Bản án số 210/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 210/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 210/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 210/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 210/2026/DS-PT
Ngày 31/7/2026
V/v Yêu cu công nhn di chúc hp
pháp; Yêu cu công nhn quyn s
dụng đất hp pháp.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Văn Hợp
Bà Bùi Thị Thu Hằng
Ông Phạm Anh Tuyết
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Ty - Tký Tòa án nhân dân thành
phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên
toà: Bà Đỗ Thu Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 31/7/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng t xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 50/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 4
năm 2026 v việc Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp; Yêu cầu công nhận
hiệu lực của hợp đồng tặng cho hợp pháp”.
Do Bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09 tháng 2 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 131/2026/QĐ-PT ngày
04 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
+ Bà Ngô Phương T, sinh ngày 31/10/1962; số CCCD: ************; địa
chỉ: Số A P, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
+ Ngô Thị T1, sinh 24/8/1964; số CCCD: ************; địa chỉ: Số
A N, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
2
- Bị đơn:
+ Ngô Thị L, sinh năm 1959; số CCCD: ************; địa chỉ: Số F
C, phường H, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
+ Anh Trịnh Việt H, sinh năm 1992; số CCCD: ************; địa chỉ: Số
F ngõ B N, phường P, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Văn phòng đăng đất thành phố Hải Phòng: Trụ sở: Số B L, phường
N, Thành phố Hải Phòng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Thanh H1
Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Quốc M, Chức vụ: Giám
đốc Văn phòng Đ3 chi nhánh H7. Vắng mặt.
+ Văn phòng C thành phố Hải Phòng; trụ sở: Số I B, phường H, thành phố
Hải Phòng: Người đại diện theo quy định của pháp luật ông Hoàng Nam P - Chức
vụ: Trưởng phòng. Vắng mặt.
+ Văn phòng C1; Trụ sở: Số B T, phường H, thành phố Hải Phòng. Người
đại diện hợp pháp: Ông Bùi Văn H2 Chức vụ: Trưởng phòng. Vắng mặt
+ Ngô Thị B, sinh năm 1955; địa chỉ: Số E chùa B, phường K, thành
phố Hà Nội. Có mặt.
+ NThị H3, sinh năm 1957; địa chỉ: Số G D đất làng nghề V, phường
H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Ông Ngô Đ, sinh năm 1969; Địa chỉ: Số C ngõ G H, phường K, Thành
phố Hà Nội. Có mặt.
+ Anh Hải D, sinh năm 1980; địa chỉ: Số nhà E Chùa B, phường K,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Quang M1, sinh năm 1982; địa chỉ: C, tòa P, KĐT vinhomes,
Timescity ParkHill, số B ngõ A, đường L, phường V, Thành phố Nội. Vắng
mặt.
+ Anh Đào T2, sinh năm 1984; địa chỉ: Số A M đất làng N, phường H,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Đào Khánh H4, sinh năm 1988; địa chỉ: Số G D đất làng nghề V,
phường H, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Trịnh Ngọc T3, sinh năm 1987; địa chỉ: Số G ngõ B N, phường P,
3
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1985; địa chỉ: Nhà B,D, sE ngõ A V,
phường K, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Việt T4, sinh năm 1991; địa chỉ: Số A N, phường P, Thành
phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Phạm Minh H5, sinh năm 1989; địa chỉ: Số A ngõ H, phường V, tỉnh
Lào Cai. Vắng mặt.
+ Anh A, sinh năm 1992; địa chỉ: Số P, tòa A, chung T, B M, phường
T, Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
+ Anh Duy L1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số A N, phường H, thành phố
Hải Phòng. Vắng mặt.
+ Anh Ngô Xuân Q, sinh năm 1995; Nơi hiện tại: W, 99089 E - Cộng
Hòa Liên Bang Đ. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Ngô Xuân Q: Ông Ngô Đ, sinh
năm 1969; Địa ch: Số C ngõ G H, phường K, Thành phố Hà Nội. Có mặt
+ Anh Ngô K, sinh năm 2003; địa chỉ: Số C ngõ G phố H, phường P,
Thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
Do có kháng cáo của:
Bị đơn là bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kin, bn t khai, biên bn ly li khai ti phiên tòa
thm
1. Nguyên đơn bà Ngô Phương T và bà Ngô Thị T1 trình bày:
B m đẻ ca hai bà c Ngô Bá Đ1 sinh năm 1925, chết năm 2007 và c
Nguyn Th L2 sinh năm 1923, chết năm 2009.
C Đ1 và c L2 có 06 người con đẻ gm: Bà Ngô Th B, bà Ngô Th H3,
Ngô Th L, Ngô Phương T, bà Ngô Th T1 ông Ngô Đ. Ngoài nhng
ngưi con chung trên, b m đ ca hai không con nuôi, con riêng nào khác.
C Đ1 c L2 ch s dng, s hu hp pháp din tích 158,3 m
2
trong
đó có 120m
2
đất và 38,3 m
2
đất trồng cây lâu năm, ti thửa đất s 77, t bản đồ
s 15 ti s B Đ, phường L, thành ph H (nay là phường L, thành ph Hi Phòng)
đã được UBND thành ph H, tnh Hải Dương cấp giy chng nhn quyn s dng
đất mang tên Nguyn Th L2, ông Ngô Bá Đ1.
4
Ngày 09/6/2005, c Đ1, c L2 thc hin vic lp di chúc có chng thc (S
công chng 108, quyn s 12/TP/CC-SCC/HĐGD ti phòng C2 tnh Hải Dương).
Ni dung của di chúc Chúng tôi ch s hu ngôi nhà kèm theo quyn s
dụng đất ti s B Đ, phường L, thành ph H, có giy chng nhn quyn s dng
tm thời nhà đất s 246/NĐ-XD do UBND th xã H cp ngày 11/7/1987.
Sau khi chúng tôi chết thì con trai chúng tôi Ngô Bá Đ, sinh ngày
14/1/1969 được hưởng toàn b ngôi nhà với điều kin anh Đ ch đưc dùng ngôi
nhà này để .
Nếu anh Ngô Bá Đ không thì ông Đ toàn quyền định đoạt ngôi nhà này
và anh Đ được ng 70% giá tr nhà đất,
Ch Ngô Th T5T1 mỗi người được hưởng 10% giá tr nhà đt, 10% giá
tr nhà đất còn li s chia đều cho tt c các cháu ni, ngoại…..
Sau khi 02 c chết thì ông Ngô Bá Đ đã làm thủ tc nhn tài sn tha kế nhà
đất sang tên cho ông Đ. Ngày 27/4/2021, UBND thành ph H, tnh Hi Dương
đã cấp giy chng nhn quyn s dụng đất, quyn s hu nhà tài sn khác
gn lin vi đất cho ông Ngô Bá Đ thửa đất s 77, t bản đồ s 15; địa ch: S B
Đ, phường L, thành ph H din tích 158,3m
2
, trong đó có 120m
2
đất và 38,3m
2
đất TCLN.
Do ông Đ trên Ni mun gi thửa đất để làm nơi th cúng không mun
chuyển nhượng ra cho ngưi ngoài nên ngày 15/7/2023 ông Đ đã làm thủ tc tng
cho Ngô Phương T, Ngô Th T1 thửa đất trên tài sản trên đất. Ngày
09/8/2023, bà T, bà T1 đưc UBND thành ph H cp giy chng nhn quyn s
dụng đất đối vi thửa đất. Khi ông Đ tng cho bà T1, T thì ngôi nhà và đt tr
giá 3.950.000.000 đồng, ông Đ đã chia cho các cháu ni, ngoi mi cháu
30.384.616 đồng nhưng anh H, anh T3 không nhn tin ca ông Đ chia theo di
chúc ca 02 c. Khi hai bà qun lý, s dng thửa đất và mun chuyển đổi 38,3m
2
đất trồng cây sang đất thì anh H đơn từ gây khó khăn cho các bà.
T1, bà T khi kin yêu cu Tòa án gii quyết:
- Đề ngh Tòa án công nhn di chúc ca c Ngô Bá Đ1 và c Nguyn Th L2
lp ngày 09/6/2005 ti phòng C2 tnh Hải Dương là hp pháp.
- Đề ngh Tòa án xác nhn bà Ngô Phương T, Ngô Th T1 người
quyn s dng hp pháp din tích 158,3m
2
, trong đó 120m
2
đất 38,3m
2
đất TCLN, thửa đất s 77 t bản đồ s 15 và các tài sản trên đất ; địa ch: S B Đ,
phưng L, thành ph Hi Phòng.
5
2. B đơn bà Ngô Th L trình bày: nht trí vi phn trình bày ca bà T,
T1 v hàng tha kế, năm sinh năm chết, di sn ca c Đ1c L2. Trước đây bà
không biết b mlp di chúc nhưng đến khi Tòa án thông báo thì mi biết
vic b m lập di chúc đ li di sn tha kế đất tài sản trên đất cho ông
Đ. Ti thời điểm lp di chúc c Đ1 và c L2 đã già yếu, không còn minh mn. C
Đ1 không đi lại được nên không có vic c Đ1 đến phòng công chứng để chng
thc di chúc. Tuy nhiên ti h sơ chng thc di chúc ca hai c ghi ti Phòng C2
Hải Dương là không đúng. Bà cũng thừa nhận trước đây bà có nghe các cụi vì
ông Đcon trai duy nht nên s tng cho diện tích đất ca hai c cho ông Đ. Tuy
nhiên, khi hai c ốm đau, T, T1 không chăm sóc nên không có vic hai c
di chúc cho T, T1. Do đó, ông Đức T6 cho diện tích đt và tài sản trên đt
ca c Đ1, c L2 để li cho bà T1, bà T thì bà không đồng ý.
Bà đ ngh Tòa án xem xét li tính hp pháp ca di chúc hai c Ngô Bá Đ1
c Nguyn Th L2 theo quy định ca pháp lut. Ông Đức T6 cho T, bà T1
diện tích đất và tài sn trên đt ca hai c bà không đồng ý.
- B đơn anh Trnh Vit H trình bày: Anh cháu ngoi ca c Đ1, c L2,
anh nht trí vi phn trình bày ca T, bà T1 v hàng tha kế, năm sinh năm
chết ca c Đ1 c L2. Anh đưc biết trước khi chết 02 c lập di chúc đ
định đoạt phn tài sn ca 02 c thửa đất A, t bản đồ 01 din tích 120m
2
và tài
sản trên đt ti s B Đ, phường L, thành ph H (nay là phường L, thành ph Hi
Phòng) được công chng ti Phòng C2 Hải Dương. Anh không biết vic di sn
tha kế diện tích đất trên đã mang tên ông Đ. Anh cho rng mc dù ông Đ đã
đưc cp giy chng nhn tuy nhiên ngun gc tài sn ca các c ngoi nên
ông Đ không có quyền định đoạt di sn tha kế.
Anh xác định di chúc hai c để li là không hp pháp, thời điểm m công
chng di chúc c Đ1 yếu không th ti Phòng C2 Hải Dương. Tuy nhiên bn
di chúc tại ghi địa điểm lp di chúc ti phòng C2 Hải Dương không đúng
lut công chng. Vic thc hin công chng ngoài tr s là không đúng nên đề
ngh Tòa án tuyên di chúc vô hiu.
Trên giy chng nhn quyn s dụng đt cho ông Đ ch mt mình tên ông
Đ; Giy chng nhn quyn s dụng đất cp ln 2 thì cp cho T, T1, ni dung
trên trang 1 giy chng nhận đt bà T người đại din cho nhng người cùng s
hu nhà, tài sn khác gn lin với đất T, T1. Tuy nhiên bn di chúc xác
định 13 cháu ni, ngoại trong đó anh được hưởng 10% giá tr di sn tha kế,
do đó trong giấy chng nhận đất ln 2 phải có tên anh vì anh được quyền hưởng
tha kế. Đi vi s tiền 30.384.616 đồng là gtr 1 sut tha kế, anh không đồng
6
ý nhn bng tin và yêu cu nhn bng hin vật. Anh đ ngh Tòa án tuyên b di
chúc ca hai c Ngô Đ1 c Nguyn Th L2 lp ti Phòng C2 ngày
09/6/2005, s công chng 108, quyn s 12/TP/CC-SCC/HĐGD hiệu; Hy
Giy chng nhn quyn s dng đất, s hu nhà tài sn gn lin với đất cp
cho ông Ngô Đ; hy Giy chng nhn quyn s dụng đất, s hu nhà tài
sn gn lin với đất cp cho bà Ngô Th T1, bà Ngô Th T5.
- Ngưi bo v quyn li ích hp pháp ca L trình bày: H công
chng di chúc ngày 09/6/2005 ca 2 c Ngô Bá Đ1 và Nguyn Th L2 có nhng
vi phm c th: Giy chng nhn tm thi s dụng nhà đất (ch th hin v đất
không có nhà) tên c Ngô Bá Đ1 phô tô; Chng minh nhân dân ca c Đ1 và c
L2 phô tô. Ngoài ra không còn tài liệu nào khác. Như vậy, trong thành phn h
không phiếu yêu cu công chng c Đ1, c L2 di chúc nhà cho con trai
nhưng không tài liệu xác lp quyn s hu tài sản trên đt ca c Đ1 và c L2,
không có Phiếu yêu cu công chng ca 2 c Đạo L3. Tình trng sc kho ca 2
c Đạo L3 không tốt, chưa có căn cứ để xác định 2 c trc tiếp liên h vi Phòng
C2. Địa điểm công chng di chúc ca 2 c Đạo L3 không phi ti tr s Phòng
C2 tnh Hải Dương như di chúc do công chứng viên son tho li chng ca
công chng viên. Nếu địa điểm công chng ti Phòng công chng tht thì khi
thc hin công chng không mt 2 c Đạo L3 2 c không th mt ti
Phòng Công chng. C L3 không biết chữ, phù hợp với di chúc có dấu điểm chỉ
ngón tay bên dưới ghi “ngón trỏ phải của bà L3”. Quá trình công chứng di chúc,
công chứng viên không chỉ định người làm chứng cho cụ L3 là vi phạm quy định.
Trong bản di chúc không hề ghi tình trạng sức khoẻ 2 cụ thể hiện 2 cụ Đạo L3
là người hoàn toàn bình thường. Tại di chúc ghi: “Bản di chúc này chúng tôi lập
thành 3 bản, giao cho chị Ngô Thị B (chị cả) giữ 2 bản đồng thời chị B trách
nhiệm công bố di chúc”. Tuy nhiên, Ngô Thị B đã không thực hiện đúng quy
định tại Điều 675 BLDS 1995 hoặc Điều 672 BLDS 2005 về nội dung. Nội dung
di chúc không phù hợp với tài liệu và hai cụ Đạo L3 không định đoạt toàn bộ tài
sản của 2 cụ trong di chúc: Hai cụ Đ1L3 xác định là chủ sở hữu, sử dụng nhà
và đất tại B Đ nhưng không rõ tình trạng nhà như thế nào? theo giấy chứng nhận
quyền sdụng tạm thời trong hồ công chứng xác định diện tích đất là 120m
2
đất công, trong giấy này không đề cập đến nhà, tài sản trên đất, ngoài ra không
còn tài liệu nào khác. Điều này cho thấy nội dung di chúc của 2 cụ Đ1 Lộm định
đoạt vnhà là không có căn cứ vì không có tài liệu, giấy tờ nào liên quan đến nhà
như nêu tại trên. Công chứng viên khẳng định di chúc này được lập tại phòng
công chứng như công chứng viên soạn thảo lời chứng của công chứng tcông
chứng viên không thể biết trên đất nthật hay không. Không có nội dung nào
7
của di chúc trao cho ông Đ quyền định đoạt đối với quyền sử dụng đất. Điều này
phải xác định diện tích đất 120m
2
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng tạm thời
nhà đất chưa được 2 cụ Đạo L3 định đoạt trong di chúc. Do vậy, khi định đoạt
quyền sử dụng đất phải thực hiện theo quy định của pháp luật, đó sự tham gia
của tất cả những người thừa kế hàng thừa kế thứ nhất của 2 cụ Đạo L3. H
cp Giy chng nhn quyn s dụng đất ca ông Ngô Bá Đ, Ngô Phương T
Ngô Th T1, trong các tài liu Giy chng nhn quyn s dụng đất s AH
611190 ngày 15/01/2007, s vào s cp Giy chng nhn quyn s dụng đất s
H01125 do UBND thành ph H cp cho c Nguyn Th L2 c Ngô Đ1. Ni
dung Giy chng nhn quyn s dụng đất này xác định 2 c đưc s dng tha
đất s 77, t bản đồ 15, din tích 158,3m
2
trong đó có 120m
2
đất và 38,3m
2
đất
trồng cây lâu năm; Tài sn gn lin với đất nhà tông ct thép 2 tng, din
tích xây dng 67m
2
. Đến thời điểm hiện nay các đương sự trong v án đều khng
định, ngoài bn di chúc ngày 09/6/2005, 2 c Ngô Đ1 Nguyn Th L2 không
sửa đổi b sung di chúc, không lp thêm bản di chúc nào khác. Như vy, Giy
chng nhn quyn s dụng đt, s hu nhà và tài sn khác gn lin với đất s AH
611190 ngày 15/01/2007 xác đnh tình trạng nhà đất đã thay đi, biến đng so vi
giy chng nhn quyn s dng tm thi s 246/NĐ-XD nhưng di chúc của 2 c
không thay đổi nên ông Đ không th khai nhn toàn b nhà đất được xác lp ti
Giy chng nhn quyn s dụng đất s AH 611190. Như vậy, phải xác định ông
Đ khai nhn công chng viên chng nhn quyn s dụng đất tài sn gn lin
với đất cho ông Đ không phù hp vi di sản nêu trong di chúc nên văn bn này vi
phm pháp lut, không có giá tr pháp lý và văn bản khai nhn này không phi là
căn cứ đ UBND thành ph H cp Giy chng nhn quyn s dụng đt, s hu
nhà tài sn gn lin với đất cho ông Đ. Do đó vic ông Đức T6 cho 2 Ngô
Th T1 và Ngô Th T5 toàn b nhà đất là không hp pháp.
3. Người có quyn li nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Văn phòng đăng đất đai thành phố Đ3 người đại din theo y quyn
ông Nguyn Quc M trình bày: Ông Ngô Đ nhn tha kế quyn s dụng đất
và quyn s hu nhà ca ông Ngô Bá Đ1 và bà Nguyn Th L2 tại địa ch B Đ,
phưng L, thành ph H, tnh Hải Dương (nay B Đ, phường L, thành ph Hi
Phòng) đã được UBND thành ph H cp Giy chng nhn s phát hành DA
964417, s vào s CH00096 ngày 27/4/2021 thc hiện theo đúng trình tự thc
hin ti Quyết định s 52/2020/QĐ-UBND ngày 22/10/2020 ca Ch tch UBND
tnh H v việc Ban hành Quy đnh c th quan tiếp nhn, gii quyết th tc;
thời gian, các bước thc hin th tc và thc hiện đồng thi mt s th tc hành
chính v đất trên đa bàn tnh Hải Dương.
8
Ngô Phương T Ngô Th T1 nhn tha kế quyn s dụng đt
quyn s hu nhà ca ông Ngô Đ tại đa ch B Đ, phường L, thành ph H,
tnh Hải Dương (nay B Đ, phường L, thành ph Hi Phòng) đã được Văn phòng
đăng đất đai tỉnh Đ3 (nay Văn phòng đăng đất đai thành ph Đ3) cp
Giy chng nhn có s phát hành DI 508885, s vào s VP00448 ngày 09/8/2023
thc hiện theo đúng trình tự thc hin th tc hành chính ban hành ti Quyết đnh
s 1520/QĐ-UBND ngày 01/06/2022 ca Ch tch UBND tnh H v vic công b
danh mc th tc hành chính phê duyt quy trình ni b gii quyết th tc hành
chính lĩnh vực đất đai thuộc phm vi, chức năng quản lý ca S T12.
- Phòng C2 thành phố Hải Phòng do ông Hoàng Nam P người đại diện
theo pháp luật trình bày: Hồ sơ Di chúc số công chứng 108, quyển số 12/TP/CC-
SCC/HĐGD đối chiếu với quy định của pháp luật, di chúc được công chứng theo
đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
- Văn phòng C1 do ông Bùi Văn H2 người đại diện theo pháp luật trình
bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền shữu tài sản giữa ông Ngô
Đ cho bà Ngô Phương T, Ngô Thị T1 scông chứng 1598 được công chứng
theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật.
- Ông Ngô Đ trình bày: Thng nht v hàng tha kế, di sn tha kế ca
c Đ1, c L2 cũng hoàn toàn nhất trí phn trình bày của nguyên đơn, không nht
trí yêu cu ca b đơn.
Trước khi chết, c Đ1 và c L2 có lập di chúc đối vi di sn ca hai c ti
phòng C2 tnh Hi Dương ngày 09/6/2015.
Sau khi hai c chết, ông đã làm thủ tc nhn tài sn tha kế nvà đất, Ngày
27/4/2021, UBND thành ph H, tnh Hải Dương đã cp giy chng nhn quyn
s dụng đất, quyn s hu nhà và tài sn khác gn lin với đt cho ông thửa đt
s 77, t bản đ s 15; đa ch: S B Đ, phường L, thành ph H din tích 158,3m
2
,
trong đó có 120m
2
đất 38,3m
2
đất TCLN.
Do ông công tác Ni xa nhà nên ông nh T, T1 sinh sng
Hải Dương (nay Hải Phòng) qun giúp. Ông mong mun ngôi nhà tha
đất trên để li cho các ch trong gia đình quản lý, sau này ông v hưu có điu kin
ông v , nên ông không mun chuyn nợng cho người ngoài. Ngày 15/7/2023
ông đã làm thủ tc tng thửa đất s 77, t bản đồ s 15; địa ch: S B Đ, phường
L, thành ph H tài sản trên đất cho Ngô Phương T, bà Ngô Th T1. Ngày
09/8/2023 T, T1 đưc UBND thành ph H cp giy chng nhn quyn s
dụng đất đối vi thửa đất trên. Khi làm th tc tng cho 02 bà thì ti thời điểm đó
9
diện tích đất b quy hoch 34m
2
. Căn cứ vào tr giá đất và tài sản trên đất ti thi
đim tặng cho 2 bà là 3.950.000.000 đng. Theo di chúc hai c để li thì nếu ông
thì được hưởng toàn b nhà đất tức được hưởng 100% tương đương =
3.950.000.000 đồng. Do ông không thì được hưởng 70% = 2.765.000.000 đồng,
T, T1 ởng 790.000.000 đồng, khi ông đưa tiền thì hai đu t chi
không nhận để lại cho ông hưởng để lo công việc gia đình thờ cúng t tiên, còn
li ông chia cho 13 cháu ni, ngoi mỗi cháu được hưởng 30.384.616 đồng. Ông
đã gọi đin 02 ln cho cháu H bảo đưa tài khoản để ông chuyn khoản nhưng cháu
H không nhn, cháu H làm đơn gửi các quan chức năng gây mất trt t gia đình
ông.
- Bà Ngô Th B trình bày: Thng nht v hàng tha kế, di sn tha kế ca c
Đ1, c L2 cũng hoàn toàn nhất trí phn trình bày ca nguyên đơn, không nhất trí
yêu cu ca b đơn.
- Ngô Th H3 trình bày: Thng nht v hàng tha kế, di sn tha kế ca
c Đ1, c L2 hoàn toàn nht trí phn trình bày của nguyên đơn. 02 con
Đào T2, Đào Khánh H4 nhưng do 02 anh bn không th v làm việc được
quan điểm đã chuyn tin ca ông Đ nên không có ý kiến gì khác.
- Anh Ngô Xuân Q anh Ngô K trình bày: Các anh con ca ông Đ.
Các anh đã được nhn s tiền đủ s tin do ông Đ đưa cho mỗi người 30.384.616
đồng. Nếu tr giá tài sn ca ông ngoại cao hơn thì các anh cũng tự nguyn không
yêu cu gì v giá tr di sn.
- Anh Nguyn Vit T4 và anh Nguyễn Đức V trình bày: Các anh là con ca
T mỗi người đã được nhn s tiền 30.384.616 đng t ông Đ bng hình thc
chuyn khon. Nếu tr giá tài sn ca ông ngoại cao hơn nữa các anh cũng t
nguyn không yêu cu gì v giá tr di sn.
- Anh Vũ Duy L1, anh A, anh Phm Minh H5 trình bày: Các anh là con
ca bà T1. Mỗi người đã được nhn s tiền 30.384.616 đồng t ông Đ bng hình
thc chuyn khon. Nếu tr giá tài sn ca ông nội cao hơn nữa thì các anh cũng
t nguyn không yêu cu gì v giá tr di sn.
- Anh Hà Quang M1, anh Hà Hi D trình bày: Các anh là con ca bà B. Các
anh mỗi người đã được nhn s tiền 30.384.616 đồng t ông Đ bng hình thc
chuyn khon. Nếu tr giá tài sn ca ông ngoại cao hơn nữa thì các anh cũng t
nguyn không yêu cu gì v giá tr di sn.
3. Người làm chng trình bày:
10
- Ông Phạm Văn V1 trình bày: Ông công chng viên Phòng C2 tnh Hi
Dương, là người trc tiếp chng nhn bn di chúc ngày 09/6/2005 ca c Ngô
Đ1c Nguyn Th L2. Ông xác đnh ti thời điểm chng nhn bn di chúc c
Đ1, c L2 có đủ năng lực hành vi dân s, phù hp với quy đnh ca pháp lut, c
hai c đã nghe ông đọc li toàn b ni dung của di chúc đã đng ý vi ni dung
ca di chúc, c Đ1 đã kýghi rõ ni htên, còn c L2 đã điểm ch vào bn
di chúc trước mt ông.
- Th T7 trình bày: là hàng xóm ca c Đ1, c L2. C Đ1 b ngã
thời gian đã lâu đưc con cái ca c đưa đi bnh viện đóng đinh, đi li khó
khăn, cụ Đ1 lúc nói chuyn lúc nh lúc quên, không phi b ln, còn c L2 sc
khe tốt hơn cụ Đ1.
- Ông Phm Hu H6 trình bày: Ông hàng xóm ca hai c. C Đ1 b n
gãy xương đùi phải đóng đinh ngã thời gian nào ông cũng không nh, c L2 vn
đi lại bình thường. Còn thời điểm năm 2005 hai cụminh mẫn không, ông cũng
không biết.
- Bà Nguyn Th B1 trình bày: Bà là v ông Lê Quang D1, ông D1 làm cùng
vi ông Đ1, năm 2005 ông Đ1 đã nghỉ hưu, lúc đó khong 80 tui. V chng ông
bà thường hay sang chơi với ông Đ1, thời điểm đó ông Đ1 sc khe yếu, lúc nh
lúc quên, không còn minh mn, còn L2 sc khỏe như thế nào cũng không
biết.
- Bà Ngô Th T8 trình bày: Thời điểm m 2005, cụ Đ1 đã 80 tuổi, sc khe
yếu, y nên đến nhà chăm sóc điu tr cho c hàng ngày, c L2 thời điểm
đó sức khỏe bình thường.
- Ông Phạm Văn T9 trình bày: Ông em h ca L2, khoảng năm 2003
đầu năm 2004, ông Đ1 b ngã gãy xương đùi phải đóng đinh, thời điểm đó sức
khe ca ông Đ1, bà L2 yếu, gim trí nh, không còn minh mn, bà L2 không biết
ch.
- Phm Th Bích P1 trình bày: làm cùng trưởng Nguyn Ái Q1 phân
hiu 1 Hải Dương với c Ngô Đ1. Khong cuối năm 2003 đầu năm 2004, cụ
Đ1 b ngã gy c xương đùi do cụ đi mua bánh mì. thi thoảng vn xuống thăm
c còn c có minh mn hay không thì bà không biết được.
Kết quả thẩm định tại chỗ: Hiện trạng thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ:
Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng: Cạnh phía Bắc giáp hành lang đường N
dài 5,9m; cạnh phía Tây giáp thửa 88 dài 7,28m + 6,88m + 0,16m+
9,12m+6,13m+ 1,16m; cạnh phía Nam giáp đường Đ là 6m; cạnh phía đông giáp
11
ngõ đi 7,16 m + 5,27 m + 6,6m +6 ,89m. Tổng diện tích hiện trạng 158,3m
2
.
Các tài sản trên đất gồm: 01 nhà xây 02 tầng năm 1987 diện tích xây dững
38,9m
2
; 01 nhà mái bằng xây năm 1987 diện tích 66,2m
2
, 01 cây nhãn đường
kính gốc 0,3m, tán 5m.
Kết qu định giá tài sn: Giá đất 65.000.000 đ/m
2
, đt trng cây lâu
năm 95.000 đng/m
2
; nhà mái bng xây 2 tng tr giá 96.260.400 đồng, nhà mái
bng tr giá 45.704.500 đồng; 01 cây nhãn tr giá 2.000.000 đồng.
Vi ni dung nêu trên tại Bản án dân sự thẩm số 42/2025/DS-ST ngày
30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 10 Hải Phòng, thành phố
Hải Phòng xử:
Căn cứ Điều 649, khoản 4 Điều 650, các điều 657, 658, 733, 734 của BLDS
năm 2005; các điều 502, 503, 627, 628 BLDS năm 2015; khoản 1 Điều 106 Luật
đất đai năm 2003; các điều 26, 35, 39, 147, 165; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố
tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy
định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ phí Toà
án.
1. Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1
- Tuyên bố bản di chúc của cụ Ngô Đ1, cụ Nguyễn Thị L2 lập ngày
09/6/2005 tại phòng C2 tỉnh Hải Dương hợp pháp. Ông Ngô Bá Đ được hưởng
thừa kế theo di chúc của cụ Ngô Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2 là diện tích đất
158,3m2 (trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2 đất trồng cây lâu năm tại thửa đất
số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tài sản trên đất giữa ông Ngô
Đ Ngô Phương T10 được lập ngày 15/7/2023 hiệu lực pháp luật kể từ
thời điểm đăng (ngày 09/8/2023). Ngô Phương T Ngô Thị T1 người
quyền sử dụng hợp pháp diện tích 158,3m2, trong đó 120m2 đất 38,3m2
đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 77 tờ bản đs15 và các tài sản trên đất; địa
chỉ: Số B Đ, phường L, thành phố Hải Phòng.
2. Xử buộc ông Ngô Đ phải trả cho anh Trịnh Việt H, sinh năm 1992;
địa chỉ: Số F ngõ B N, phường P, Thành phố Nội; anh Trịnh Việt T11, sinh
năm 1985; địa chỉ: SG ngõ B N, phường P, thành phố Hà Nội mỗi người số tiền
là 61.135.410 đồng;
12
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự
các vấn đề khác.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn là bà Ngô Thị L và anh Trịnh Việt H kháng
cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 Hải Phòng, thành ph Hi Phòng đề nghị Toà án phúc thm: Sa
Bản án thẩm; không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn; tuyên bố Di
chúc ca hai c Đ1, L2 lp ti phòng C2 ngày 09/6/2005, s công chng 108,
quyn s 12 TP/CC-SCC/HĐGD vô hiệu tuyên hu giy chng nhn quyn s
dụng đt, s hu nhà tài sn gn lin với đất s DA 964147 ngày 27/4/2021,
s vào s cp GCN OH 00096 UBND thành ph H cp cho ông Ngô Đ
Giấy CNQSDĐ, sở hu nhà tài sn gn lin với đất s DL 508885 ngày
09/8/2023, s vào s cấp GCN VP 00448 VPĐK đất đai tỉnh Hải Dương cấp cho
bà Ngô Th T5 và Ngô Th T1.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị đơn bà L trình bày quan điểm:
Thứ nhất, B tránh công bố di chúc. Tôi khẳng định địa điểm lập di
chúc không phải tại văn phòng công chứng lập tại nhà, nên công chứng viên
không thể biết tình trạng sức khỏe của bố mẹ tôi và cũng không thể biết được ý
chí của bố mẹ tôi. Trong di chúc có ghi là công chứng viên có đọc cho bố mẹ tôi,
nhưng công chứng viên không đến nhà thì sao đọc được cho bố mẹ tôi nghe; Mẹ
tôi không biết chữ thì phải ít nhất 2 người làm chứng, nhưng trong di chúc
không có người làm chứng. Thứ hai, Tòa sơ thẩm nói bản di chúc là các cụ đánh
máy, tôi thấy là cực kỳ vô lý, lúc lập di chúc là bố mẹ tôi đều ngoài 80 tuổi và b
mẹ tôi không biết gì về máy tính nên không thể đánh máy để lập di chúc. Thứ ba,
Bố mtôi chỉ nói cho ông Đ nhà khi ông Đ đang quê nhưng từ khi ông Đ lên
Nội nhà riêng thì các cụ không đề cập đến việc đó nữa. Hồi còn sống bố
mẹ tôi tin tưởng tôi nhất, các cụ giao cả vàng sổ tiết kiệm cho tôi giữ nên không
chuyện các cụ lập di chúc tôi không biết. Thứ tư, trong đơn khởi kiện,
T5, T1 không yêu cầu chia thừa kế Tòa sơ thẩm lại bổ sung thêm yêu cầu
đó làm sai lệch vụ án. Tòa thẩm căn cứ vào lời khai của công chứng viên để
tuyên di chúc hợp pháp là không căn cứ bởi vì công chứng viên không đến tòa
tôi khẳng định công chứng viên không đến nhà tôi nên việc công chứng viên
khai như vậy không đúng. Bên cạnh đó, tại giai đoạn sơ thẩm tB khẳng
định do bố mẹ tôi chân đau nên công chứng viên đến nhà lập nhưng tại phiên tòa
hôm nay bà B lại thay đổi lời khai, vì vậy tôi thấy bà B đang khai sai sự thật.
Bị đơn anh H trình bày quan điểm:
13
Ông Đ và bà B đều rất minh mẫn, tuy nhiên lời khai của ông Đ và bà B tại
phúc thẩm sai khác với lời khai của ông tại thẩm. Lời khai của B m
nay bảo là không biết di chúc lập đâu và trả lời lòng vòng; tất cả biên bản làm
việc tại thẩm thì B đều xác nhận lập di chúc tại nhà nên sự mâu thuẫn này
tôi thấy có uẩn khúc. Và tôi khẳng định, di chúc của các cụ được công chứng tại
nhà sức khỏe của các cụ đều yếu nên không thể đến văn phòng công chứng.
B khai khi lập di chúc thì cầm lên cho ông Đ ngay nói địa
điểm ràng. Nhưng tại phúc thẩm ông Đ khai khi được công bố mới biết
sai sự thật nên qua lời khai của ông Đ B tôi thấy đang vấn đề đó
trong việc này thì ông bà mới thay đổi lời khai như vậy.
Luật sư Đoàn M2 trình bày quan điểm:
Căn cứ Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 vcông chứng, chứng
thực: Hồ công chứng thiếu phiếu công chứng, giấy tờ chứng minh tài sản,
không ai người yêu cầu công chứng di chúc, di chúc do công chứng viên
soạn thảo lời chứng của công chứng viên ghi địa điểm ng chứng không đúng.
Không chỉ định người làm chứng khi cụ Nguyễn Thị L2 không biết chữ. Khi thực
hiện công chứng, công chứng viên không xác định tình trạng sức khoẻ, khiếm
khuyết của người lập di chúc. Việc sử dụng lời khai của công chứng viên để khẳng
định ý chí của người lập di chúc là không liên quan và xung đột với xác nhận của
những người trong họ, bạn hàng xóm vtình trạng sức khoẻ của hai cụ Đạo
L3. Toà sơ thẩm căn cứ vào lời khai của T5, bà T1 có nghe các cụ nói khi còn
sống “giao nhà tài sản trên đất cho ông Đ” không chính xác tại phúc
thẩm hai bà T5 và T1 chỉ khai là biết việc này khi có di chúc. Bên cạnh đó, không
tài liệu nào thể hiện hai cụ Đ1, L3 là người yêu cầu công chứng di chúc. Ngoài
ra tại phiên toà hôm nay B khai người yêu cầu công chứng di chúc,
tuy nhiên căn cứ Điều 41 Nghị định 75/2000/NĐ-CP về công chứng, chứng thực
thì việc B yêu cầu không đúng. Theo biên bản làm việc, công chứng viên
khẳng định thực hiện tại phòng C2. Nhưng căn cứ lời khai của bà B tại giai đoạn
thẩm di chúc được lập tại nnên nội dung trình bày của công chứng viên
là không đúng sự thật.
Từ những phân tích trên, tôi khẳng định di chúc lập tại phòng C2 Hải
Dương ngày 09/6/2005 số công chứng 108, quyển số 12 không phải do hai cụ Đ1,
L3 yêu cầu công chứng, không phải do hai cụ tnguyện lập; công chứng viên
công chứng di chúc có nhiều vi phạm pháp luật về công chứng, không có tài liệu
do vẽ xác định hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất.
14
Bên cạnh đó, nếu trong trường hợp di chúc của hai cụ Đ1, L3 hợp pháp thì
số lượng tài sản ông Ngô Đ khai nhận khi khai nhận di sản không theo di
chúc căn cứ theo trích lục đo vẽ bổ sung bản đđịa chính ngày 23/12/2020
(diện tích được cấp là 158,3m2 trong đó là 120m2 đất ở và 38,3m2 đất trồng cây
lâu năm). Theo di chúc chỉ xác nhận ông Đ được hưởng toàn bộ ngôi nhà để ở,
các tài sản khác thì ông Đ không được định đoạt. Do vậy ông Ngô Đ không
được toàn quyền định đoạt 158,3m2 nên việc tặng cho bà T5, bà T1không hợp
pháp nên việc bị đơn yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà
T5, bà T1 là có căn cứ.
Nguyên đơn bà T5 trình bày quan điểm:
Tôi khẳng định di chúc của các cụ là hợp pháp và bà B có giao di chúc cho
L nhưng L không nhận đi. Các cụ thời điểm làm di chúc còn minh
mẫn và tôi cũng có nghe các c nói là như di chúc.
Nguyên đơn bà T1 trình bày quan điểm:
Tôi khẳng định di chúc của bố mẹ tôi là hoàn toàn chính xác, vì đó là ý chí
của của các cụ từ trước đến khi các cụ mất
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ trình bày quan điểm:
Tôi đồng quan điểm với bà T5 và bà T1 tôi cũng đã thực hiện đúng theo
di chúc của các c.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà B trình bày quan điểm:
Tôi khẳng định chi chúc của các cụ là hoàn toàn đúng. Tôi là người không
được lợi trong di chúc nên tôi rất khách quan khi di chúc tôi phô giao cho
các em thì bà L xé trước mặt tôi, không đồng ý nhận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
- V th tc t tng: Trong quá trình gii quyết v án và ti phiên tòa phúc
thm, Thm phán và Hội đồng xét x tuân theo đúng các quy định ca B lut T
tng dân sự. Các đương s v bản đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ ca
đương sự.
- V vic gii quyết v án
Xét kháng cáo ca b đơn là anh Trnh Vit H và bà Ngô Th L thy:
[1]. V t tụng: Người kháng cáo cho rằng Tòa án thẩm xác đnh yêu
cu khi kiện không chính xác, vượt quá phm vi khi kin
15
Tại đơn khởi kin các bn t khai của nguyên đơn, biên bn kim tra
vic giao np tiếp cn công khai chng cBiên bn hòa giải, nguyên đơn chỉ
u cầu Tòa án xác định bn di chúc lp ngày 09/6/2005 ca c Đ1 c L3
hợp pháp, xác định nguyên đơn là người có quyn s dng hợp pháp đối vi tha
đất s 77, t bản đồ s 15 diện tích 158,3m2 (trong đó có 120m2 đt và 38,3m2
đất trồng cây lâu năm) do UBND thành ph H cp ngày 09/8/2023. Tuy nhiên, ti
Bản án thẩm gii quyết c ni dung chia di sn tha kế ca c Đ1 c L3
theo di chúc, đề ngh công nhn Hợp đồng tng cho quyn s dụng đất và tài sn
gn lin với đất gia ông Đ và bà T5, bà T1 đưc lp ngày 15/7/2023 có hiu lc
pháp lut (nội dung này được nguyên đơn nêu trong biên bn ghi li khai ngày
27/01/2026, sau thời điểm tiếp cn công khai chng c hòa giải vượt quá
phm vi khi kiện ban đu). Xét vic gii quyết ca Tòa án mặc chưa đúng
quy đnh ca B lut T tng dân s nhưng việc gii quyết các yêu cu nàycn
thiết đm bo cho vic gii quyết v án được toàn din triệt để. Do đó, đ
ngh không chp nhn ni dung kháng cáo này.
[2]. V ni dung
* Người kháng cáo cho rng Bản án thẩm công nhn di chúc hp pháp
theo yêu cu khi kin của nguyên đơn là không phù hp vi thc tế khách quan
và pháp lut.
V di sn tha kế: Diện tích đất 158,3m2 trong đó có 120m2 đất , 38,3m2
đất trồng cây lâu năm và các tài sản trên đất, ti thửa đất s 77, t bản đồ s 15 ti
s B Đ, phường L, thành ph H (nay là phường L, thành ph Hi Phòng) đã được
UBND thành ph H, tnh Hải Dương cấp GCN mang tên người s dụng đất là c
Nguyn Th L2 c Ngô Đ1 các tài sản trên đất các đương s đang
tranh chp là tài sn chung ca c Đ1 và c L2.
V hình thc bn di chúc do c Ngô Bá Đ1 và c nguyn Th L2 lp ngày
09/6/2005 có chng thc ti Phòng C2 tnh Hải Dương: Di chúc của hai c văn
bn công chứng được lp ti Phòng C2. Di chúc được lp tuân th v hình thc
văn bản, nội dung theo quy định tại Điều 649, 650, 655, 656, 661 ca B lut Dân
s năm 1995 (nay Điều 627, 628, 636 ca BLDS năm 2015). L người
bo v quyn và li ích hp pháp cho L, anh H cho rng sc khe ca các c
yếu và không minh mẫn, địa điểm lập di chúc không đúng. Tuy nhiên, căn c li
khai ca ông Phạm Văn V1 Công chng viên xác nhn: bn di chúc ghi này là
do c Đ2 và c L2 lp, hai c đều khẳng định ni dung bn di chúc là hoàn toàn
t nguyn, không b ai ép buộc, lúc đó các cụ hoàn toàn minh mn, tnh táo,
nguyn vng ca hai c nói đều phù hp vi ni dung bản di chúc nên ông đã
16
chng thực và di chúc được lp ti tr s Phòng C2. Ngoài ra anh H và bà L cho
rằng di chúc không có người làm chng trong khi c L2 không biết ch là không
đảm bo, tuy c L2 không biết ch nhưng có thể đọc nghe và hiểu được ni dung
ca di chúc, mt khác khi lp di chúc ti Phòng C2 còn có s tham gia ca c Đ1
nên mặc không ngưi làm chứng nhưng vẫn đm bo tính khách quan.
Người kháng cáo cho rng thời đim lp di chúc c Đ1 b ngã, phi m đóng đinh
phi nm mt ch nhưng không tài liệu chng minh; anh H cho rng ch
ca c Đ1 là không đúng nhưng không cung cp mẫu so sánh đ thc hin giám
định ch nên không căn c để xác định ch trong di chúc không phi
ch ca c Đ1. T đó cho thấy, di chúc ca c L2 c Đ1 đáp ứng đủ điu
kin ti khoản 1 Điều 630 của BLDS năm 2015: người lp di chúc minh mn,
sáng sut, không b la dối, đe dọa, cưỡng ép; ni dung ca di chúc không vi
phạm điều cm ca lut, không trái đạo đức hi nên phát sinh hiu lc k t
thời điểm m tha kế. Do đó, bị đơn kháng cáo yêu cầu tuyên b di chúc ca c
Đ1 và c L2hiu và hy GCNQSDĐ cấp cho ông Ngô Bá Đ là không có căn
c.
* Người kháng cáo yêu cu hủy GCNQSDĐ cấp cho ông Đ, bà T1, bà T5
V công nhn hiu lc ca hợp đồng tng cho gia ông Ngô Đ
Ngô Th T5, Ngô Phương T10: Hợp đồng tng cho gia ông ĐT5, T10
đưc lập theo đúng trình t, th tc ca pháp lut v đất đai và các quy định pháp
luật khác liên quan, đm bo ni dung hình thức quy định tại Điều 502, 503
B lut Dân s năm 2015, đã được Văn phòng C1, công chng s
1598/2023/HĐTC, quyển s 01-TP-SCC/HĐGĐ ngày 15/7/2023; đến ngày
09/8/2023, T5 T10 đưc Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ3 cp
GCNQSDĐ quyền s hu nhà tài sn khác gn lin với đất s vào s cp
GCN: VP-00448 nên phát sinh hiu lc.
Do đó, nội dung kháng cáo yêu cu hủy GCNQSDĐ cp cho ông Ngô
Đ, bà Ngô Th T1 và Ngô Th T5 là không có căn cứ.
T phân tích trên, đề ngh HĐXX:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS;
- Căn cứ Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca y
ban thường v Quc hi;
Đề ngh Hội đồng xét x cp phúc thm: Không chp nhn toàn b kháng
cáo ca b đơn Ngô Th L và anh Trnh Vit H, gi nguyên bn án dân s
17
thm s 04/2025/DS-ST ngày 09/02/2026 ca Tòa án ND khu vc 8, thành ph
Hi Phòng.
V án phí dân s phúc thm: Bà L đưc min án phí, anh Trnh Vit H phi
chịu án phí theo quy định ca pháp lut.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Về thủ tục kháng cáo: Ngô Thị L anh Trịnh Việt H bị đơn kháng
cáo toàn bộ Bản án dân sự thẩm số 04/2026/DS-ST ngày 09/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng, thành phố Hải Phòng; đề nghị Sửa bản án
thẩm và không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Việc kháng cáo của
các bị đơn đúng thủ tục, trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các
điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đơn kháng cáo của L anh H hợp
pháp, được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
Tại đơn khởi kin các bn t khai của nguyên đơn, biên bn kim tra
vic giao np tiếp cn công khai chng c và Biên bn hòa giải, nguyên đơn yêu
cầu Tòa án xác định bn di chúc lp ngày 09/6/2005 ca c Đ1 c L2 hp
pháp, xác định nguyên đơn là ngưi có quyn s dng hợp pháp đối vi thửa đất
s 77, t bản đồ s 15 din tích 158,3m
2
(trong đó có 120m
2
đt 38,3m
2
đt
trồng cây lâu năm) do UBND thành ph H cp ngày 09/8/2023.
Xét ni dung khi kin là yêu cu công nhn toàn b di sn ca các c đ
li nên Toà án cấp thẩm xem xét v di chúc, giảỉ quyết vic phân chia di sn
các nội dung liên quan đến ni dung di chúc và di sn cn thiết nhm đảm
bảo cho vic gii quyết v án đưc toàn din và triệt để, đảm bảo quyền, nghĩa vụ
của các đương sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của các bị đơn bà Ngô Thị Lanh Trịnh Việt
H:
Ngày 09/6/2005 cụ Ngô Đ1, cụ Nguyễn Thị L2 lập bản di chúc chung
định đoạt di sản của hai cụ. Di chúc của cụ L2, cụ Đ1 bằng văn bản và cụ Đ1
xác nhận, cụ L2 điểm chphần người lập di chúc chứng thực của công chứng
viên thẩm quyền của Phòng C2 tnh Hải Dương. Công chứng viên xác định:
bn di chúc ghi nàydo c Đ1 và c L2 lp, hai c đều khẳng định ni dung bn
di chúc hoàn toàn t nguyn, không b ai ép buộc, lúc đó các cụ hoàn toàn minh
mn, tnh táo, nguyn vng ca hai c nói đều phù hp vi ni dung bn di chúc
nên ông đã chứng thc.Các bà B, T1 và bà T5 đều xác nhận: nội dung di chúc
18
đúng ý chí của các cụ khi còn sống, L xác định “có nghe các cụ nói vì ông Đ
là con trai duy nhất nên sẽ tặng cho diện tích đất nhà của hai cụ cho ông Đ”.
L và người bảo vệ quyền lợi của bà L cho rằng sức khỏe của bố mẹ bà
yếu không minh mẫn, địa điểm lập di chúc không đúng, không người làm
chứng khi cụ L2 không biết chữ. Tuy nhiên những các tài liệu chứng cứ của bị
đơn không đủ căn cứ chứng minh khi lập di chúc các cụ không minh mẫn, sáng
suốt. Cụ L2 không đọc được nhưng đủ năng lực trách nhiệm dân sự, nghe
hiểu nội dung của bản di chúc, đã đồng ý và điểm chvào bản di chúc, bên cạnh
đó cụ Đ1 người biết chữ và cụ Đ1 cũng đồng ý với nội dung của bản di chúc
bằng việc ký vào bản di chúc trước mặt Công chứng viên. Lời khai của bà T1, bà
T5, H6, B L thì nội dung bản di chúc thể hiện đúng ý chí của các cụ
khi các cụ còn sống. Như vậy xét thy c L2 và c Đ1 lp di chúc khi minh mn,
sáng sut, không b la dối, đe dọa, cưỡng ép; ni dung ca di chúc không vi
phạm điều cm ca luật, không trái đạo đức xã hi, hình thc di chúc không trái
quy định ca pháp lut nên di chúc hp pháp.
Do đó Toà án cấp thẩm căn cứ vào các quy định của pháp luật công
nhận di chúc của 2 cụ Ngô Đ1, cụ Nguyễn Thị L2 lập ngày ngày 09/6/2005
hợp pháp là có căn cứ.
Theo nội dung di chúc “…Nếu anh Ngô Đ không thì ông Đ toàn
quyền định đoạt ngôi nhà này và anh Đ được hưởng 70% giá trị nhà đất,
Chị Ngô Thị T5T1 mỗi người được hưởng 10% giá trị nđất, 10% giá
trị nhà đất còn lại sẽ chia đều cho tất cả các cháu nội, ngoại…..
Do ông Đ không có nhu cầu ở nên ông Đ đã trích 10% giá trị nhà đất chia
đều cho tất cả các cháu nội, ngoại, trả phần di sản cho T1, T5 tặng toàn
bộ phần di sản được hưởng cho T1, T5 đúng nội dung di chúc. Việc tặng cho
giữa ông Đ với bà T1, T5 đúng ý chí ca các bên và không trái pháp luật nên
Toà án cấp sơ thẩm công nhận việc tặng cho giữa các bên là có căn cứ.
Việc chia di sản cho các cháu nội ngoại đã được ông Đ thực hiện theo di
chúc 11/13 cháu đã nhận giá trị phần di sản được chia đến nay không ai có yêu
cầu thêm,chỉ còn anh H anh T11 không nhận nên Toà án cấp thẩm sau
khi định giá di sản và buộc ông Đ trả bằng tiền tương ứng với giá trị di sản cho 2
anh H, T11 là phù hợp.
Theo nội dung di chúc thì di sản của các cụ được xác định nhà đất theo
Giấy chứng nhận tạm thời nhà đất số 246/NĐ-XD do UBND thị H cấp ngày
11/7/1987. Căn cứ Giấy chứng nhận tạm thời nhà đất s246/NĐ-XD do UBND
19
thị xã H cấp ngày 11/7/1987 phần diện tích của cụ Đ1 và cụ L2 được cấp 120m
2
đất thổ cư. Nên phần di sản của cụ Đ1 cụ L2 để lại theo di chúc chỉ 120m
2
đất thổ cư, nhà ở và các tài sản khác trên 120m
2
đất thổ cư tại số B Đ, phường L,
thành phố Hải Phòng.
Căn cứ Biên bản xác minh ngày 29/12/2025 tại Ủy ban nhân dân phường
L, thành phố Hải Phòng cho thấy ngun gốc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 15, diện
tích 158,3m
2
của cụ Đ1 cụ L2 địa chỉ thửa đất số 25 Đ, phường L, thành ph
Hải Phòng gồm 120m
2
đất thổ cư và 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm trong đó phần
diện tích 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm là do cụ Đ1 cụ L2 trong quá trình sử
dụng đã lấn chiếm đất lưu không phù hợp với quy hoạch nên đã được Ủy ban nhân
dân thành phố H cấp GCNQSDĐ ngày 15/01/2007. Như vậy diện tích 38,3m
2
đất
trồng cây lâu năm phần di sản phát sinh chưa được định đoạt chia trong di chúc.
Toà án cấp sơ thẩm buộc ông Đ trả phần giá trị di sản cho các cháu tính cả
phần diện tích này chưa đúng. Tuy nhiên tại phiên toà phúc thẩm, ông Đ đề
nghị được giữ nguyên số tiền phải trả theo bản án sớ thẩm đã tuyên. Xét đề nghị
của ông Đ tnguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp
nhận. Ông Đ trách nhiệm trả gtrị phần di sản cho anh Trịnh Việt H, anh
Trịnh Việt T11, mỗi người số tiền 61.135.410 đồng như bản án thẩm đã
tuyên.
Đối với phần diện tích 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm phần di sản phát
sinh chưa được định đoạt trong di chúc nên được chia theo pháp luật để đảm bảo
quyền lợi của các đương sự. Phần di sản này sẽ được chia đều cho những người
được hưởng thừa kế của 2 cụông Đ, bà T1, bà T5, bà B, bà L, bà H6. Căn cứ
vào kết quả giám định tài sản thể hiện 38,3m2 đất trồng y lâu năm trị giá
3.638.500 đồng. Do đó ông Đ, T1, T5, B, L, H6 mỗi người được
hưởng phần giá trị di sản 3.638.500 đồng/6 = 606.417 đồng (làm tròn). Tuy
nhiên ông Đ và bà B đều tự nguyện tặng cho phần di sản được chia cho bà T1
T5 nên 2 bà được hưởng thêm 2 suất kỷ phần di sản này.
Xét thấy phần diện tích 38,3m
2
đất trồng cây lâu năm không đủ điều kiện
để tách thửa theo quy định phần diện tích đất này nằm trong thửa đất di sn
cùng với phần diện tích đất mà bà T1, bà T5 được ông Đức T6 cho nên cần giao
cho 2 T1 T5 được nhận bằng hiện vật diện tích 38,3m
2
hai T1,
T5 trách nhiệm trả cho các đồng thừa kế khác bằng tiền tương ứng với giá trị
phần di sản họ được nhận.
Như vậy, bà T5 T1 được giao quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích đất
di sản của các cụ để lại là 158,3m
2
gồm 120m
2
thổ cư và 38,3m
2
đất trồng cây lâu
20
năm và tài sản trên đất ti thửa đất số 77, tờ bản đồ số 15, địa chỉ số B Đ, phường
L, thành phố Hải Phòng đúng với nội dung giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DL 508885 ngày 09/8/2023,
số vào sổ cấp GCN VP 00448 do Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ3 cấp ngày
27/4/2021 cho Ngô Thị T1 Ngô Phương T do đó cần giữ nguyên giấy chứng
nhận này. Đối với giá trị pháp lý của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số DA 964147 ngày 27/4/2021, số
vào sổ cấp GCN CH 00096 do UBND thành phố H cấp ngày 27/4/2021 cho ông
Ngô Đ đã được thay thế bởi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số DL 508885 ngày 09/8/2023, số vào sổ
cấp GCN VP 00448 do Văn phòng đăng đất đai tỉnh Đ3 cấp ngày 27/4/2021
cho bà Ngô Thị T1Ngô Phương T nên không cần thiết phải xem xét xử lý đối
với giấy chứng nhận này.
[3] Về án phí sơ thẩm: Toà án nhân dân khu vực 8 Hải Phòng tuyên: Anh
Trịnh Việt H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí, ông Ngô Đ phải chịu
6.114.000 đồng căn cứ. Đối với các L, H6, T1, T được nhận
phần di sản theo pháp luật, xét các bà là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí
nên được miễn án phí theo quy định.
[4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng
cáo của bị đơn bà ngô Thị L và anh Trịnh Việt H; sửa một phần bản án sơ thẩm.
[5] Các nội dung khác không kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét
xử phúc thẩm không xem xét.
[6] Về án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của L anh H được
chấp nhận một phần nên L anh H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 313 Bộ luật
Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 92, khoản 1 Điều 146, Điều 147 khoản 2 Điều 227; Điều
228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 650- 653; Điều 655; Điều 656; Điều 660; Điều 661; Điều 738;
Điều 739 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 502; Điều 503 Bộ luật dân sự 2015;
khoản 1 Điều 106 Luật đất đai năm 2003; các điều 26, 37, 39, 147, 165; khoản 1
Điều 228 của B luật Tố tụng dân sự;
21
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chp nhn mt phn kháng cáo ca bà Ngô Th L và ông Trnh Vit H:
Sa bn án dân s thẩm s 04/2026/DS-ST ngày 09/2/2026 ca Tòa án
nhân dân khu vc 8 Hi Phòng.
1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Phương T, bà Ngô Thị T1
- Tuyên bố bản di chúc của cụ Ngô Đ1, cụ Nguyễn Thị L2 lập ngày
09/6/2005 tại phòng C2 tỉnh Hải Dương hợp pháp. Ông Ngô Bá Đ được hưởng
thừa kế theo di chúc của cụ Ngô Đ1 và cụ Nguyễn Thị L2 là diện ch đất
120m2 đất ở tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 19 địa chỉ: Số B Đ, phường L, thành
phố Hải Phòng.
Ngô Phương TNgô Thị T1 người có quyền sử dụng hợp pháp
diện tích 158,3m2, trong đó có 120m2 đất ở và 38,3m2 đất trồng cây lâu năm tại
thửa đất số 77 tờ bản đồ số 15 và các tài sản trên đất; địa chỉ: Số B Đ, phường L,
thành phố Hải Phòng.
- Công nhận giấy chứng nhận quyền sdụng đất, quyền sở hữu nhà tài
sản khác gắn liền với đất số DL 508885 ngày 09/8/2023, số vào sổ cấp GCN VP
00448 do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ3 cấp ngày 27/4/2021 cho bà Ngô Thị
T1Ngô Phương T là hợp pháp.
- Xử buộc ông Ngô Đ phải trả cho anh Trịnh Việt H, sinh năm 1992; địa
chỉ: Số F ngõ B N, phường P, Thành phố Hà Nội; anh Trịnh Việt T11, sinh năm
1985; địa chỉ: Số G ngõ B N, phường P, thành phố Nội mỗi người số tiền
61.135.410 đồng;
X buộc Ngô Phương T Ngô Thị T1 liên đới trả cho Ngô Thị
H3; bà Ngô Thị L mỗi người 606.417 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải
thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự
năm 2015.
2. V án phí:
V án phí dân s thẩm: Anh Trnh Vit H phi chịu 300.000 đồng
tin án phí, ông Ngô Bá Đ phi chịu 6.114.000 đồng (làm tròn)
22
V án phí dân s phúc thm: Ngô Th L, anh Trnh Vit H không phi
chu án phí dân s phúc thm. Anh Trnh Vit H đưc hoàn li s tin tm ng án
phí dân s phúc thẩm 300.000 (ba tm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu
tin s 0001976 ngày 12 tháng 02 năm 2026 ca Thi hành án dân s thành ph
Hi Phòng.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut
thi hành án dân s thì người được thi hành, người phi thi hành án có quyn tha
thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng
chế thi hành án theo quy đnh tại các điều 6, 7, 7a và 9 Lut thi hành án dân s;
thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành án
dân s.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND khu vực 8 – Hải Phòng;
- VKSND khu vực 8 – Hải Phòng;
- Phòng THADS khu vực 8 – Hải
Phòng;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Phạm Văn Hợp
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut
thi hành án dân s thì người được thi hành, người phi thi hành án có quyn tha
thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b ng
chế thi hành án theo quy đnh tại các điều 6, 7, 7a và 9 Lut thi hành án dân s;
thi hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut thi hành án
dân s.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT X
CÁC THM PHÁN
Lưu Văn Tỉnh Bùi Thị Thu Hằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 210/2026/DS-PT Bản án số 210/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất