T14, sinh năm 1980; vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số B, ấp D P, xã M, tỉnh Tây Ninh.
52. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
53. Văn phòng C3.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng T15 Trưởng Văn
phòng; vắng mặt.
5
Địa chỉ trụ sở: Số B, Đường N, ấp B, xã B, tỉnh Tây Ninh.
54. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T.
Địa chỉ trụ sở: 137 Quốc lộ A, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T16 Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Thanh S Phó Giám đốc Chi
nhánh Văn phòng Đ4; vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan
C, ông Phan Minh L, bà Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc
T1, ông Đặng Tấn T2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Phan Minh T do Nguyễn Thị
Thu H người đại diện theo ủy quyền; nguyên đơn Phan Thị Hồng K,
ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị
Ngọc T1, ông Phan C; nguyên đơn ông Đặng Tấn T2 do ông Phan
Minh T là người đại diện theo ủy quyền, ông T và bà H thng nhất trình bày:
Về hàng thừa kế: Ông Đặng Văn S1 (sinh năm 1918, chết năm 2010) và
Huỳnh Thị M2 (sinh năm 1922, chết năm 2004) vchồng. Ông S1 M2
ông ngoại, ông nội của các nguyên đơn. Ông S1 M2 tổ chức lễ
cưới từ trước năm 1975 và chung sống với nhau đến khi M2 chết.
Ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 09 người con, bao gồm: một
ông Đặng Tấn B3 (sinh năm 1944, mất năm 2016) có vợ là bà Phạm Thị B4 chết
năm 2010 03 người con là Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Đặng Tấn T2; hai
bà Đặng Thị N2 (sinh năm 1947, chết năm 2007) chồng Phan Văn P3
chết năm 2004, có 08 người con gồm: Phan Thị Hồng K, Phan Vũ C, Phan Minh
L, Phan Thị Ngọc D, Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc B1, Phan Thị Ngọc T1,
Phan Minh T; ba Đặng Thị Đ1; bốn Đặng Thị Đ2; năm Đặng Thị
Ngọc Y; sáu là bà Đặng Thị V; bảy là ông Đặng Tấn H1; hai người con chết lúc
nhỏ là ông D5 và ông L7 không vợ con.
Ngoài ra, khi còn sống ông Đặng Văn S1 quan hệ tình cảm với bà
Thị Đ3. Ông S1 Đ3 không sống chung nhà, không tổ chức lễ cưới
không có đăng ký kết hôn. Ông S1 và bà Đ3 sinh ra được 04 người con chung là
Văn H5, Đặng Tấn M1, Thị Mỹ D1 và 01 người con đã chết lúc nhỏ,
không có vợ con. Ngoài ra, ông S1, bà M2 và bà Đ3 không còn con nào khác.
Về tài sản tranh chấp: Trước năm 1975, khi còn sống ông Đặng Văn S1
Huỳnh Thị M2 đã tạo dựng được 01 căn nhà và nhiều thửa đất.
Cụ thể, năm 1998 ông Đặng Văn S1 và Huỳnh Thị M2 được Ủy ban
nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất sau:
6
thửa đất số 568, diện tích 2.566m
2
; thửa đất số 573, diện tích: 840m
2
; thửa đất s
616, diện tích 6.990m
2
; thửa đất s1324, diện tích 800m
2
, tất cả các thửa đất
cùng tờ bản đồ số 01, P, huyện B, tỉnh Long An, nay là M, tỉnh Tây Ninh;
thửa đất số 191, diện tích 2.817m
2
, loại đất thổ, bản đồ số 4-1, đất tại P,
huyện B, tỉnh Long An, nay M, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời, trước 1975 ông
Đặng Văn S1 và bà Huỳnh Thị M2 dựng một căn nhà trên thửa đất số 191 để
ở cho đến khi qua đời. Ngôi nhà có địa chỉ Số B Ấp D, xã P, huyện B, tỉnh Long
An, nay M, tỉnh Tây Ninh. Ông Đặng Tấn H1 cùng gia đình đang sinh
sống trong căn nhà này.
Về quá trình sdụng đất: Năm 2004, Huỳnh Thị M2 chết không để lại
di chúc. Theo quy định của pháp luật, phần tài sản của M2 trong khối tài sản
chung của hai vợ chồng trở thành di sản thừa kế. m 2007, Đặng Thị N2
chết. Năm 2010, ông Đặng Văn S1 chết. Theo quy định của pháp luật, phần tài
sản của ông S1 trong khối tài sản chung của hai vợ chồng trở thành di sản thừa
kế.
Sau khi ông Đặng Văn S1 chết, ông Đặng Tấn H1 không mời những người
đồng thừa kế để trao đổi về việc chia di sản của cha mẹ theo quy định pháp luật.
Năm 2011, ông Đặng Tấn H1 con út của ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị
M2 đã tự ý đi đăng là người thừa kế để được đứng tên các thửa đất nêu trên.
Cụ thể, ông H1 đã đứng tên các thửa đất gồm: thửa đất số 568 theo Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà số BE340371 do Ủy ban nhân
dân huyện B cấp ngày 20-12-2011; thửa đất số 573 theo Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất và quyền sở hữu nhà số BE340370 do Ủy ban nhân dân huyện B
cấp ngày 20-12-2011; thửa đất số 616 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và quyền sở hữu nhà ở số BE340369 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 20-
12-2011; thửa đất số 1324 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở
hữu nhà số BE340372 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 20-12-2011;
thửa đất số 191 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở
số BE340373 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 20-12-2011.
Ngày 02-6-2022, ông Đặng Tấn H1 vTrần Thị Kim M Hợp
đồng tặng cho quyền sử dụng thửa đất s 191, tờ bản đồ số 4-1, diện tích
2.568m
2
, loại đất thổ cho con trai ông Đặng Tấn Duy B, hợp đồng đã được
Văn phòng C3 ng chứng ngày 02-6-2022.
Sau đó, các nguyên đơn tìm hiểu xin trích lục giấy tờ đất tại Ủy ban
nhân dân huyện B thì được biết ông Đặng Tấn H1 đã tự ý làm thủ tục khai nhận
di sản thừa kế cho riêng mình với do ông H1 người thừa kế duy nhất và
một tờ di chúc ghi tên ông Đặng Văn S1 lập từ năm 2006.
Tuy nhiên, các nguyên đơn nhận thấy tờ di chúc này nhiều dấu hiệu bất
thường, thậm chí thể là giả mạo. Cụ thể: chữ viết chữ ký trong di chúc không
phải của ông Đặng Văn S1; không sở xác định ông S1 tự nguyện minh
7
mẫn khi lập di chúc này; di chúc nội dung chia đất cho 04 người con khác,
nhưng ông Đặng Tấn H1 vẫn đi đăng ký cho riêng mình; thủ tục chứng thực di
chúc không đúng quy định. Ngoài ra, nếu di chúc này thật thì cũng chỉ đề
cập tới phần đất tài sản của riêng ông S1, còn phần di sản của vợ ông S1 (là
Huỳnh Thị M2) và căn nhà thì hiện nay vẫn chưa chia thừa kế.
Di sản thừa kế của ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 để lại gồm: 05
thửa đất một căn nhà. Theo quy định tại Luật Hôn nhân gia đình, khối tài
sản này thuộc quyền sở hữu chung của hai vợ chồng, mỗi người được ½ giá trị
hoặc hiện vật.
Về thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế: Theo quy định tại Bộ luật Dân
sự 2015, thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế 30 năm đối với bất động sản.
Như vậy, đối với việc giải quyết chia di sản thừa kế của ông Đặng Văn S1 và bà
Huỳnh Thị M2 hiện vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
Về cách chia thừa kế:
Đối với phần di sản của bà Huỳnh Thị M2: M2 chết năm 2004, tài sản
của để lại là ½ trong giá trị 05 thửa đất 01 căn nhà theo pháp luật sẽ được
để lại cho hàng thừa kế thnhất chồng, con. Cụ thể: ông Đặng Văn S1 07
người con, tổng cộng 08 người. Như vậy, mi người sẽ được hưởng 01 kỷ phần,
tương đương 1/8 giá trị di sản của bà Huỳnh Thị M2.
Đối với phần tài sản thừa kế của Đặng Thị N2 (được hưởng thừa kế từ
cha mẹ là Đặng Văn S1 - Huỳnh Thị M2) để lại cho các con và phần tài sản thừa
kế của ông Đặng Tấn B3 để lại cho các con: Theo quy định tại Bộ luật Dân sự,
Đặng Thị N2 con ruột của ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 nên
được quyền hưởng di sản thừa kế của cha mẹ để lại. Do Đặng Thị N2 đã chết
năm 2007, nên 08 người con hàng thừa kế thứ nhất của N2 sẽ được hưởng
mỗi người một kỷ phần bằng nhau là 1/8 giá trị kỷ phần di sản của Đặng Thị
N2 được hưởng từ bà Huỳnh Thị M2.
Phần thừa hưởng di sản đối với các con của ông Đặng Tấn B3: Do ông
Đặng Tấn B3 đã chết năm 2016 (vợ ông B3 cũng đã chết), nên 03 người con
hàng thừa kế thứ nhất của ông B3 sẽ được hưởng mỗi người một kphần bằng
nhau 1/3 giá trị kỷ phần di sản của ông Đặng Tấn B3 được hưởng từ
Huỳnh Thị M2.
Đối với phần di sản của ông Đặng Văn S1: Năm 2010, ông Đặng Văn S1
chết, lúc này di sản của ông để lại sẽ % giá trị tài sản chung của hai vợ chồng
1/8 giá trị phần di sản ông S1 được thừa hưởng từ vợ Huỳnh Thị
M2. Tại thời điểm ông S1 chết, di sản của ông để lại sẽ được chia cho 07 người
con, mỗi người được hưởng kỷ phần tương đương 1/7 giá trị di sản của ông
Đặng Văn S1. Trong đó, bà Đặng Thị N2 được hưởng 01 kỷ phần.
8
Đối với các con Đặng Thị N2: Do Đặng Thị N2 chết năm 2007, ông
S1 chết năm 2010, nên phần di sản của ông S1 để lại cho N2 sẽ do các con
của bà Đặng Thị N2 (gồm 08 người) được hưởng theo quy định tại Điều 652 Bộ
luật Dân sự 2015. Cụ thể 08 người con của N2 sẽ được hưởng mỗi người 01
kỷ phần bằng nhau trong giá trị phần di sản mà bà N2 được thừa hưởng từ cha là
ông S1.
Đối với các con ông Đặng Tấn B3: Do ông Đặng Tấn B3 đã chết năm 2016
(vông B3 cũng đã chết), nên những người ở hàng thừa kế thứ nhất của ông B3
(gồm 03 người) sẽ được hưởng mỗi người một kỷ phần bằng nhau trong giá trị
phần di sản mà ông B3 được hưởng từ cha là ông S1.
Do đó, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu như sau:
Chia thừa kế theo pháp luật quyền sử dụng các thửa đất gồm: thửa đất số
568, tờ bản đồ số 01, diện tích 2.510,1m
2
loại đất lúa, thửa đất số 573, tờ bản đồ
số 01, diện tích 840m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ bản đồ số 01, diện tích
6.990m
2
, loại đất lúa; thửa 1324, tờ bản đồ số 01, diện tích 379m
2
, loại đất lúa;
thửa đất số 191, tờ bản đsố 4-1, diện tích 2.568m
2
loại đất nông thôn cùng
căn nhà trên đất, tất cả tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An.
Ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh
L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1 yêu cầu được
nhận quyền sử dụng các thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 01, diện tích 379m
2
loại
đất lúa. Được hưởng chung 01 kỷ phần quyền sử dụng thửa đất số 191 (nay
thửa 373) bằng hiện vật.
Ông Đặng Tấn T2 yêu cầu được hưởng kỷ phần quyền sử dụng thửa đất số
191 (nay là thửa 373) bằng hiện vật, theo kỷ phần được hưởng.
Yêu cầu tuyên bố hiệu di chúc của ông Đặng n S1 lập ngày
17/11/2006 do Ủy ban nhân dân P, huyện B chứng thực số 05, quyển số 01
ngày 27/11/2006.
Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Tấn H1, bà Trần
Thị Kim M với ông Đặng Tấn Duy B được công chứng số 5391, quyển số
02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/6/2022 tại Văn phòng C3 đối với thửa đất
số 191 (thửa mới số 373) tờ bản đồ số 4-1 (tờ bản đồ mới số 60), diện tích
2.568m
2
, đất tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An, nay M, tỉnh Tây
Ninh.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340370, vào scấp GCN: CH 01627 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 573, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
9
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340369, vào scấp GCN: CH 01626 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 616, tờ bản đồ số 01, diện tích 733 m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại xã P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340372, vào scấp GCN: CH 01625 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 1324, tờ bản đồ số 01, diện tích 379m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc
tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340371, vào scấp GCN: CH 01623 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 568, tbản đồ số 01, diện tích 2.566m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất
tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340373, vào scấp GCN: CH 01624 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 191, tờ bản đồ số 4-1, diện tích 2.562m
2
, loại đất ở nông thôn, tại xã P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà và tài sản
khác gắn liền với đất số DG 445279, vào sổ cấp GCN: CS 17627 do Sở i
nguyên Môi trường tỉnh L, nay tỉnh Tây Ninh cấp cho ông Đặng Tấn D6
Bảo ngày 20/07/2022, đối với thửa đất số 373, diện tích 2.568m
2
, tờ bản đồ số
18, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa, các nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế
căn nhà trên thửa đất số 191, tờ bản đồ s4-1 (nay thửa 373), diện tích
2568m
2
loại đất nông thôn, tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An, nay
M, tỉnh Tây Ninh.
Các nguyên đơn đnghị Tòa án xem xét ưu tiên cho các nguyên đơn nhận
bằng hiện vật. Trường hợp không nhận bằng hiện vật tcác nguyên đơn yêu
cầu chia bằng giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn theo quy định pháp luật.
Do trong vụ án này, bị đơn không hợp tác nên việc đo đạc không thể thực hiện
được, đề nghị Tòa án xét xvụ án theo trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực B duyệt ngày 12-8-2025 đối với thửa đất số
68, 73, 86, 28 trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng
đất đai tại huyện B duyệt ngày 24-5-2022 đối với thửa đất số 373. Ngoài các yêu
cầu khởi kiện trên, các nguyên đơn không yêu cầu khởi kiệnkhác, đề nghị
Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
10
Bị đơn là ông Đặng Tấn H1 trình y:
Về hàng thừa kế: Ông Đặng Văn S1 (sinh năm 1918, chết năm 2010) và
Huỳnh Thị M2 (sinh năm 1922, chết năm 2004) vchồng. Ông S1 M2
ông ngoại, ông nội của các nguyên đơn. Ông S1 M2 tổ chức l
cưới từ trước năm 1975 và chung sống với nhau đến khi M2 chết.
Ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 09 người con, bao gồm: một
ông Đặng Tấn B3 (sinh năm 1944, mất năm 2016) có vợ là bà Phạm Thị B5 chết
năm 2010 03 người con là Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Đặng Tấn T2; hai
bà Đặng Thị N2 (sinh năm 1947, chết năm 2007) chồng Phan Văn P3
chết năm 2004, có 08 người con gồm: Phan Thị Hồng K, Phan Vũ C, Phan Minh
L, Phan Thị Ngọc D, Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc B1, Phan Thị Ngọc T1,
Phan Minh T; ba Đặng Thị Đ1; bốn Đặng Thị Đ2; năm Đặng Thị
Ngọc Y; sáu là bà Đặng Thị V; bảy là ông Đặng Tấn H1; hai người con chết lúc
nhỏ là ông D5 và ông L7 không vợ con.
Ngoài ra, khi còn sống ông Đặng Văn S1 quan hệ tình cảm với bà
Thị Đ3. Ông S1 Đ3 không sống chung nhà, không tổ chức lễ cưới
không đăng kết hôn. Ông S1 và Đ3 04 người con chung Văn
H5, Đặng Tấn M1, Thị Mỹ D1 01 người con đã chết lúc nhỏ. Ngoài ra,
ông S1, bà M2 và bà Đ3 không còn con nào khác.
Về tài sản tranh chấp: Nguồn gốc các thửa đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (nay
là thửa 373), diện tích 2.568m
2
loại đất ở nông thôn cùng căn nhà trên đất, tất cả
tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An, nay M, tỉnh Tây Ninh nguồn
gốc của ông nội cho cha ông H1 ông Đặng Văn S1. Khi tặng cho, thì ông
Đặng Văn S1 chưa vợ. Khi mẹ ông Huỳnh Thị M2 về sống chung thì
ông S1 có quen biết với bà Đ3, nên hai vợ chồng làm ăn riêng.
Trước đây, cha mẹ có tặng cho bà Đặng Thị N2 phần đất lúa có diện tích là
9.500m
2
436m
2
đất thổ. Ông Đặng Tấn B3 được cha mẹ tặng cho căn nhà
phường B, Thành phố Hồ Chí Minh cha lập di chúc cho ông B3 3.000m
2
đất ruộng. Ông B3 chết để lại cho ông T2 thừa kế. Bà Đặng Thị Đ1 khi còn sống
được cha tặng cho 3.500m
2
đất ruộng.
Khi mẹ ông chết, cha ông làm tdi chúc chia các con theo di chúc ngày
17/11/2006 được Ủy ban nhân dân P chứng thực. Thời điểm lập di chúc
thì ông S1 được giám định tâm thần, đủ điều kiện lập di chúc theo quy định pháp
luật.
Phần đất các nguyên đơn tranh chấp thì theo di chúc ông S1 để lại cho ông
H1 thờ cúng, quản di sản, không ai được quyền chia thừa kế. Sau khi lập di
chúc, các anh chị em trong gia đình cũng đồng ý theo ý chí ông S1 để lại phần
đất này giao cho ông H1 quản lý, thờ cúng và không ai tranh chấp.
11
Ông Đặng Tấn H1 là người trực tiếp sinh sống với cha mẹ gần 65 năm, trực
tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, thờ cúng giỗ cha mẹ. Ngoài ra, ông H1 còn thờ
cúng hai người anh của ông ông nội của ông, trên thửa đất số 191 02 ngôi
mộ của ông S1 M2. Do đó, đề nghị Tòa án thực hiện theo đúng di chúc
của cha ông.
Theo Công văn số 15757/UBND-TNMT ngày 12/12/2023 của Ủy ban nhân
dân huyện B, tỉnh Long An xác định phần đất ông T tranh chấp do ông nhận
thừa kế từ ông Đặng Văn S1, được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục theo quy
định pháp luật tại thời điểm cấp giấy.
Đối với phần di sản thừa kế các anh chị em ông được chia thì đã bán cho
người khác. Phần đất ông thờ cúng thì dùng để thờ cúng ông nghĩa vụ gìn
giữ, quản di sản để thờ cúng. Ông H1 đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, do phần đất này ông đã được để thừa kế theo di chúc
hợp pháp.
Do đây di sản của cha ông ông S1 để lại để cho ông H1, ông người
quản lý tài sản dùng vào việc thờ cúng. Cho nên, ông H1 không đồng ý cho Tòa
án tiến hành đo đạc, thẩm định, định giá.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim M,
Nguyễn Th Anh T5, Đặng Bảo Ngọc Huỳnh C2, Đặng Thị Hồng N
thống nhất trình bày:
M, T5, bà C2, N thống nhất toàn bộ phần trình bày của ông Đặng
Tấn H1 đề nghị Tòa án không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đặng Thị Đ2, Đặng Thị
Ngọc Y, Đặng Thị V, ông Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Phan Thị
Ngọc B1, bà Đặng Thị Đ1 thống nhất trình bày:
Ông Đặng Văn S1 (sinh năm 1918, chết năm 2010) Huỳnh Thị M2
(sinh năm 1922, chết năm 2004) vợ chồng. Ông Đặng Văn S1 Huỳnh
Thị M2 09 người con, bao gồm: một ông Đặng Tấn B3 (sinh năm 1944,
mất năm 2016) vợ Phạm Thị B4 chết năm 2010 03 người con
Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Đặng Tấn T2; hai Đặng Thị N2 (sinh năm
1947, chết năm 2007) có chồng là Phan Văn P3 chết năm 2004, có 07 người con
gồm: Phan Thị Hồng K, Phan C, Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, Phan
Minh Đ, Phan Thị Ngọc B1, Phan Thị Ngọc T1, Phan Minh T; ba Đặng
Thị Đ1; bốn Đặng Thị Đ2; năm bà Đặng Thị Ngọc Y; sáu Đặng
Thị V; bảy ông Đặng Tấn H1; hai người con chết lúc nhỏ ông D5 ông
L7 không vợ con.
Đối với sự việc tranh chấp giữa các bên thì các ông không ý kiến gì,
không yêu cầu khởi kiện trong vụ án này, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án
12
theo quy định pháp luật. Do bận công việc, nên các ông xin vắng mặt trong
suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị Mỹ D1, Thị
Đ3, Lê Văn H5, ông Đặng Tấn M1 thống nhất trình bày:
Ông Đặng Văn S1 (sinh năm 1918, chết năm 2010) Huỳnh Thị M2
(sinh năm 1922, chết năm 2004) là ông bà ngoại, ông nội của các nguyên
đơn.
Vợ chồng ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 09 người con: một
ông Đặng Tấn B3 (sinh năm 1944, chết năm 2016) vợ Phạm Thị B4
chết năm 2010 03 người con Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Đặng Tấn
T2; hai Đặng Thị N2 (sinh năm 1947, chết năm 2007) chồng Phan
Văn P3 chết năm 2004, 07 người con gồm: Phan Thị Hồng K, Phan C,
Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc B1, Phan Thị
Ngọc T1, Phan Minh T; ba Đặng Thị Đ1; bốn Đặng Thị Đ2; năm
Đặng Thị Ngọc Y; sáu Đặng Thị V; bảy ông Đặng Tấn H1; hai người
con chết lúc nhỏ là ông D5 và ông L7 không vợ con.
Ngoài ra, khi còn sống ông Đặng Văn S1 quan hệ tình cảm với bà
Thị Đ3. Ông S1 Đ3 không sống chung nhà, không tổ chức lễ cưới, không
đăng ký kết hôn. Ông S1 Đ3 sinh ra được 04 người con chung
Văn H5, Đặng Tấn M1, Thị Mỹ D1 và 01 người con đã chết từ nhỏ. Ngoài
ra, ông S1 và bà Đ3 không còn người con nào khác.
Đối với sự việc tranh chấp giữa các bên thì các ông không ý kiến gì,
không yêu cầu khởi kiện trong vụ án này. Các ông đề nghị Tòa án giải
quyết vụ án theo quy định pháp luật. Do bận công việc, nên các ông bà xin vắng
mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chủ tịch Ủy ban nhân dân
M trình bày:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân M đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy
định pháp luật. Do bận công việc, nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân M xin vắng
mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án tại các cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Văn phòng C3 trình bày:
Văn phòng C3 đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Do
bận công việc, nên Văn phòng C3 xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải
quyết vụ án tại các cấp.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Sở Nông nghiệp và Môi
trường tỉnh T do ông Bùi Thanh S người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh T đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo
quy định pháp luật.
13
Các đương scòn lại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt
không lý do.
Tại Bản án Dân sự thẩm số 05/2026/DS-ST ngày 21-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 4, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện vviệc chia di sản thừa kế căn nhà
trên thửa đất s191, tờ bản đồ số 4-1 (nay thửa 373), tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh).
2. Kng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phan
Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan Minh L, ông Phan C, Phan Thị
Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2 về việc:
2.1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340370, vào scấp GCN: CH 01627 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 573, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340369, vào scấp GCN: CH 01626 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 616, tờ bản đồ số 01, diện tích 733m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340372, vào scấp GCN: CH 01625 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 1324, tờ bản đồ số 01, diện tích 379m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc
tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.4. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340371, vào scấp GCN: CH 01623 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 568, tờ bản đồ s01, diện tích 2566m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất
tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.5. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340373, vào scấp GCN: CH 01624 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20/12/2011 đối với thửa đất
số 191, tờ bản đồ số 4-1, diện tích 2562m
2
, loại đất nông thôn, đất tại xã P,
huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.6. Hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất số DG 445279 số vào sổ cấp
GCN: CS 17627 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Đặng Tấn
D6 Bảo ngày 20/07/2022 đối với thửa đất số 373, diện tích 2568m
2
, tờ bản đồ số
18, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
14
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T, ông Đặng Tấn T2 về việc yêu
cầu hiệu di chúc, hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bị đơn
ông Đặng Tấn H1.
3.1. hiệu ½ bản di chúc của ông Đặng Văn S1 ngày 17/11/2006 do Ủy
ban nhân dân P, huyện B, tỉnh Long An (nay Ủy ban nhân dân M, tỉnh
Tây Ninh) chứng thực số 05, quyển số 01 ngày 27/11/2006 đối với phần di sản
của bà Huỳnh Th M2 chết để lại.
3.2. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Tấn H1,
Trần Thị Kim M với ông Đặng Tấn Duy B được công chứng số 5391, quyển
số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02/6/2022 tại Văn phòng C3 đối với thửa
đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (thửa mới 373, tờ bản đồ mới số 18), diện tích
2.568m
2
, đất tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây
Ninh).
4. Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T, ông Đặng Tấn T2 về việc
tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Đặng Tấn H1.
Xác định quyền sdụng đất thửa đất số 568, tờ bản đồ số 01 (nay thửa
68 tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính 2.495,2m
2
loại
đất lúa; thửa đất số 573, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện
tích theo trích lục bản đồ địa chính 751,3m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ bản
đồ số 01 (nay thửa 86, tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa
chính 746,4m
2
loại đất lúa; thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 28, tờ
bản đồ số 60), diện tích 437,5m
2
loại đất cây lâu năm; thửa đất số 191, tờ bản đồ
số 4-1 (nay là thửa 373, tờ bản đồ số 60), diện tích 2.568m
2
loại đất ở nông thôn,
đều tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây Ninh) di
sản thừa kế của ông Đặng Văn S1 và bà Huỳnh Thị M2.
Chia di sản thừa kế ½ quyền sử dụng đất của Huỳnh Thị M2 đối với
các thửa đất này theo pháp luật ½ quyền sử dụng đất của ông Đặng Văn S1
theo di chúc, cụ thể như sau:
5.1. Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị
Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T mỗi người
được hưởng số tiền 378.453.411 đồng.
Ông Đặng Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho Phan Thị Hồng K, ông
Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan
Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T mỗi người số tiền 378.453.411 đồng.
5.2. Ông Đặng Tấn T2 được hưởng 1.009.209.096 đồng.
15
Ông Đặng Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho ông Đặng Tấn T2 số tiền
1.009.209.096 đồng.
5.3. Xác định kỷ phần thừa kế của Phan Thị Ngọc B1 được hưởng
378.453.411 đồng.
Do trong vụ án này Phan Thị Ngọc B1 chưa yêu cầu khởi kiện nên
tạm giao cho ông Đặng Tấn H1 quản lý. B1 được quyền khởi kiện ông H1
đối với kỷ phần được nhận thành ván khác theo quy định pháp luật nếu
tranh chấp.
5.4. Xác định kỷ phần thừa kế của ông Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4
mỗi người được hưởng là 1.009.209.096 đồng.
Do trong vụ án này ông Đặng Tấn G, bà Đặng Thị Lan H4 chưa có yêu cầu
khởi kiện nên tạm giao cho ông Đặng Tấn H1 quản lý. Ông Đặng Tấn G,
Đặng Thị Lan H4 được quyền khởi kiện ông H1 đối với kỷ phần được nhận
thành vụ án khác theo quy định pháp luật nếu có tranh chấp.
5.5. Xác định kỷ phần thừa kế của Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng
Thị Ngọc Y, bà Đặng Thị V mỗi người được hưởng là 3.027.627.288 đồng.
Do trong vụ án này Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng Thị Ngọc Y,
Đặng Thị V chưa yêu cầu khởi kiện, nên tạm giao cho ông Đặng Tấn H1
quản lý. Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng Thị Ngọc Y, Đặng Thị V
được quyền khởi kiện ông H1 đối với kỷ phần được nhận thành vụ án khác theo
quy định pháp luật nếu có tranh chấp.
5.6. Ông Đặng Tấn H1 được tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng thửa
đất số 568, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 68 tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích
lục bản đồ địa chính 2.495,2m
2
loại đất lúa; thửa đất số 573, tbản đồ số 01
(nay thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính
751,3m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 86, tờ bản đồ
số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính 746,4m
2
loại đất lúa; thửa đất số
1324, tbản đồ số 01 (nay là thửa 28, tờ bản đồ số 60), diện tích 437,5m
2
loại
đất cây lâu năm; thửa đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (nay là thửa 373, tờ bản đồ số
60), diện tích 2.568m
2
loại đất nông thôn, tất cả tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh
Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh)
(Theo trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai
khu vực B duyệt ngày 12/8/2025 đối với thửa đất số 68, 73, 86, 28 trích lục
bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai tại huyện B duyệt
ngày 24/5/2022 đối với thửa đất số 373)
Ông Đặng Tấn H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền đăng làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
hưởng theo quy định của pháp luật về đất đai.
16
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp
các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của
Tòa án thì quyền yêu cầu quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi
hành án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 04-02-2026, ông Phan Minh T có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa Bản án
thẩm, tuyên hiệu toàn bộ Di chúc do ông Đặng Văn S1 lập ngày 17-11-
2006; chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bdi sản thừa kế của ông Đặng
Văn S1 Huỳnh Thị M2; yêu cầu định giá lại tài sản; yêu cầu giám định
chữ ký ông S1 trong di chúc.
Ngày 04-02-2026, ông Phan Minh T là người đại diện theo uỷ quyền của bà
Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông
Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2, đơn kháng cáo, yêu
cầu sửa Bản án sơ thẩm, tuyên vô hiệu toàn bộ Di chúc do ông Đặng Văn S1 lập
ngày 17-11-2006; chia thừa kế theo pháp luật đối với toàn bdi sản thừa kế của
ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2; yêu cầu định giá lại tài sản; yêu cầu
giám định chữ ký ông S1 trong di chúc.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Phan Minh T là người đại diện theo uỷ quyền
của các nguyên đơn và Vị Luật sư Trần Hồng P trình bày: Ông Phan Minh T, bà
Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông
Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2, thay đổi yêu cầu kháng
cáo từ sửa án sang yêu cầu hubản án thẩm, giao hồ về cấp thẩm giải
quyết lại vụ án; vì cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ chưa đầy đủ và có thiếu sót.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa kể tkhi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L,
Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2;
giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
17
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm t, xét kháng
cáo của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan C,
ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc
T1, ông Đặng Tấn T2, kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù
hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo từ yêu
cầu sửa Bản án thẩm sang yêu cầu hủy Bản án thẩm. Xét thấy việc thay
đổi yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu
theo quy định tại Điều 284 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Phan Minh T, bà Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2, nhận thấy:
2.1. Vng thừa kế: Các đương sự thống nhất ông Đặng Văn S1 (sinh
năm 1918, chết năm 2010) Huỳnh Thị M2 (sinh năm 1922, chết năm
2004). Ông S1 bà M2 09 người gồm: Một ông Đặng Tấn B3 (sinh năm
1944, chết năm 2016) vợ Phạm Thị B4 chết năm 2010 03 người con
Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4, Đặng Tấn T2; hai bà Đặng Thị N2 (sinh
năm 1947, chết năm 2007) chồng Phan Văn P3 chết năm 2004, 07
người con gồm: Phan Thị Hồng K, Phan Vũ C, Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D,
Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc B1, Phan Thị Ngọc T1, Phan Minh T; ba là
Đặng Thị Đ1; bốn là Đặng Thị Đ2; năm là Đặng Thị Ngọc Y; sáu là Đặng
Thị V; bảy ông Đặng Tấn H1; hai người con chết lúc nhỏ ông D5 ông
L7 không vợ con.
Ngoài ra, ông S1 với Thị Đ3 04 người con chung gồm: Văn
H5, Đặng Tấn M1, Lê Thị Mỹ D1 và 01 người con đã chết từ nhỏ. Ngoài ra, ông
S1, bà M2 và bà Đ3 không còn con nào khác.
Các đồng thừa kế, trong đó Đ3 đều xác định ông S1 Đ3 không
sống chung nhà, không tổ chức lễ cưới, không có đăng ký kết hôn. Căn cứ Nghị
quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông liên tịch
01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, cấp thẩm xác định quan hệ giữa
ông S1 và bà M2 hôn nhân thực tế. Riêng ông S1 với Đ3 không phải
quan hệ vợ chồng là có căn cứ.
2.2. Về tài sản tranh chấp:
+ Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế tài sản của ông Đặng Văn S1
Huỳnh Thị M2, chết để lại các tài sản gồm: Thửa đất số 191 (nay thửa
đất số 373), diện tích 2.568m
2
; thửa đất số 568, tờ bản đồ số 01 (nay thửa
68 tờ bản đồ số 06), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính 2.495,2m
2
loại
18
đất lúa; thửa đất số 573, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện
tích theo trích lục bản đồ địa chính 751,3m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ
bản đồ số 01 (nay là thửa 86, tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa
chính 746,4m
2
loại đất lúa; thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 28, tờ
bản đồ số 60), diện tích 437,5m
2
loại đất lúa; thửa đất số 191, tờ bản đồ số 4-1
(nay là thửa 373, tờ bản đồ số 60), diện tích 2.568m
2
loại đất ở nông thôn, tất cả
tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh).
+ Riêng đối với diện tích phần đất còn lại thuộc thửa đất số 616 (cũ)
diện tích 6.990m
2
(trừ đi phần diện tích đang tranh chấp 746,4m
2
), theo di
chúc để lại cho ông Đặng Tấn B3, bà Đặng Thị Đ2, bà Đặng Thị Y, bà Đặng Thị
V những người này đang quản lý, sử dụng; tại cấp thẩm các nguyên đơn
trình bày sẽ tự thoả thuận, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện bằng một vụ
án khác và chưa được cấp sơ thẩm giải quyết nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về tài sản trên đất: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa
thẩm, nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện về việc chia thừa kế căn
nhà trên thửa đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (nay thửa 373), diện tích 2.568m
2
loại đất nông thôn, tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An được cấp
thẩm đình chỉ phần yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp.
+ Theo Chứng thư thẩm định giá số 040/2025/3605.CNLA ngày 25-9-2025
của Công ty Cổ phần T17, giá trị các thửa đất như sau:
Thửa đất số 191, tbản đsố 4-1 (nay thửa 373, tbản đồ số 60), diện
tích 2.568m
2
x 18.744.000 đồng = 48.134.592.000 đồng.
Thửa đất số 568, tờ bản đồ 01 (nay là thửa 68, tờ bản đồ 60), diện tích theo
trích lục bản đồ địa chính là 2.495,2m
2
x 1.540.000 đồng = 3.842.608.000 đồng.
Thửa đất số 573, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện tích
theo trích lục bản đồ địa chính 751,3m
2
x 729.000 đồng = 547.697.700 đồng.
Thửa đất số 616, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 86, tờ bản đồ số 60), diện tích
theo trích lục bản đồ địa chính 746,4m
2
x 1.540.000 đồng = 1.149.456.000 đồng.
Thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 28, tờ bản đồ số 60), diện
tích 437,5m
2
x 1.881.000 đồng = 822.937.500 đồng.
Tổng giá trị các thửa đất là 54.497.291.200 đồng.
Như vậy, di sản thừa kế của ông Đặng Văn S1 và bà Huỳnh Thị M2 chết để
lại là 54.497.291.200 đồng/2 = 27.248.645.600 đồng.
Xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu hiệu di chúc,
hiệu hợp đồng tặng cho quyền sdụng đất, chia thừa kế quyền sử dụng đất
và hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.3. Về nguồn gốc đất: Các nguyên đơn trình bày nguồn gốc thửa đất số
568, diện tích 2.566m
2
; thửa đất số 573, diện tích 840m
2
; thửa đất số 616, diện
19
tích 6.990m
2
; thửa đất s1324, diện tích 800m
2
, cùng tờ bản đồ số 01, P,
huyện B, tỉnh Long An, nay M, tỉnh Tây Ninh; thửa đất số 191, diện tích
2.817m
2
, đất thổ cư, tờ bản đồ số 4-1, P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M,
tỉnh Tây Ninh nguồn gốc của ông Đặng Văn S1 Huỳnh Thị M2 tạo
lập từ trước năm 1975. Bị đơn ông H1 xác định nguồn gốc các thửa đất trên
của cha ông S1 cho ông S1 cách đây khoảng 85 năm; khi được tặng cho ông S1
chưa vợ; nhận thấy, ông S1 M2 chung sống với nhau trước năm 1975,
căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “”, cấp thẩm
xác định các thửa đất tranh chấp nêu trên tài sản chung của vợ chồng ông S1,
M2 là có căn cứ.
2.4. Xét tính hợp pháp của Di chúc” do ông Đặng Văn S1 lập ngày 27-11-
2006, di chúc được Ủy ban nhân dân P chứng thực số 05, quyển số 01 ngày
27-11-2006:
Theo hồ thể hiện, Huỳnh Thị M2 chết năm 2004, không để lại di
chúc. Đến ngày 27-11-2006 ông Đặng Văn S1 lập Di chúc” để lại quyền sử
dụng các thửa đất tranh chấp cho ông Đặng Tấn H1, di chúc được Ủy ban nhân
dân P chứng thực số 05, quyển số 01 ngày 27-11-2006; nhận thấy, bản “Di
chúc” này về hình thức nội dung di chúc đã thực hiện đúng với quy định tại
Điều 652, Điều 653, Điều 657 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Trong quá trình
giải quyết tại cấp thẩm nguyên đơn cho rằng chữ viết trong di chúc không
biết có phải là chữ viết của ông S1 hay không nên bị vô hiệu, nhưng không cung
cấp được chứng cứ chứng minh; do đó, cấp thẩm không chấp nhận lời trình
bày này của nguyên đơn căn cứ. Nguyên đơn cho rằng, di chúc lập ngày
17-11-2006 nhưng đến ngày 24-11-2006 mới giám định sức khỏe ông S1
ngày 27-11-2006 mới chứng thực, nhận thấy việc này không ảnh hưởng đến nội
dung di chúc cũng như không quy định bắt buộc phải chứng thực ngay thời
điểm lập di chúc; đồng thời, theo quy định tại Điều 635 BLDS 2025 thì “Người
lập di chúc thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc”, như vậy
việc công chứng, chứng thực di chúc không bắt buộc nếu người lập di chúc
đảm bảo điều kiện và minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, bị đe dọa, nội dung
di chúc không vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội... theo quy định tại khoản 1
Điều 630 BLDS. Ngoài ra, nội dung chứng thực của UBND thể hiện: ông S1
tự nguyện lập di chúc, ông S1 có năng lực hành vi dân sự. Ông S1 đã đọc lại bản
di chúc và tự nguyện ký tên vào văn bản di chúc tại Ủy ban nhân dân xã, di chúc
được lập thành 02 bản, người chứng thực di chúc đảm bo đúng quy định pháp
luật.
Tại phiên toà phúc thẩm nguyên đơn yêu cầu giám định di chúc, cho
rằng di chúc không phải do ông S1 viết, nhận thấy không quy định về việc
người lập di chúc phải tự mình viết di chúc, nên bản di chúc này đã thể hiện
đúng ý chí nguyện vọng của người lập di chúc theo Điều 624, Điều 625 của Bộ
luật Dân sự Bản di chúc này đã được Ủy ban nhân dân P chứng thực hợp
20
pháp; nên không cần thiết giám định di chúc. Đồng thời, Toà án cũng đã tạm
dừng phiên toà ấn định thời gian cho nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ
phục vụ việc trưng cầu giám định, nhưng nguyên đơn vẫn không cung cấp đầy
đủ tài liệu mẫu so sánh để phục vụ trưng cầu giám định theo yêu cầu của nguyên
đơn; cụ thể, ông Phan Minh T cung cấp Giấy khai sinh của Đặng Thị Đ1,
sinh năm 1956, giấy này được lập vào tháng 8 năm 1956 ông T cho rằng
Đ1, ông T xác nhận đây chữ viết của ông Đặng Văn S1, nhưng không cung
cấp được chứng cứ chứng minh Đ1 mới sinh nên không thể xác nhận đây
chữ viết ca ông S1; đồng thời, Giấy khai sinh này cũng không cùng thời
điểm với “Bản di chúc lập ngày 27-11-2006” cần giám định.
Căn cứ vào bản di chúc, cấp thẩm xác định đất tranh chấp là tài sản
chung của vợ chồng ông S1 M2, nên việc ông S1 tự ý lập di chúc định
đoạt toàn bộ tài sản trên không đúng. Do đó, tuyên di chúc bị hiệu ½ đối
với phần di sản của bà M2 chết để lại và được chia theo pháp luật là có cơ sở.
2.5. Xét về kỷ phần thừa kế:
Cấp thẩm phân chia di sản thừa kế của M2 theo pháp luật, cụ thể
được chia đều các đồng thừa kế của M2 gồm 07 người con của M2
chồng ông Đặng Văn S1 trích một phần công sức quản gìn giữ di sản
cho ông H1 tương ứng với 01 kỷ phần thừa kế mà bà M2 (1/8) để lại.
Hội đồng xét xử nhận thấy, các đương sự thống nhất khi M2 ông S1
đều sống chung với ông Đặng Tấn H1 đến khi chết. Ông H1 trực tiếp chăm sóc
ông S1, M2 và tổ chức tang lễ, xây dựng mồ mả cho thờ cúng ông S1,
M2. Theo nội dung Di chúc ngày 17/11/2006, chính ông Đặng Văn S1 cũng ghi
nhận mục đích giao đất để ông H1 thờ cúng ông bà, nuôi dưỡng ông S1 đến khi
chết. Những người con khác đều đã có nhà riêng, có công sức không đáng kể và
trực tiếp như ông H1. Toàn bộ tài sản do vợ chồng ông S1 để lại cũng do ông H1
trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định không ai tranh chấp ông H1 cũng đã được
cấp giấy chứng nhận QSDĐ từ năm 2011 đến nay là khoảng 15 năm. Do đó, khi
chia thừa kế cấp thẩm chỉ trích một kỷ phần công sức gìn giữ làm tăng giá di
sản cho ông H1 được hưởng chỉ tương ứng với 01 kỷ phần thừa kế rất thấp,
chưa tương xứng với công sức đóng góp, gìn giữ di sản của ông H1; các
đương sxác định, khi còn sống ông S1, M2 đã chia tài sản cho các con;
riêng ông H1 cùng, phụng dưỡng ông S1, M2 đến khi chết. Tuy nhiên, do
ông H1 không kháng cáo nên cấp phúc thẩm không xem xét; do đó không có căn
cứ chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn ông Phan Minh T, Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2.
2.6. Xét về cách chia thừa kế:
Các nguyên đơn yêu cầu được hưởng thừa kế bằng hiện vật quyền sử
dụng đất. Cấp thẩm xác định phần lớn đất thừa kế đất trồng lúa nên phải
21
đảm bảo diện tích tối thiểu nhu cầu sử dụng đất; nên không thể chia thừa kế
bằng hiện vật quyền sử dụng đất, không thể thực hiện được do không đảm
bảo điều kiện thi hành án, nên chia thừa kế cho c đồng thừa kế bằng gtrị
quyền sử dụng đất là phù hợp.
Tại cấp phúc thẩm, các nguyên đơn yêu cầu đo đạc, định giá lại tài sản
tranh chấp, thấy rằng: Trong suốt quá trình tố tụng tại cấp sơ thẩm, các đương sự
không ai thắc mắc, khiếu nại kết quả định giá cũng không cung cấp được
chứng cứ chứng minh kết quả định giá sai sót cần phải định giá lại; bị đơn
cũng không đồng ý đo đạc, định giá lại; nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn.
Từ những phân tích trên, nhận thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên
toà phù hợp nên cần chấp nhận; do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L,
Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn
T2; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sphúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông
Phan Minh T, Phan Thị Hồng K, ông Phan Vũ C, ông Phan Minh L, bà Phan
Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2 phải
chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Minh T, Phan Thị Hồng K,
ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ,
Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2.
Giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm s05/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 4, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 217, 227, 228, 244, 271, 273
của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 631, 633, 634, 635, 636, 645, 646, 647,
648, 649, 650, 652, 653, 657, 658, 674, 676, 685 Bộ luật Dân sự năm 2005; các
Điều 116, 117, 121, 122, 127, 427, 500, 501, 502, 609, 611, 612, 613, 623, 649,
650, 651 Bộ luật Dân snăm 2015; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; các Điều
12, 14, 26 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện vviệc chia di sản thừa kế căn nhà
trên thửa đất s191, tờ bản đồ số 4-1 (nay thửa 373), tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh).
22
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phan
Minh T, Phan ThHồng K, ông Phan Minh L, ông Phan C, Phan Thị
Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Đặng Tấn T2 về việc yêu
cầu:
2.1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340370, vào scấp GCN: CH 01627 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 573, tờ bản đồ số 01, diện tích 840m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.2. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340369, vào scấp GCN: CH 01626 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 616, tờ bản đồ số 01, diện tích 733m
2
, loại đất lúa, đất tọa lạc tại P, huyện
B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.3. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340372, vào sổ cấp GCN: CH 01625 do y ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 1324, tờ bản đồ số 01, diện tích 379m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc
tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.4. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340371, vào scấp GCN: CH 01623 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 568, tờ bản đồ s01, diện tích 2566m
2
, loại đất chuyên trồng lúa nước, đất
tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.5. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản
khác gắn liền với đất số BE 340373, vào scấp GCN: CH 01624 do Ủy ban
nhân dân huyện B cấp cho ông Đặng Tấn H1 ngày 20-12-2011 đối với thửa đất
số 191, tờ bản đồ số 4-1, diện tích 2562m
2
, loại đất nông thôn, đất tọa lạc tại
xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
2.6. Hủy giấy chứng nhận quyền sdụng đất số DG 445279 số vào sổ cấp
GCN: CS 17627 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh L cấp cho ông Đặng Tấn
D6 Bảo ngày 20-7-2022 đối với thửa đất số 373, diện tích 2568m
2
, tờ bản đồ số
18, đất tọa lạc tại xã P, huyện B, tỉnh Long An, nay là xã M, tỉnh Tây Ninh.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, bà Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T, ông Đặng Tấn T2 về việc yêu
cầu hiệu di chúc, hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với bị đơn
ông Đặng Tấn H1.
23
3.1. hiệu ½ bản di chúc của ông Đặng Văn S1 ngày 17-11-2006 do Ủy
ban nhân dân P, huyện B, tỉnh Long An (nay Ủy ban nhân dân M, tỉnh
Tây Ninh) chứng thực s05, quyển số 01 ngày 27-11-2006 đối với phần di sản
của bà Huỳnh Th M2 chết để lại.
3.2. Vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Đặng Tấn H1,
Trần Thị Kim M với ông Đặng Tấn Duy B được công chứng số 5391, quyển
số 02/2022 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 02-6-2022 tại Văn phòng C3 đối với thửa
đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (thửa mới 373, tờ bản đồ mới số 18), diện tích
2.568m
2
, đất tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An (nay M, tỉnh Tây
Ninh).
4. Chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Phan Thị
Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan
Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T, ông Đặng Tấn T2 vviệc
tranh chấp chia thừa kế quyn sử dụng đất đối với bị đơn ông Đặng Tấn H1.
Xác định quyền sdụng đất thửa đất số 568, tờ bản đồ số 01 (nay thửa
68 tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính 2.495,2m
2
loại
đất lúa; thửa đất số 573, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện
tích theo trích lục bản đồ địa chính 751,3m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ bản
đồ số 01 (nay thửa 86, tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa
chính 746,4m
2
loại đất lúa; thửa đất số 1324, tờ bản đồ số 01 (nay thửa 28, tờ
bản đồ số 60), diện tích 437,5m
2
loại đất cây lâu năm; thửa đất số 191, tờ bản đồ
số 4-1 (nay là thửa 373, tờ bản đồ số 60), diện tích 2.568m
2
loại đất ở nông thôn,
tất cả tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh) di
sản thừa kế của ông Đặng Văn S1 và bà Huỳnh Thị M2.
Chia di sản thừa kế ½ quyền sử dụng đất của Huỳnh Thị M2 đối với
các thửa đất này theo pháp luật ½ quyền sử dụng đất của ông Đặng Văn S1
theo di chúc, cụ thể như sau:
5.1. Phan Thị Hồng K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị
Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T mỗi người
được hưởng số tiền 378.453.411 đồng.
Ông Đặng Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho Phan Thị Hồng K, ông
Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, bà Phan
Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T mỗi người số tiền 378.453.411 đồng.
5.2. Ông Đặng Tấn T2 được hưởng 1.009.209.096 đồng.
Ông Đặng Tấn H1 nghĩa vụ thanh toán cho ông Đặng Tấn T2 số tiền
1.009.209.096 đồng.
5.3. Xác định kỷ phần thừa kế của Phan Thị Ngọc B1 được hưởng
378.453.411 đồng.
24
Do trong vụ án này bà Phan Thị Ngọc B1 chưa yêu cầu khởi kiện nên
tạm giao cho ông Đặng Tấn H1 quản lý. B1 được quyền khởi kiện ông H1
đối với kỷ phần được nhận trong vụ án khác theo quy định pháp luật nếu
tranh chấp.
5.4. Xác định kỷ phần thừa kế của ông Đặng Tấn G, Đặng Thị Lan H4
mỗi người được hưởng là 1.009.209.096 đồng.
Do trong vụ án này ông Đặng Tấn G, bà Đặng Thị Lan H4 chưa có yêu cầu
khởi kiện nên tạm giao cho ông Đặng Tấn H1 quản lý. Ông Đặng Tấn G,
Đặng Thị Lan H4 được quyền khởi kiện ông H1 đối với kỷ phần được nhận
trong vụ án khác theo quy định pháp luật nếu có tranh chấp.
5.5. Xác định kỷ phần thừa kế của Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng
Thị Ngọc Y, bà Đặng Thị V mỗi người được hưởng 3.027.627.288 đồng.
Do trong vụ án này Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng Thị Ngọc Y,
Đặng Thị V chưa yêu cầu khởi kiện, nên tạm giao cho ông Đặng Tấn H1
quản lý. Đặng Thị Đ1, Đặng Thị Đ2, Đặng Thị Ngọc Y, Đặng Thị V
được quyền khởi kiện ông H1 đối với kỷ phần được nhận trong vụ án khác theo
quy định pháp luật nếu có tranh chấp.
5.6. Ông Đặng Tấn H1 được tiếp tục quản lý, sử dụng quyền sử dụng thửa
đất số 568, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 68 tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích
lục bản đồ địa chính 2.495,2m
2
loại đất lúa; thửa đất số 573, tờ bản đồ số 01
(nay thửa 73, tờ bản đồ số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính
751,3m
2
, loại đất lúa; thửa đất số 616, tờ bản đồ số 01 (nay là thửa 86, tờ bản đồ
số 60), diện tích theo trích lục bản đồ địa chính 746,4m
2
loại đất lúa; thửa đất số
1324, tbản đồ số 01 (nay là thửa 28, tờ bản đồ số 60), diện tích 437,5m
2
loại
đất cây lâu năm; thửa đất số 191, tờ bản đồ số 4-1 (nay là thửa 373, tờ bản đồ số
60), diện tích 2.568m
2
loại đất nông thôn, tất cả tọa lạc tại P, huyện B, tỉnh
Long An (nay là xã M, tỉnh Tây Ninh)
(Theo trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai
khu vực B duyệt ngày 12-8-2025 đối với thửa đất số 68, 73, 86, 28 trích lục
bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng Đăng đất đai tại huyện B duyệt
ngày 24-5-2022 đối với thửa đất số 373)
Ông Đặng Tấn H1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền đăng làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
hưởng theo quy định của pháp luật về đất đai.
quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết
định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Các đương sự không được ngăn cản các bên thực hiện quyền của người
được xác lập quyền sử dụng đất theo bản án, quyết định của Tòa án. Trường hợp
25
các bên vi phạm việc sử dụng đất đã được xác định theo bản án, quyết định của
Tòa án thì quyền yêu cầu quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế thi
hành án.
6. Về chi phí đo đạc, định giá xem xét thẩm định tại chỗ, lệ phí thu tiền
cấp bản sao hồ sơ thửa đất tranh chấp với số tiền là 119.056.000 đồng. Các đồng
nguyên đơn là bà Phan Thị Hồng K, ông Phan Vũ C, ông Phan Minh L, bà Phan
Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T chịu ½
chi phí với stiền 59.528.000 đồng. Ông Đặng Tấn H1 phải chịu ½ chi phí với
số tiền 59.528.000 đồng. Các nguyên đơn nộp tạm ứng toàn bộ chi phí, nên buộc
ông Đặng Tấn H1 nghĩa vụ hoàn trả cho các nguyên đơn là bà Phan Thị Hồng
K, ông Phan C, ông Phan Minh L, Phan Thị Ngọc D, ông Phan Minh Đ,
Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T số tiền 59.528.000 đồng.
7. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực
pháp luật (đối với các trường hợp quan thi hành án quyền chủ động ra
quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người
được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)
cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên, hàng tháng bên phải thi
hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức
lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
8. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Phan Thị Hồng K, ông Phan Vũ C, ông Phan Minh L, bà Phan Thị Ngọc
D, ông Phan Minh Đ, Phan Thị Ngọc T1, ông Phan Minh T mỗi người phải
chịu 18.922.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Phan Minh L đã nộp
theo Biên lai thu số 0000185 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0000193 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân stỉnh Tây Ninh). Như vậy, ông Phan Minh L còn
phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Phan Minh T đã nộp
theo Biên lai thu số 0000182 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0000190 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân stỉnh Tây Ninh). Như vậy, ông Phan Minh T còn
phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí Phan Thị Hồng K đã nộp
theo Biên lai thu số 0000183 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo
biên lai thu số 0000191 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Như vậy, Phan Thị Hồng K
còn phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
26
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Phan C đã nộp theo
Biên lai thu số 0000184 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo biên lai
thu số 0000192 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An (nay
Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Như vậy, ông Phan C còn phải nộp
tiếp 7.542.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí Phan Thị Ngọc D đã nộp
theo Biên lai thu số 0000186 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0000194 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Như vậy, Phan Thị Ngọc D
còn phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông Phan Minh Đ đã nộp
theo Biên lai thu số 0000187 ngày 23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0000195 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Như vậy, ông Phan Minh Đ còn
phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
Khấu trừ 10.780.000 đồng tiền tạm ứng án phí Phan Thị Ngọc T1 đã
nộp theo Biên lai thu số 0000188 ngày 23-10-2024 và 600.000 đồng đã nộp theo
Biên lai thu số 0000196 ngày 23-10-2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long
An (nay Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Như vậy, Phan Thị Ngọc T1
còn phải nộp tiếp 7.542.670 đồng.
Ông Đặng Tấn T2 phải chịu 42.276.273 đồng. Khấu trừ 6.518.000 đồng
tiền tạm ứng án phí ông Đặng Tấn T2 đã nộp theo Biên lai thu số 0000189 ngày
23-10-2024 600.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000197 ngày 23-10-
2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Long An (nay Thi hành án dân stỉnh
Tây Ninh). Ông Đặng Tấn T2 còn phải nộp tiếp 35.158.273 đồng.
Ông Đặng Tấn H1 không phải chịu án phí.
9. Về án phí dân sự phúc thẩm:
9.1. Ông Phan Minh T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001740 ngày 04-
02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.2. Phan Thị Hồng K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được
trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001742 ngày
04-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.3. Ông Phan C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001741 ngày 04-
02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
27
9.4. Ông Phan Minh L phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001744 ngày 04-
02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.5. Phan Thị Ngọc D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được
trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001745 ngày
04-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.6. Ông Phan Minh Đ phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001746 ngày 04-
02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.7. Phan Thị Ngọc T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được
trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001748 ngày
04-02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
9.8. Ông Đặng Tấn T2 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng; được trừ
300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0001749 ngày 04-
02-2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
10. Các quyết định khác ca bản án thẩm không kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
11. V ng dn thi hành án: Trường hp bản án được thi hành theo quy
định ti Ðiu 2 ca Lut Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s,
ngưi phi thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu
thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy đnh
tại các Điu 6, 7 36 ca Lut Thi hành án; thi hiệu thi hành án được thc
hiện theo quy định ti Ðiu 34 ca Lut Thi hành án dân s năm 2025.
12. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC;
- VKSND tnh Tây Ninh;
- TAND Khu vc 4;
- Phòng THADS Khu vc 4;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Nguyn Quc Tun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 989/2026/DS-PT Bản án số 989/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 989/2026/DS-PT Bản án số 989/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất